Thứ Bảy, 24 tháng 10, 2015

Công dụng chữa bệnh hiệu quả bất ngờ của mật ong

Với đặc tính sát trùng, tiêu diệt vi khuẩn tự nhiên, mật ong đã được sử dụng rất nhiều trong các phương thuốc, bài thuốc cổ xưa lẫn hiện đại để trị các bệnh đơn giản tại gia. Kết hợp mật ong với các loại thảo dược, hoa quả và thực phẩm khác có thể giúp tăng khả năng làm lành vết thương, chữa bệnh rõ rệt.

Hàm lượng đường cao sẽ khiến cho vi khuẩn chết khô, ngoài ra, nó còn đẩy nhanh sự phát triển của các mô bên trong cơ thể, hình thành các mạch máu mới, tế bào collagen và tế bào biểu mô. Trộn mật ong chung với các loại thảo dược, hoa quả và thực phẩm khác có thể giúp tăng khả năng làm lành vết thương, chữa bệnh. Có vô số cách để sử dụng mật ong làm các bài thuốc tại gia, nhưng dưới đây là những cách phổ biến nhất:

1. Siro chanh đào mật ong: Giúp chữ cúm và đau họng

Hỗn hợp tuyệt vời của mật ong, gừng và chanh đào sẽ giúp giảm ho, đau họng cực kỳ hiệu quả. Gừng và một số loại thảo dược khác có thể giúp giảm triệu chứng viêm nhiễm của cổ họng, trong khi mật ong làm dịu và loại bỏ vi khuẩn. Bạn có thể pha thêm với nước trà để tăng hiệu quả sát khuẩn, chống sưng, giảm viêm của hỗn hợp này, đặc biệt công dụng khi uống ấm/nóng.

2. Mật ong - chanh tươi: trị cảm

Tất cả những gì bạn cần là một cốc mật ong, một thìa vỏ chanh xắt nhỏ, 2 lát chanh tươi vắt lấy nước.

Cách làm: Hãy đổ cốc mật ong vào chảo, thêm thìa vỏ chanh tươi mới xắt nhỏ vào, vắt hai lát chanh để tăng hương vị (nếu thích). Đun nóng hỗn hợp trong khoảng 10 phút, nhưng nhớ là để nhiệt độ ở mức tương đối thấp. Sau đó, để nguội trong 1-2 tiếng rồi cho vào lọ thủy tinh bảo quản. Bạn có thể sử dụng hỗn hợp này trong vòng 1-2 tuần, với điều kiện bình được đậy nắp chặt.

Đây là công thức cổ xưa để làm dịu cơn sốt và các triệu chứng thường đi kèm với cảm lạnh thông thường.

3. Mật ong - Quế: cải thiện sức khỏe toàn diện

Đây là phương thuốc tăng cường sức khỏe một cách tự nhiên, bởi cùng với nhau, quế và mật ong có thể chống lại sự căng thẳng quá sức cũng như bệnh tim mạch rất hiệu quả. Ngoài ra, mật ong quế còn có tác dụng giảm cân.

4. Mật ong - gừng: Chống đau dạ dày

Gừng có tác dụng giảm viêm nhiễm tương tự như các loại thuộc chống viêm NSAIDs trong y học. Ngoài ra, nó còn kích thích lưu thông khí huyết. Kết hợp gừng với mật ong sẽ tạo thành hỗn hợp lý tưởng để làm dịu dạ dày.

5. Ngũ vị hương - mật ong: Chữa đau răng

Công thức này sử dụng ngũ vị hương vì trong ngũ vị hương có chứa một hóa chất gây mê, giảm đau rất mạnh là Eugenol. Eugenol cũng có tác dụng kháng khuẩn giống như mật ong, tuy nhiên, ngũ vị hương đã được khoa học chứng minh là chứa hàm lượng eugenol cao hơn 20 lần so với các loại thực phẩm/gia vị khác.

6. Mật ong và dấm táo: Chữa trào ngược axit dạ dày

Một sự kết hợp bất ngờ giữa mật ong và dấm táo sẽ có tác dụng ngăn chặn hiện tượng trào ngược axit dạ dày, nhất là khi dấm táo đã được chứng minh là cải thiện tiêu hóa, hấp thụ khoáng chất. Hãy uống hỗn hợp này hàng ngày đều điều hòa và phòng ngừa bệnh.

7. Mật ong, sữa, cam: Chữa gót chân khô, nứt nẻ

Một công thức kết hợp 3 thành phần nói trên sẽ giúp bạn nói lời tạm biệt với gót chân khô, nứt. Sữa rất giàu vitamin A, một chất cơ bản cho làn da khỏe mạnh nhờ khả năng khôi phục và tái tạo. Cam lại là chất tẩy da chết hóa học tự nhiên giúp loại bỏ vùng da khô, còn mật ong vừa kháng viêm, vừa có tác dụng dưỡng ẩm hiệu quả.

8. Mật ong và đường nâu: Hỗn hộp tẩy da chết cho da khô

Đường nâu là chất lý tưởng để loại bỏ lớp da khô, chết. Hãy trộn đường nâu với mật ong để tạo thành hỗn hợp tẩy da chết dưỡng ẩm tự nhiên tuyệt vời cho làn da của bạn.

9. Mặt nạ mật ong - sữa chua: Chữa mụn

Rất giàu lợi khuẩn, sữa chua có thể giúp giảm viêm nhiễm và khôi phục độ pH tự nhiên của da. Trộn chung sữa chua với mật ong sẽ giúp tăng khả năng kháng khuẩn lên gấp đôi để trị mụn hiệu quả.

10. Mật ong và nước dừa: Giúp giảm đau cơ

Dầu dừa có chứa nhiều electrotyles có thể giúp giảm hiện tượng mất nước - nguyên nhân chính gây đau, mỏi cơ. Thức uống này còn chứa quất và mật ong để tăng cường năng lượng cho cơ thể.

11. Mật ong và chanh: Giảm cân

Một công thức đơn giản kết hợp mật ong, nước ấm và chanh. Một số nghiên cứu gần đây đã đi đến kết luận rằng mật ong có thể hỗ trợ giảm cân và chanh cũng vậy.

12. Mật ong và dấm táo: Trị Cholesterol trong máu cao

Để chống béo phì, huyết áp cao, hàm lượng cholesterol trong máu cao, hãy uống một cốc nước nóng pha thêm 1 thìa cà phê mật ong cùng 5-10 giọt dấm táo mỗi sáng sớm hàng ngày. Các văn tự cổ xưa cho biết mật ong sẽ giúp loại bỏ các tế bào mỡ và cholesterol ra khỏi các mô của cơ thể.

13. Mật ong và Guggul: Chữa thấp khớp

Cây guggul là một loại thảo dược bản địa Ấn Độ được cho là có tác dụng rõ rệt trong việc giảm cholesterol trong máu, đồng thời có chứa nhiều loại enzyme có thể làm giảm triệu chứng của đau khớp. Khi kết hợp cây guggul với mật ong, bạn sẽ tăng được công dụng kháng viêm, giảm đau hơn nữa.

14. Mật ong và tinh bột nghệ: Chữa nhiệt miệng

Đặc trưng diệt khuẩn và kháng khuẩn của mật ong có thể đẩy nhanh quá trình lành lại của các vết loét, nhiệt miệng. Hãy trộn chung mật ong với tinh bột nghệ rồi bôi vào vết loét 3 lần/ngày.

15. Mật ong và nước gừng: chữa viêm xoang

Hãy pha 1 thìa cà phê nước gừng tươi với mật ong và uống 2-3 lần/ngày để làm giảm các triệu chứng của viêm xoang, viêm mũi.

16. Mật ong và nước cam: Chữa căng thẳng

Các nghiên cứu đã chứng minh, cam có tác dụng điều hòa tâm lý, giảm căng thẳng, lo lắng, kiệt sức. Khi pha thêm mật ong với nước cam tươi, bạn sẽ ngay lập tức cảm thấy khoan khoái, dễ chịu hơn sau khi uống. Tinh dầu cam quýt cũng có tác dụng tăng khả năng tập trung và sự tỉnh táo cho cơ thể.

17. Mật ong và dứa: Giúp cai thuốc lá

Dứa có hàm lượng vitamin C rất cao, trong khi những người hay hút thuốc thường bị thiếu vitamin này. Việc ăn dứa rồi sau đó uống thêm mật ong trước khi hút thuốc cũng có tác dụng làm mất vị thuốc, giảm cơn thèm thuốc lá.

18. Mật ong, lá thơm (nguyệt quế) và hạt cần tây: trị đau bụng

Hỗn hợp gồm lá thơm, hạt cần tây xay nhuyễn/băm nhuyễn với mật ong - dùng trước bữa trưa và bữa tối hàng ngày sẽ giúp hỗ trợ điều trị các cơn đau bụng, đau dạ dày, đau thắt cơ bụng.

19. Mật ong, quế và trikatu: giúp tăng tuần hoàn máu

Trikatu là thảo dược có công dụng điều trị chứng khó tiêu, điều hòa khí huyết lưu thông, do đó, chỉ cần một thìa trà hỗn hợp này cũng giúp tăng cường tuần hoàn máu cho cơ thể.

20. Mật ong và quế: chữa chàm eczema

Các nhà khoa học đã phát hiện thấy mật ong không chỉ chữa lành các vùng da bị tổn thương trong những ca bệnh chàm nặng và loại bỏ vùng da khô chết, mà nó còn có thể tái tạo da mới mọc lên. Công thức này còn bổ sung thêm quế để tăng cường khả năng làm lành vết thương.

Cách điều trị: Bôi mật ong và bột quế (tỷ lệ bằng nhau) lên vùng da bị thương. Sau đó vắt nửa quả chanh và trộn chung với một thìa cà phê mật ong trong một cốc nước ấm. Hãy uống cốc này vào sáng sớm, trước khi ăn/uống bất cứ thứ gì khác trong vài tuần, hoặc cho đến khi các triệu chứng tổn thương của da đã hết.

Ngoài ra, trộn 2 thìa súp dấm táo với 1 thìa cà phê mật ong vào một cốc nước và uống đều đặn 3 lần/ngày, kèm theo bữa ăn.

21. Mật ong, hạt methi, gừng: chữa hen suyễn

Đây là một công thức y học Ấn Độ cổ đại, sử dụng kết hợp hạt methi với gừng và mật ong. Nếu như mật ong tốt cho khí quản, gừng có đặc tính chống viêm, giảm đau thì hạt methi có thể hỗ trợ điều trị các vấn đề liên quan đến đường thở như suyễn, viêm phổi.

22. Nước súc miệng quế tự làm: Chữa hôi miệng

Một công thức kết hợp mật ong, quế, nước chanh và baking soda để tạo thành loại nước súc miệng tự nhiên, kháng khuẩn cực tốt. Khác với bạc hà, vốn chỉ tạm xua đi hơi thở hôi, quế có thể thực sự tiêu diệt vi khuẩn gây hôi miệng. Hiệp hội Nha sĩ Quốc tế nhận thấy những người nhai kẹo cao su quế sẽ giảm được lượng vi khuẩn miệng nhiều hơn 50% so với những người chỉ nhai kẹo cao su bạc hà.

Bạn sẽ cần tới 2 quả chanh, 1/2 thìa súp quế, 1/2 thìa cà phê baking soda, 1,5 thìa cà phê mật ong, 1 cốc nước ấm, 1 chai thủy tinh có nắp kín. Cách làm như sau: Hãy cho 1/2 thìa súp quế vào lọ, sau đó thêm nước của 2 quả chanh vừa vắt cùng 1,5 thìa mật ong vào. Nếu muốn, bạn có thể thêm 1/2-1 thìa baking soda. Đổ thêm 1 cốc nước rất ấm vào (để làm tan chảy mật ong), sau đó khuấy đều. Khi cần phải làm sạch hơi thở, bạn hãy lắc đều lọ rồi ngậm 1-2 thìa hỗn hợp trong vòng 1 phút.

23. Mặt nạ mật ong: Điều trị tóc dầu

Mặt nạ này gồm có lòng đỏ trứng, vốn rất giàu protein, và mật ong để nuôi dưỡng, tái tạo nang tóc. Chân tóc sẽ khỏe hơn, tiết ít dầu hơn nếu như bạn sử dụng loại mặt nạ này đều đặn (tuần 1 lần).

Tất cả những gì bạn cần là 1 lòng đỏ trứng và hai thìa súp mật ong trộn đều với nhau. Đầu tiên, hãy gội sạch đầu rồi thoa mặt nạ lên tóc ẩm, lưu ý thoa thật đều lên cả phần chân tóc. Để như vậy trong vòng 15 phút trước khi xả bằng nước sạch.

Thứ Bảy, 10 tháng 10, 2015

Quy tắc dạy con của người Nhật

1. Người Nhật luôn quan niệm

Rằng học giỏi, thông minh

Không bằng nhân cách tốt,

Trung thực và có tình.

2. Môi trường sống và học

Rất quan trọng – vì con,

Người Nhật luôn cố gắng

Dọn đến chỗ tốt hơn.

3. Họ thương con, hẳn thế,

Nhưng quyết không nuông chiều.

Biếng ăn thì cứ nhịn.

Muốn kêu thì cứ kêu.

Vì không biết tuyệt thực,

Đói, trẻ con sẽ ăn.

Tuyệt đối không bắt ép,

Không quát mắng, cằn nhằn.

Ăn là việc nghiêm túc.

Ngồi ghế, phải rửa tay.

Không bạ đâu ăn đấy,

Phải đúng giờ trong ngày.

4. Với con phải tôn trọng,

Tế nhị và thông minh.

Phải cho con tự quyết

Các “vấn đề” của mình.

5. Phải dạy con trung thực

Bằng cách chính mẹ cha

Không bao giờ nói dối,

Ngoài đời và trong nhà.

6. Con làm việc gì đấy,

Không ảnh hưởng người nào,

Vô hại, không nguy hiểm,

Thì kệ, đừng xen vào.

7. Khi con lên năm tuổi,

Hãy dạy cách tiêu tiền.

Hàng tuần cho tiền lẻ.

Có kiểm soát, tất nhiên.

8. Phải dạy con dũng cảm

Chịu trách nhiệm của mình.

Dạy con biết chờ đợi,

Dạy về nghĩa, về tình.

Phải dạy con: Cuộc sống

Cho và nhận hai chiều.

Và rằng người hạnh phúc

Thường nhận ít, cho nhiều.

Phải dạy: Ở trường học

Luôn ăn nói ôn tồn.

Không được đánh ai trước,

Nhưng người nào đánh con,

Thì phải cố đánh lại,

Không mách cô, kêu la.

Lúc về, nếu không muốn,

Không kể với cả nhà.

9. Phải dạy để con hiểu

Thất bại là bình thường.

Ngã thì tự đứng dậy,

Không chờ người ta thương.

10. Trẻ con hay ốm vặt.

Không đáng lo việc này.

Không đáng lo cả việc

Con chang nắng suốt ngày.

Cứ để chúng thoải mái

Tiếp xúc với thiên nhiên.

Nhờ thế chúng cứng cáp,

Dạn dày khi lớn lên.

11. Học không cứ nhất thiết

Cầm cuốn sách ê a.

Học là chơi, là nghịch,

Là la hét váng nhà.

Tạo cho chúng cơ hội

Tự khám phá bản thân,

Rồi khám phá thế giới.

Điều ấy rất, rất cần.

12. Về phần mình, bố mẹ

Phải bảo đảm hàng ngày

Chơi với con, dù bận,

Các trò chơi thơ ngây.

Mục đích các trò ấy

Là làm cho con cười.

Tiếng cười rất quan trọng,

Giúp đứng vứng trong đời…

(Thầy Thái Bá Tân)

Thứ Hai, 13 tháng 10, 2014

Không sợ viêm xoang mùa trở gió

Các bác sĩ khuyên rằng, thời điểm giao mùa hoặc mưa nắng thất thường, viêm xoang và viêm mũi dị ứng rất dễ nảy sinh, thậm chí có nguy cơ tái diễn nhiều lần. Người bệnh nên chọn sẵn phương án hỗ trợ cho mũi khỏe suốt mùa trở gió.

Vị thuốc quý cho bệnh xoang
Từ xa xưa, Thương Nhĩ Tử đã được sử dụng như một vị thuốc quý trong các bài thuốc gia truyền nổi tiếng chủ trị bệnh viêm xoang, viêm mũi dị ứng. Nhiều trong số các bài thuốc này vẫn còn được lưu truyền cho tới ngày nay và được phát triển thành các phương thuốc chữa xoang hiệu quả.

Thương Nhĩ Tử là bộ phận quả đã được phơi hoặc sấy khô của cây Thương Nhĩ. Thương Nhĩ hay còn gọi là Ké Đầu Ngựa, Phắc Ma, Mác Nháng, có tên khoa học là Xanthium strumarium L., thuộc họ Cúc (Asteraceae).

Đây là loài cây thảo, cao từ 50-80cm, ít phân cành. Lá mọc so le, hình tim - tam giác, mép khía răng không đều, có lông cứng và ngắn ở hai mặt. Quả bế đôi, hình trứng, có hai sừng nhọn ở đầu và phủ đầy gai góc, để dùng làm thuốc phải chọn quả già chắc, có màu vàng sẫm, có gai, trong có hai hạt, có dầu, không sâu mốc và vụn nát.






Theo Đông y, Thương Nhĩ Tử có vị ngọt nhạt, hơi đắng, tính ấm, có tác dụng tiêu độc, chống viêm, sát trùng, kháng khuẩn, tán phong, trừ thấp, chống dị ứng, giảm đau, chủ trị phong hàn đau đầu, phong tê thấp, tắc ngạt mũi, cảm lạnh, viêm xoang mũi dị ứng xuất tiết, tỵ uyên (chảy nước mũi hôi).

Y học hiện đại cũng chứng minh: quả Thương Nhĩ Tử chứa nhiều sesquiterpen lacton, vitamin C và glucose, Beta - sitosterol Beta - D - glucosid… có tác dụng chống viêm, kháng khuẩn đối với tụ cầu khuẩn, một số loại nấm điển hình như Candida albicans… Đây là một trong những tác nhân chính gây bệnh viêm xoang cấp và mạn tính.

Trong cuốn “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam tập I” ghi nhận: Thương Nhĩ Tử là thành phần chính trong các bài thuốc chữa bệnh viêm xoang mũi hiệu quả. Không chỉ giúp điều trị chứng mũi chảy nước trong và đặc, Thương Nhĩ Tử còn chữa bệnh viêm xoang nhiễm khuẩn.

Ngoài ra, các tài liệu khác cũng nêu rõ công dụng chữa viêm mũi dị ứng của Thương Nhĩ Tử. Trong đó, nổi bật là khả năng chữa dứt điểm và ngăn ngừa viêm mũi dị ứng tái phát. Đặc biệt, tác dụng sát khuẩn, chống viêm của Thương Nhĩ Tử kết hợp với tính giảm đau, tiêu viêm, ức chế virus cúm và một số vi khuẩn như tụ cầu vàng, trực khuẩn bạch hầu, trực khuẩn lỵ; chống dị ứng của Tân di và tác dụng chống viêm, giảm ngạt mũi, giảm tiết dịch, giảm hắt hơi, sổ mũi nhức đầu của Hoa Ngũ Sắc có tác dụng điều trị nghẹt mũi, chảy nước mũi, viêm mũi dị ứng, viêm mũi mạn tính, viêm xoang cấp và mạn tính.

‘Tiếp sức’ cho từ bên ngoài
Các bác sỹ Y học cổ truyền cho biết: Thương Nhĩ Tử khá hiệu quả nếu được kết hợp với một số thảo dược khác để tạo thành bài thuốc “bôi ngoài” dưới dạng thuốc xịt. Với cơ chế kháng khuẩn, chống viêm, co mạch tại chỗ, bài thuốc này sẽ làm thông thoáng đường mũi xoang, tăng đào thải dịch mủ ứ đọng trong các hốc xoang, giúp giảm nhanh các triệu chứng sổ mũi, nghẹt mũi, điếc mũi, chảy nước mũi…

Các bác sỹ chuyên khoa tai - mũi - họng khuyên rằng: Thời điểm giao mùa hoặc mưa nắng thất thường, viêm xoang và viêm mũi dị ứng rất dễ nảy sinh, thậm chí có nguy cơ tái diễn nhiều lần. Vì thế, việc lựa chọn sản phẩm thuốc xịt mũi được bào chế từ thảo dược để bảo vệ mũi khỏi những triệu chứng khó chịu là vô cùng cần thiết.

Các bác sỹ cũng khuyến cáo: Để tăng hiệu quả điều trị, người bệnh nên vệ sinh mũi hàng ngày, đeo khẩu trang, giữ ấm vùng mũi và cổ khi trời lạnh; kiêng sử dụng các thực phẩm cay, nóng và các chất kích thích như bia, rượu, thuốc lá.

Thứ Tư, 8 tháng 10, 2014

Nobel Prize For Chemistry 2014: Eric Betzig, Stefan W. Hell And William E. Moerner Honored For Development Of Super-Resolved Fluorescence Microscopy

The 2014 Nobel Prize in Chemistry was awarded on Wednesday to Eric Betzig, Stefan W. Hell and William E. Moerner for "the development of super-resolved fluorescence microscopy."
In the past, the use of microscopes was limited by a physical restriction; scientists could only see items that were larger than roughly half the wavelength of light (.2 micrometers). However, the groundbreaking work of the Nobel laureates bypassed the maximum resolution of traditional microscopes and launched optical microscopy into the nanodeminsion.
With nanoscopy, scientists could observe viruses, proteins and molecules there are smaller than 0.0000002 metres. Hell, 52, of Germany, is the director at the Max Planck Institute for Biophysical Chemistry and the division head at the German Cancer Research Center in Heidelberg. He was honored for his work on fluorescence microscopy, a kind of nano-flashlight where scientists use fluorescent molecules to see parts of a cell. Later in his career, he developed the STED microscope, which collects light from "a multitude of small volumes to create a whole."

Moerner, a 61-year-old professor in chemistry and applied physics at Stanford University in California, is the recipient of the 2008 Wolf Prize in Chemistry, the 2009 Irving Langmuir Award and the 2013 Peter Debye Award. In 1989, he was the first scientist to be able to measure the light absorption of a single molecule. This inspired many chemists to begin focusing on single molecules, including Betzig.
Betzig, 54, the group leader at Janelia Farm Research campus at the Howard Hughes Medical Institute in Virginia, developed new optical imaging tools for biology. His work involved taking images of the same area multiple times, and illuminating just a few molecules each time. These images were then superimposed to create a dense super image at the nano level, The Times of India reported.
The Royal Swedish Academy of Sciences, Stockholm awards the Nobel Prize in Chemistry annually to the person who shall have made the most important chemical discovery or improvement." It is one of five Nobel Prizes established by Alfred Nobel, inventor of dynamite, in his will in 1895.
Between 1901 and 2013, more than 560 Nobel Prizes were awarded to 876 people and organizations. Nobel laureates receive the title, a diploma, a gold medal and about $1.1 million in award money. If two winners are chosen for a single category, the prize is split in half. When more than two people or organizations are selected, the prize is distributed at the judges' discretion.
Since 1901, 105 Nobel Prizes in Chemistry have been awarded. The youngest person to become a Nobel laureate in chemistry was Frederic Joliot, who was just 35 when he received the prize in 1935 for his work in the synthesis of new radioactive elements.
Only four women have been awarded the chemistry prize, including Marie Curie who also won a Nobel in physics. And only one person -- Frederick Sanger -- has been awarded the chemistry prize twice. Click here for a complete list of past laureates in this category.

Chủ Nhật, 7 tháng 9, 2014

Suy tư

Càng mong muốn những điều không hay đến với người khác thì những điều đó lại hay xảy ra đối với mình.

Nhưng

Càng mong muốn những điều tốt cho người khác thì chưa chắc nó đã đến với mình.

Thứ Hai, 21 tháng 7, 2014

Học và dạy tiếng Anh: ba bí quyết then chốt – Nguyễn Vạn Phú

Chưa thấy có môn học nào được quan tâm như môn tiếng Anh. Phụ huynh nào cũng sẵn lòng cho con đi học thêm, rèn tiếng Anh ngay từ tiểu học. Nhà nước có hẳn một đề án ngoại ngữ quốc gia 2020 rất đồ sộ. Các trung tâm dạy tiếng Anh mọc khắp mọi thành phố. Nhưng rất hiếm thấy những công trình nghiên cứu được phổ biến rộng rãi về thế nào là một phương pháp tối ưu dạy và học tiếng Anh trong môi trường Việt Nam, kể cả đề án nói trên.

Tạm thời gạt sang một bên các lý thuyết về phương pháp vì nó xa lạ với đa phần người học, chỉ muốn nắm được một số kỹ năng tiếng Anh để thuận lợi cho công việc, dù đó là giao tiếp với khách nước ngoài, để theo học một chương trình dạy bằng tiếng Anh hay để đọc tài liệu bằng tiếng Anh. Quan sát đặc thù của nước ta, kết hợp với những thay đổi chóng mặt trong lối sống hiện đang xảy ra và thực tế sử dụng tiếng Anh như một công cụ, có thể nói bí quyết học và dạy tiếng Anh nằm ở ba điểm: “đừng quá ham”, “tận dụng cái có sẵn” và “luyện chứ đừng học”.

Với người học

Nếu hỏi ai từng học tiếng Anh theo một giáo trình nào đó, điều họ ngại nhất là không theo kịp tiến độ của lớp. Chưa nắm được điểm ngữ pháp này đã thấy lớp nhảy qua điểm ngữ pháp mới; chưa xong mẫu câu này đã phải học mẫu câu mới; từ vựng cần học xuất hiện dồn dập. Chớp mắt một cái đã thấy lớp tiến đến gần hết cuốn giáo khoa dày cộp mà lòng cứ vương vấn những bài cũ, chưa học kỹ, chưa nắm được hết. Cuối cùng là không học được gì hết. Kết thúc khóa học, chúng ta trở về con số không.

Ở bậc phổ thông cũng vậy. Giáo viên chạy theo giáo án; học sinh bận chạy theo các môn khác, cứ gần đến giờ học nhìn qua sách giáo khoa, nhớ mài mại vài từ mới, vài điểm ngữ pháp mới để đối phó. Cuối cùng, kết thúc năm học, chữ nghĩa trả lại hết cho thầy.

Cho nên bí quyết đầu tiên với người muốn học thật sự là “đừng quá ham”. Hãy vất bỏ hết mọi kế hoạch vĩ đại thanh toán chương trình này trong năm này, đống từ vựng kia trong năm tới. Hãy đặt mục tiêu khiêm tốn, học các câu đơn giản, rèn đi luyện lại cho đến khi nào sử dụng được trong thực tế thì mới chuyển qua cái mới. Cái này sẽ tạo cho người học sự tự tin, để làm đòn bẩy học tiếp.

Với ngành giáo dục

Với ngành giáo dục, xin soạn lại sách giáo khoa thật đơn giản, giảm bớt nhịp độ chương trình. Thật ra ngữ pháp tiếng Anh đâu có khó, học tập trung chỉ một năm là hết cho nên đừng cố gắng giới thiệu các điểm ngữ pháp vào bài học theo kiểu tuần tự cho chóng hết làm gì. Từ vựng cũng vậy, chỉ cần 750 từ là đủ để một người giao tiếp khá thoải mái cho mọi nhu cầu bình thường trong cuộc sống. Làm sao để một em học sinh tốt nghiệp phổ thông đọc được các truyện loại viết lại theo văn tiếng Anh đơn giản, nói chuyện bâng quơ với người nước ngoài là đã một bước tiến lớn rồi. Bảy năm học từ lớp 6 đến lớp 12 để làm chuyện đó, được chăng? Chắc chắn là được nếu chúng ta đừng ham hố thành tích, tập trung rèn thật nhiều thay vì câu nệ bám chặt giáo án. Hãy bỏ những kỹ năng mà chúng ta đang mất thì giờ bắt học sinh học như chuyển đổi câu chủ động sang câu bị động, chuyển câu để dùng danh từ thay vì động từ. Học cái đó để làm gì? Hãy cứ để cho học sinh nói sai, đừng vội sửa ngay, bởi mục tiêu là giao tiếp chứ không phải là ngôn ngữ.

Bí quyết thứ nhì là “tận dụng cái có sẵn”. Với bất kỳ một học sinh bình thường nào, cuộc sống hiện nay buộc các em “tự dưng có sẵn” trong người một vốn từ tiếng Anh kha khá. Khi dùng máy tính, chắc chắn các em phải hiểu file là gì, delete là gì. Các em tự động hiểu save bắt các em làm gì, print là sao… Với các em từng sử dụng Facebook (mà hầu như học sinh nào cũng từng chơi Facebook) các em cũng không muốn phải thuộc các từ status, friend, feed, group, messages… Còn nhiều thứ khác như điện thoại di động, các trò chơi, các ứng dụng đủ kiểu… – tất cả hiện đã trang bị cho các em một vốn từ tiếng Anh kha khá.

Vấn đề là người thầy giỏi sẽ tận dụng vốn từ này để chuyển chúng thành vốn từ tiếng Anh cho các em, bắt các em dùng chúng trong câu hoàn chỉnh, nói thành câu hẳn hoi. Đoan chắc là trong một thời gian ngắn thôi, ngay lập tức các em tự nhiên sẽ thấy tự tin hẳn ra và dùng tiếng Anh thành thạo đến độ chính các em cũng phải ngạc nhiên.

Bí kíp luyện quyền

Cuối cùng là sai lầm phổ biến mà chúng tôi quan sát được ở người học tiếng Anh: đó là xem tiếng Anh như một môn học và tiếp cận nó như một loại kiến thức mà họ phải có bằng cách học. Họ học tiếng Anh như học Toán, Lý Hóa, tức là ngồi nghiên cứu từng điểm ngữ pháp, lý giải rồi hiểu nó và học quy luật. Tức là ngồi học từng từ, cả họ hàng tông chi từ đó. Tức là học cách ghép từ thành câu…

Các bạn thử tự hỏi các bà tiểu thương ở chợ Bến Thành, do nhu cầu cần giao tiếp với khách nói tiếng Anh, họ có học tiếng Anh theo cách đó không? Không hề. Họ sẽ xuất phát từ nhu cầu, chuyển nhu cầu thành câu rồi học thuộc lòng. Đơn giản vậy thôi.

Dĩ nhiên người học tiếng Anh bình thường sẽ chưa có nhu cầu như thế và cũng không đến nỗi học theo kiểu “đi ngang về tắt” như thế. Nhưng phương pháp học cũng phải theo tinh thần đó mới mong thành công: học tiếng Anh là rèn luyện, như tập võ cứ đi quyền thật nhiều đến khi đánh nhau sẽ bật ra cú đánh trúng đích. Học tiếng Anh là cứ thuộc lòng cho nhiều câu nhiều đoạn chừng nào tốt chừng đó – đến khi cần nó sẽ bật ra cho bạn sử dụng.

Ai học tiếng Anh mà cứ thắc mắc tại sao là xem như thất bại ngay từ đầu. Cứ chấp nhận người ta nói sao mình học thuộc lòng như vậy để bắt chước. Người nào thuộc lòng được nhiều câu nhiều đoạn nhất, người đó vừa sử dụng tiếng Anh thành thạo lại vừa dễ dàng vượt qua mọi kỳ thi được biên soạn đúng đắn như IELTS hay TOEFL (chứ không phải loại đề thi của nhà trường hiện nay). Như thế cuối cùng cả hai mục tiêu – học để thi hay học vì kỹ năng – đều đạt được chứ không hề mâu thuẫn nhau.


Nguyễn Vạn Phú

Thứ Tư, 14 tháng 5, 2014

Bài tập làm văn năm lớp 6 – Hằng Lê

Đọc đâu đó về việc người ta kêu ca dạy văn Việt Nam là rập khuôn, kém sáng tạo. Chợt nhớ bài kiểm tra hồi mới vào lớp 6.
Lúc đó bạn Hằng vừa được đào tạo khắc nghiệt ở lớp bồi dưỡng học sinh giỏi quốc gia với cô Phương – một người không chấp nhận được cái sáo rỗng, khuôn mẫu của văn chương. Thậm chí suýt nữa còn gạch rách vở học trò vì tội đứa nào cũng bảo “con sông quê em ko biết bắt đầu từ đâu – khi về làng em sông uốn thành một dòng xanh ngan ngát. Đến mùa nước lũ, sông đục ngầu phù sa như giận dữ…”.
“Nếu các em không biết nó bắt đầu từ đâu thì tôi nói cho mà biết, ở trên dãy Trường Sơn đổ xuống”. Và cô châm biếm những cô giáo “sóng mũi dọc dừa, người dong dỏng cao, mái tóc đen tuyền như thác đổ, giọng cô dịu dàng lanh lảnh như chuông ngân” trong bài làm của bọn tôi rằng: “Tả con người ấy, đừng có tả tượng nữa. Tả tôi đi, tả cho đúng – tôi thế nào hả? Lùn, đen, tóc xoăn tít như đống mì tôm. Giọng tôi thế nào? Có giống con sư tử gầm không?…”
Trùng hợp là đề bài vào lớp 6 hồi đó là tả cô giáo em. Tôi lại là đứa trẻ ngoan ngoãn, và lại yêu thích cô Phương – thế là tôi ngồi tả cô. Tôi tả cô với một lòng yêu mến vô cùng, và cũng chân thực vô cùng. Rằng cô lùn đen chả đẹp cũng chẳng hiền; nhưng đến cái phần tôi muốn nói cô đã cá tính và tận tâm thế nào, tôi đã thích cô ra sao thì…hết giờ. Hết giờ thật đấy, vì hồi đó tôi nghĩ thì nhanh nhưng viết như con rùa á.
Thế nên bài viết của tôi na ná một bài bôi nhọ hình ảnh cô giáo. May hồi đó không có internet nên rốt cuộc bài văn của tôi chỉ lưu truyền qua tay các thầy cô và dừng lại ở lời mắng của cô Nga với tôi ngày vào lớp. Hồi đó lí do cô giáo dạy văn lớp 6 của tôi mắng cũng không phải vì tôi dám tả một cô giáo không đẹp như mơ, mà là vì tôi quá hăng hái trong việc tả xấu cô giáo, và khi tôi nói rằng mình còn chưa viết đến đoạn tốt – thì bị mắng tiếp vì cô giáo có thể tốt ngay giữa những cái xấu nếu tôi biết tả tử tế. Nên bài tập làm văn đó trở thành một bài học cho việc ham hố chứng tỏ khác người không đúng cách của tôi.
Đến năm lớp 10, cô Liên vào giờ văn đầu tiên của lớp Hóa đã nói rằng: cô không cần chúng tôi soạn văn, cũng không muốn phải chấm những Nguyễn Hiền, Tư Trạm (là tác giả văn mẫu thì phải, tôi thực sự chưa đọc bao giờ nên không nhớ), “cô không yêu cầu lớp Hóa các em giỏi văn như họ, cô chỉ mong có thể để cho các em yêu văn hơn chút nữa… chúng ta cứ thống nhất thế này, nếu các em chép theo văn mẫu – mà cô dạy học 30 năm rồi nên cô thuộc lắm – thì cô không dám cho điểm cao hay thấp, mà cứ để điểm 5 thôi; nếu các em tự mình làm bài thì thấp nhất là 7 điểm nếu không sai chính tả…”

Thế nên giờ tập làm văn của bọn tôi được phép mở sách và suy nghĩ rất lan man về thơ văn. Không biết có phải vì cô giáo sắp về hưu nên phá lệ không, năm đó bọn tôi có bài thi học kỳ là lên bảng đọc thuộc 1 đoạn Kiều em thích và trình bày tại sao lại thích. Tuy rằng đến giờ tôi cũng không biết văn chứng minh, biện luận với phân tích thì khác nhau cái gì, nhưng mà đúng là tôi thích Kiều hơn hẳn.
Bạn thân mến, à quên – các bạn thân mến của tôi giờ đã qua thời tập làm văn rồi, bạn nhỏ còn đi học thân mến: Thực ra thầy cô dạy văn cũng chẳng thích đọc mãi văn mẫu đâu – nếu một ngày bạn thấy không thích hoặc không hiểu tại sao bài thơ này có thể có ý nghĩa nhân văn đó, thì bạn cũng có thể suy nghĩ cẩn thận và viết ra những hoài nghi đó – nhưng đừng bắt đầu bằng việc vùi dập để chứng tỏ mình nổi trội, hoặc nhiệt tình chứng tỏ lời giảng của thầy cô sai.
Nếu thầy cô của bạn đừng quá ấu trĩ và có thể vẫn tận tâm được như những thầy cô giáo dạy văn (mà tôi được học trong đời), thì bạn sẽ có thể tranh luận, có thể được giải thích, có thể ăn mắng, nhận điểm thấp (hoặc rất cao nếu bạn đủ lí sự), có thể nói những gì mình thích. Dù sao thì nó cũng sẽ thú vị và đáng học hơn. Học hành ở Việt Nam ta mà, điểm văn cao là không tốt đâu – sẽ bị chê là cù lần đấy!”.
Hằng Lê

Thứ Ba, 19 tháng 11, 2013

Nuôi dạy con cho tự nhiên

Mở đầu
Chủ đề Hiểu trẻ em – Dạy trẻ em đã được giới thiệu trong kỳ sinh hoạt Câu lạc bộ Sư phạm Cánh Buồm tháng 7 năm 2013[1]. Chủ đề đó dẫn sang chủ đề sinh hoạt sư phạm tháng này: hiểu trẻ em trong sự phát triển tâm lý của chúng. Sự phát triển đó được xem như là kết quả của việc “học”, như là “kết quả của tương tác giữa trẻ em và môi trường sống của nó”[2]

Đó sẽ là vấn đề cách học của đứa trẻ mà nếu người lớn không chịu hiểu tâm lý phát triển của các em thì sẽ luôn luôn rơi vào những trạng thái tiêu cực, cho dù mẫu số chung của những “rắc rối” đều có thể là tình thương yêu khôn cùng của bậc mẹ cha, của nhà sư phạm.

Ta từng thấy trạng thái sốt ruột cảm thấy con mình chậm hơn, kém thông minh hơn con nhà khác, rồi muốn nắm tóc con kéo lên cho mau cao, không khác bao nhiêu với việc nắm cây lúa kéo lên cho lúa mọc nhanh;
trạng thái hí hửng cảm thấy con mình vô cùng thông thái, chưa đến nỗi là thiên tài nhưng nhất quyết phải làm cách gì đó cho nó bao giờ cũng cao hơn, nhanh hơn, xa hơn con nhà khác; trạng thái bi quan khi cảm thấy sự phát triển của con mình không đúng như trông đợi: hoặc là trông đợi con mình hết chậm, hêt “ngố”, hoặc là trông đợi con mình tiếp tục là một nhân tài bé nhỏ…

Để giải quyết ít nhất các tâm trạng trên, cần nghiên cứu tâm lý học phát triển của đứa trẻ. Đây là một chủ đề lớn, kết quả nghiên cứu tích lũy ngày một nhiều, tài liệu nhiều vạn trang, phát kiến có cả ngàn, do đó nhà sư phạm cần có sự lựa chọn của mình – và cũng cầu giời khấn phật cho chọn lựa của mình không bị nhầm.

Sự lựa chọn cảm tính ban đầu đã đưa nhóm Cánh Buồm đến với đường lối giáo dục tự nhiênkiểu Jean-Jacques Rousseau và công cuộc giáo dục cũng tuân thủ sự tự nhiên song khả dĩ lý giải được về khoa học kiểu Jean Piaget. Những chi tiết trong việc này sẽ còn được nói thêm ở các phần tiếp theo, nhất là khi Cánh Buồm “khai báo” chọn lựa thứ ba mang tên Howard Gardner.


Phát triển tự nhiên

Jean-Jacques Rousseau viết Emile, hay là “Về giáo dục” để phát biểu quan điểm của mình trong vấn đề sống còn này của loài người[3].

Sách viết xoay quanh nhân vật tưởng tượng Emile, gồm năm phần - tương ứng với năm giai đoạn phát triển (theo cách chia của Rousseau) từ lúc mới sinh ra cho đến khi trở thành một công dân trong xã hội. Đó sẽ là người công dân tự do cho một xã hội dân chủ lý tưởng. Rousseau phê phán nền giáo dục phong kiến đang thịnh hành: "Người ta không hề hiểu biết tuổi thơ... người ta chỉ chú trọng đến những gì con người cần phải hiểu biết, mà không xem xét những gì trẻ con có thể học được… người ta không nghĩ đến con đường đứa trẻ trở thành người lớn" (Emile, sđd).

Phương pháp giáo dục Rousseau đề ra là phải đi theo sự tiến triển của tự nhiên, theo "luật tự nhiên", theo "quyền tự nhiên", và lấy bản chất con người trong "trạng thái tự nhiên" làm điểm xuất phát. Phải để cho trẻ em được hưởng những quyền của trẻ em và việc chăm sóc, giáo dục phải phù hợp với thể trạng và khả năng nhận thức tựn hiên của trẻ em trong từng giai đoạn.

Theo Rousseau, giai đoạn từ lúc mới sinh cho đến năm hai tuổi, đứa trẻ cần nhất là được chăm sóc để phát triển thể trạng một cách tự nhiên, không gò bó, ít khóc lóc, không chịu thân phận nô lệ ngay từ tấm bé, không bị dọa nạt, không trừng phạt...

Từ hai tuổi tới mười hai tuổi, việc giáo dục không nên lý luận dài dòng, áp đặt những bổn phận. Cách đúng đắn nhất là đừng bao giờ ra lệnh cho trẻ. Đây cũng là giai đoạn để trẻ trải nghiệm để tự hiểu biết bản chất sự vật. Trẻ phải được ra giữa cánh đồng bao la, cho nó tha hồ chạy nhảy, và cho trẻ ngã học được cách đứng dậy, những vết bầm tím sẽ được đền bù bằng sự khoan khoái được tự do.

Emile sẽ lao động đồng áng vất vả, và "trái tim non dại của nó sẽ trào lên phẫn uất khi nó hiểu thế nào là bất công" khi công sức và niềm vui bỏ ra bị người ta lấy đi”.

Nhằm đảm bảo cho trẻ cảm thấy tự do và có hứng thú trong học tập, cần theo cách học mà chơi, chơi mà học. Song trong giai đoạn từ mười một đến mười lăm tuổi, phải dẫn cho trẻ đến với ý niệm "lợi ích" và câu hỏi "Cái đó có ích gì?" là tiếng nói quyết định cho các hành vi trong đời sống. Nói cách khác, giáo dục phải xuất phát từ quyền lợi của trẻ chứ không phải vì mục đích cao siêu nào khác.

Từ 15 tuổi đến 18 tuổi, Emile bắt đầu được giáo dục về đạo đức và tôn giáo. Với Rousseau, đó là cái "tôn giáo tự nhiên" đối lập với kiểu nhồi nhét những thuyết giáo, những tín điều buộc con người phải chấp nhận. Tôn giáo này khiến trẻ em phát triển những tình cảm tự nhiên của nó, từ bi, trắc ẩn, tính thiện và tất cả những tính cách hấp dẫn mà con người tự nhiên ưa thích, ngăn cản những thói ghen tị, tham lam, độc ác có thể bị ảnh hưởng từ xã hội.

Cần cho trang thanh niên thấy rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng và theo bản tính tự nhiên thì không ai sinh ra là vua, là vĩ nhân, là giàu có, "tất cả sinh ra đều trần truồng và nghèo nàn, tất cả đều có thể bị nỗi cơ cực của đời sống, các nỗi buồn, các tai ương, các nhu cầu, các nỗi đau đủ loại, sau hết tất cả đều phải chết. Đó là thực trạng của con người, đấy là cái mà không người nào được miễn trừ".

Muốn hướng thanh niên đến lòng nhân đạo, cần phải cho chúng thấy được khía cạnh đau buồn của số phận ấy và dạy cho chúng hiểu rằng chúng cũng có thể rơi vào số phận những kẻ đau khổ. Do đó, tình thương yêu con người không nên chỉ bó hẹp trong một cộng đồng nhỏ bé, mà phải mở rộng ra toàn nhân loại…

Quan điểm giáo dục “tự nhiên” của Rousseau thực sự hấp dẫn, nhất là khi trong xã hội hễ nói đến giáo dục là người lớn chỉ nghĩ đến dạy bảo áp đặt, bao giờ cũng dựa vào cái thế “vịt đẻ ra trứng” để cho rằng “trứng không được khôn hơn vịt”.

Thế nhưng, quan điểm giáo dục Rousseau cũng có nhiều chỗ cực đoan khó mà theo nổi: chẳng hạn, ai dám đem Emile của riêng mình bỏ lạc trong rừng để Emile nhà mình học địa lý?

Chưa kể, Rousseau vẫn chưa lý giải được cho chúng ta “đường lối giáo dục tự nhiên” là gì, và càng chưa giải thích được vì sao lại phải giáo dục trẻ em một cách tự nhiên.




Sao lại là “tự nhiên”?

Người đặt nền móng tâm lý học cho việc lý giải đó là Jean Piaget, nhà sinh vật học sau chuyển thành nhà tâm lý học người Thụy Sĩ. Jean Piaget sẽ mô tả và lý giải sự phát triển tự nhiên của trí khôn con trẻ (sinh vật học và tâm lý học).

Trước Jean Piaget, nhà sinh vật học Charles Darwin từng theo dõi, ghi chép sự phát triển các ứng xử của chính con trai mình. Nhưng ông không chủ bụng trở thành nhà tâm lý học, nên ba mươi bảy năm sau vào năm 1877 ông mới cho đăng bài báo trên tờ Mind, như một miêu tả đóng góp chung với nhiều miêu tả khác[4].

Không lãng mạn như con người bất hạnh Jean-Jacques Rousseau, bản thân mồ côi và tự mình cùng với một chị thợ giặt cũng sinh ra vài ba đứa con và các con đều gửi nuôi trong nhà Tế Bần, cũng không tham gia nghiên cứu sự phát triển tâm trí của trẻ nhỏ như một thú vui của một ông bố yêu con và yêu khoa học, Jean Piaget điềm đạm đi vào Tâm lý học, để lại những công trình được Albert Einstein đánh giá là giản dị như một thiên tài[5].

Immanuel Kant từng thách thức khoa tâm lý học nếu muốn được coi là khoa học thì cần phải chứng minh được nội dung “khoa học” đó một cách toán học. Jean Piaget không chứng minh tâm lý học bằng toán học. Ông chứng minh theo một cách còn hào hoa hơn là cách toán học: ông viết về sự cần thiết của việc lý giải trí khôn (mặt lý trí của sinh thể người) và sự hình thành “tự nhiên” cái lý trí đó: “Câu hỏi về những quan hệ giữa lý trí và tổ chức sinh học nhất thiết phải đặt ra khi bắt đầu một nghiên cứu về sự hình thành trí khôn con trẻ. (… và từ đó …) rút ra những định đề khởi phát cho việc nghiên cứu.” (“Sự hình thành…”, Sđd).

Piaget cho thấy yếu tố đầu tiên mang tính tự nhiên của sự phát triển một sinh thể là tính thích nghi. Ông viết: "Trí khôn là một sự thích nghi … về cơ bản, đó là một công việc tổ chức, và chức năng của nó là “cấu trúc chặt chẽ” thế giới xung quanh, giống như một cơ thể “tổ chức” cái môi trường ở chính nơi cơ thể đó sinh sống". (“Sự hình thành …”, Sđd)

Còn cần phân biệt sự thích nghi ở đây không đơn giản chỉ là sự bảo tồn và sự sống sót một cách thuần túy “sinh vật học”, tức là sự cân bằng giữa cơ thể của mọi sinh thể với môi trường (cả thực vật, cả những động vật cấp thấp). Vì vậy Piaget muốn ta nhìn rõ hơn về sự thích nghi-trạng thái và sự thích nghi-tiến trình.

Điều kiện cho sự phát triển (thích nghi) mang tính người, đó là khái niệm tính tổ chức. Ông lý giải: “Trên quan điểm sinh học, tổ chức không thể tách khỏi thích nghi: đó là hai quá trình bổ sung của một cơ chế duy nhất, cái thứ nhất là phương diện bên trong của chu trình mà sự thích nghi làm thành phương diện bên ngoài.” (“Sự hình thành…”, Sđd).

Để diễn tả giản dị hơn nữa mấy ý kiến trên về thích nghi – tổ chức, có lẽ ta có thể phát biểu thế này chăng: “thích nghi” chính là sự “học”, còn “tổ chức” chính là kết quả gửi trong những lập luận (tư duy) đi từ những “lập luận” thô sơ nhất (tư duy bằng hình ảnh) sang những lập luận càng ngày càng “có cấu trúc tư duy chặt chẽ”.

Vậy, rốt cuộc, “học tập” là gì trong viễn tuyến tâm lý học phát triển? Thuật ngữ apprentissagecó thể hiểu như là học, như là luyện tập, và đó là quá trình làm thích nghi những tổ chức tư duy của con người với những dữ liệu mới của thực tại. Sự thích nghi đó diễn ra theo hai cách, thích nghi và điều tiết mà theo cách diễn giải đơn giản của người viết bài này, thì thích nghi là chiếm lĩnh cái mới mẻ cho trí tuệ người học, còn điều tiết là dung nạp cái mới học được vào với cái đã học được trước đó để có cái mới mẻ hơn nữa cho trí tuệ người học.

Và chúng ta đã có một lý giải về việc tại sao và như thế nào lại có sự phát triển tâm lý học tự nhiên ở đứa trẻ, và vì sao người lớn phải cư xử tự nhiên với con em. Mọi diễn giải cho tới lúc này vẫn mới chỉ dựa trên những điều Piaget trình bày liên quan đến “sự thích nghi bú mút” ở trẻ trong giai đoạn trí khôn cảm giác–vận động. Piaget đã quan sát và ghi chép vô cùng tỉ mỉ các phản ứng học bú mút của Laurent, Lucienne và Jacqueline, ba đứa con của chính mình. Dựa trên các số liệu đó, Piaget tiến hành phân tích, mà chỉ nếm thử một đoạn nhỏ nào thì cũng thấy vừa làm sáng tỏ được vấn đề vừa vô cùng xúc động trước cách làm việc của một người “giản dị như một thiên tài”.

Nghĩ rằng, chỉ cần nghiên cứu kỹ giai đoạn Piaget phân tích phản xạ bú mút – những giây phút đầu đời của mỗi con người – và ta sẽ thấy thích nghi đây, học tập đấy, luyện tập đấy… và tất cả diễn ra thật tự nhiên, vì nó tiến triển đồng hành với sự sống sinh vật học tự nhiên và cũng đồng hành tiếp theo với cuộc sống tâm trí được điều tiết thật tự nhiên của trẻ em-người học.

Hơn cả giản dị

Thế nhưng, một thời gian dài, người lớn phạm nhiều sai lầm khi tương tác với trẻ em trong “môi trường sống” của chúng. Jeaqn-Jacques Rousseau đã tìm cách chữa chạy tình trạng đó bằng cách kêu gọi đem lại cho con trẻ một nền giáo dục tự nhiên. Nhưng đó vẫn còn là một nền giáo dục tự nhiên theo con mắt nhìn của người lớn. Jean Piaget đã lý giải được nguồn gốc sinh vật học và sự phát triển tâm lý học kéo theo trong một sự phát triển tự nhiên của con trẻ. Thế nhưng, cách làm của Jean Piaget còn mang ngay trong long nó chút gì nhược điểm? Từ một người ghi chép những kết quả đo nghiệm của A. Binet, Jean Piaget trân trọng nghiên cứu những câu trả lời và những lý lẽ “sai” để định hướng con đường tìm tòi tâm lý học của mình, điều đó thực sự giản dị mà vĩ đại. Thế nhưng, sau khi đường lối tâm lý học nhận thức được phát triển tự nhiên của Piaget đã thành một hệ thống, thì hình như bên trong hệ thống đó cũng cài đặt lại một sai lầm, ấy là quá chú trọng đến chỉ một dạng trí khôn ở người học mà cao điểm của trí khôn này là năng lực tư duy trừu tượng. Các giai đoạn phát triển nhận thức, từ nhận thức bằng cảm giác–vận động, sang nhận thức tiền thao tác, sang nhận thức bằng thao tác cụ thể, sang giai đoạn cao đỉnh thao tác hình thức khiến ta có cảm giác trí khôn người chỉ có một dạng mà thôi.

Nhà tâm lý học đương thời Hoa Kỳ Howard Gardner[6] gián tiếp phê phán sự khiếm khuyết đó bằng cách nêu vấn đề: một thiếu niên chèo thuyền ngang dọc ở vùng có cả ngàn hòn đảo trên Thái Bình Dương, người đó có trí khôn gì? Và còn chàng thiếu niên khi vào tu viện thì mù chữ, mười bảy năm sau, anh ta thành giáo sĩ, đọc được và thuộc lòng Kinh Koran; còn nhà thơ du ca Homère mắt mù và thuộc lòng cả vạn câu thơ; và còn cả em bé mười tuổi ngồi soạn nhạc bên chiếc máy tính hiện đại nữa chứ … tất cả những người này, ngoài cái tư duy trừu tượng và trí khôn của những học giả, hẳn cũng có tư duy gì và trí khôn gì khác chứ?

Howard Gardner chỉ dùng tư biện để xử lý các dữ liệu có trong tay, và ông đã đề xuất những tiêu chuẩn để dựa vào đó mà chọn được một hoặc những trí khôn. Cần lưu ý là những tiêu chuẩn ở đây mang rất nhiều giá trị hành động, không phải là những tiêu chuẩn của lối tư duy mang định kiến sẵn (jugement de valeur, value judgment). Vì vậy, Howard Gardner goi là tám dấu hiệu cho những ứng cử viên vào vị trí “trí khôn”. Đó là:

(1) Được cách ly tiềm tàng bởi tổn thương não. Thí dụ: vì bị tổn thương não nên mất tiếng nói. Sau đó, do điều trị não mà có lại tiếng nói. Song, ngay cả điều trị nhưng không khỏi, không phục hồi được thì cũng vẫn coi như là đã có, tức là có!

(2) Sự tồn tại các savant idiot (các “trạng lợn”, dịch sát từng chữ là các “bác học ngu xuẩn”) bên cạnh các thiên tài thật, các cá nhân xuất chúng ngoại lệ có thật. Những kiểu người này thường bộc lộ một năng lực phi thường, và đó chính là một tiêu chuẩn của một loại trí khôn nào đó.

(3) Trong việc thể hiện trí khôn có thể thấy được một thao tác hạt nhân hoặc một tập hợp thao tác xác định được. Tiêu chuẩn này hết sức quan trọng để tổ chức cho người khác học cách làm ra cái năng lực mang dấu hiệu trí khôn đó.

(4) Một lịch sử phát triển rõ ràng, cùng một tập hợp những thành tựu cuối cùng tinh thông. Tiêu chuẩn này thú vị ở chỗ nó giúp người đời khuyến khích người nghĩ thực làm thực và có thành tích thực, không khuyến khích kẻ “lợi khẩu”.

(5) Một lịch sử tiến hóa và một độ tin cậy trong tiến hóa. Tiêu chuẩn này nhấn vào tính khả tín của một trí khôn. Đi tìm một trí khôn bao giờ cũng cần cảnh giác và có được sự dị ứng với những “trí khôn đột xuất”.

(6) Được các việc làm trong Tâm lý học thực nghiệm ủng hộ. Cần nhân rộng trong phòng thí nghiệm và cần có các số liệu thực nghiệm trụ đỡ, trí khôn này không chỉ có ích khi được nhân bản rộng hơn mà điều quan trọng là nhà sư phạm có thể làm chủ được cách nhân bản.

(7) Được các khám phá từ khoa đo lường tâm trí ủng hộ. Tiêu chuẩn này củng cố tiêu chuẩn (6) vừa nêu bên trên ở chỗ đã có thêm những căn cứ lý thuyết tổng quát trụ đỡ.

(8) Khả năng mã hóa trong một hệ thống biểu trưng. Tiêu chuẩn này giúp mô tả, ghi lại không chỉ những biểu hiện của một trí khôn, mà còn giúp người đi sau nhân rộng cái trí khôn đang được xét.

Đôi lời kết

Nhóm Cánh Buồm đang thực hiện kế hoạch viết thành sách giáo khoa cho trẻ em tiểu học, một công việc rất cần có định hướng tâm lý học nhận thức cố gắng sai lầm ít nhất. Các vị phụ huynh, các nhà giáo, các nhà nghiên cứu sư phạm cũng cần đến định hướng tâm lý học đó.

Ban đầu, chúng ta cùng chọn một định hướng, vì chúng ta khó có thể bâng khuâng mãi giữa nhiều dòng nước. Đặc điểm của lựa chọn ở đây là một sự lựa chọn không nô lệ vào ông thày. Chính công việc làm của chúng ta trong thực tiễn sẽ giúp nhìn thấy nhược điểm của ông thày, và không nên bao giờ giữ thái độ ngu trung hết.

Làm gì thì làm, có lẽ cần nhớ làm lòng sự hết mực yêu thương con trẻ như Rousseau để công cuộc giáo dục mang đến cho các em được tự nhiên không áp đặt. Quan điểm trí khôn hình thành qua thao tác (intelligence opérationnelle) của Piaget đã dạy cho nhóm Cánh Buồm việc tiếp tục sàng lọc ra không chỉ công cụ học Toán, mà mọi công cụ làm ra nhiều loại sản phẩm tinh thần khác nữa, khả dĩ có thể cho trẻ em thực hiện việc tự học và để nhà sư phạm tổ chức việc học của các em một cách tự nhiên. Sau hết, việc tách bạch được các trí khôn khác nhau theo H. Gardner sẽ giúp nhà trường tự do hơn và dân chủ hơn, dường như đã có thể đến giai đoạn lịch sử con em học theo năng lực sống theo nhu cầu.

Cầu mong cho nhóm Cánh Buồm thuận buồm xuôi gió, và không rơi vào ảo tưởng như mà cả Jean-Jacques Rousseau, cả Jean Piaget và Howrd Gardner yêu quý đều có thể bị mắc bẫy!

Phạm Toàn

Hà Nội, 3 tháng 8 năm 2013.



[1] Ngày sư phạm Cánh Buồm số 1: Tâm lí học giáo dục -http://canhbuom.edu.vn/index.php/su-pham/430-ngay-su-pham-canh-buom-01


[2] Tủ sách Tâm lý học Cánh Buồm – Quyển một: Jean Piaget, Sự hình thành trí khôn trẻ em, Hoàng Hưng dịch, nhà xuất bản Tri thức, sắp xuất bản. (Kính báo: Do quá trình biên tập chưa hoàn thành, nên những trích dẫn ở đây có thể sẽ khác với văn bản trong sách sắp in. – PT)

[3] Jean-Jacques Rousseau, Emile, hay là Về Giáo dục, bản dịch tiếng Việt của Lê Hồng Sâm và Trần Quốc Dương, nhà xuất bản Tri thức, 2008, Giải thưởng Sách Hay năm 2012.

[4] Charles Darwin, A Biographical Sketch of an Infant, Mind, 2, 285-294. (1877). Darwin mở đầu bài viết: “Câu chuyện rất thú vị ông Taine kể về sự phát triển tâm trí của một đứa trẻ nhỏ đăng trên tờ tạp chí MIND số trước (trang 252) làm tôi phải đọc lại những ghi chép của mình ba mươi bảy năm trước về một trong những đứa con nhỏ của tôi. Tôi đã có những điều kiện tuyệt vời để quan sát tận nơi tại chỗ và ghi lại tức thì bất kể điều gì tôi quan sát được…”

[5] Những tổng kết tự học Piaget của tác giả được viết trong chương sách Giản dị như một thiên tại, Phạm Toàn:Hợp lưu các dòng tâm lý học giáo dục, Tri thức xuất bản, Hà Nội, 2004, 2008.

[6] Howard Gardner, Cơ cấu trí khôn – Lý thuyết về nhiều dạng trí khôn. Phạm Toàn dịch, Giáo dục, Hà Nội, 1997, 1998, Tri thức tái bản có bổ sung, 2013.

Thứ Hai, 1 tháng 7, 2013

SÂM MEN’S POTENT

PHỤC HỒI SINH LỰC TĂNG CƯỜNG SINH LÝ NAM
- Tôi đang khỏe mạnh, chưa có dấu hiệu đặc biệt gì về sức khỏe, tôi muốn phòng ngừa quá trình mãn dục nam thì có nên sử dụng Sâm Men’SPotten không? Ở tuổi 40, nồng độ testosterone bắt đầu giảm rõ rệt, có thể cơ thể chưa có dấu hiệu gì đặc biệt nhưng thực tế quá trình mãn dục nam đang diễn ra, do đó việc phòng ngừa là rất cần thiết. Sử dụng Kangaroo để bổ sung trong trường hợp này là phù hợp.
- Uống Sâm Men’SPotten bao lâu sẽ có tác dụng? Sau 2 tuần sử dụng Sâm Men’SPotten thì nồng độ testosterone/máu sẽ tăng, tuy nhiên tùy cơ địa hấp thu của từng người cũng như nồng độ testosterone ban đầu thấp ít hay thấp nhiều mà hiệu quả cảm nhận được sẽ nhanh hay chậm.
- Sâm Men’SPotten được chiết xuất từ vỏ cây Yohimbine là chất đối kháng cạnh tranh có chọn lọc ở receptor alpha adrenergic và được sử dụng cho điều trị chứng rối loạn cương dương. Chất này được khẳng định là chất kích thích tình dục. Nghiên cứu cho thấy nó là chất vận mạch có tác dụng làm tăng cường dòng máu đến những điểm tận cùng của các bộ phận sinh dục thông qua cơ chế gián tiếp tăng giải phóng noradrenaline. Yohimbine cũng có tác dụng làm giảm tổng hợp chất béo trong cơ thể bằng tăng đốt cháy chất béo (tác dụng giảm cân). Và bổ sung thêm các tinh chất từ rễ cây Lepidium meyenii là một loại thảo dược có nguồn gốc từ Nam Mỹ giúp tăng cường khả năng sinh lý. Hạt Paullinia cupana giúp kích thích tình dục và chống lại đau đầu, sốt. Kết hợp thêm Sâm Hàn Quốc, Sâm Panax giúp tăng cường và hồi phục sức khỏe.
- Thành phần: Gingseng Panex (Root) 400mg; Guarana Extract 4:1 Paullinia cupana (See) 400mg; Yohimbe Pausinystalia (Bark) 400mg; Coppe (Cupric) 2mg; Maca Extract 4:1 Lepidium meyenii (Root) 500mg; Zinc (Zinc oxide and Gluconate 30mg; VitaminE (dl-AlphaTocophery) 100 iu. *Phụ gia: viên. Qui cách đóng gói:60viên/lọ.
- Công dụng: * Bồi bổ sức khoẻ, tráng dương bổ thận, tăng cường sinh lý nam* Hỗ trợ điều trị các bệnh liệt dương, xuất tinh sớm, di tinh, mộng tinh, chất lượng tinh trùng yếu *Chống các bệnh lý về thận, đau lưng, mỏi gối.*Nâng cao sức khoẻ, sức đề kháng, chống suy nhược cơ thể.* Đặc biệt hỗ trợ và điều trị bệnh vô sinh hiếm muộn.
- Cách dùng: Uống 1 – 2 viên/ngày. Khuyên dùng cho nam giới sau 20 tuổi và dùng liên tục một lần từ 1-3 tháng.Bảo quản: nơi khô ráo, thoáng mát, nhiệt độ dưới 30oC, tránh ánh nắng mặt trời. Để xa tầm tay trẻ em
- Nhà sản xuất: Tập đoàn dược phẩm Mason Vitamin – NSX; USA