Thứ Sáu, 25 tháng 5, 2012

Điều gì xảy ra trong não khi ngồi thiền?

Nghiên cứu não bộ thầy tu đang ngồi thiền, các nhà khoa học Mỹ phát hiện thùy thái dương hoạt động mạnh hơn, còn thùy đỉnh lại hầu như không hoạt động so với bình thường. Điều này dẫn đến sự xóa bỏ cảm nhận về không gian và thời gian, giúp người hành thiền rời bỏ bản ngã.
Bác sĩ Andrew Newberg và cộng sự tại Đại học Pennsylvania (Mỹ) đã dùng kỹ thuật chụp cắt lớp phóng xạ positron (PET:positron emission tomography) để nghiên cứu các phản ứng trong não bộ của các nhà sư Tây Tạng khi họ ngồi thiền khoảng một tiếng đồng hồ.
Newberg nói: "Tôi cho rằng, chúng ta đang ở giai đoạn thuận lợi nhất để khám phá tôn giáo và các vấn đề tâm linh theo những cách mà trước đó người ta không tưởng tượng ra được". Nói như vậy, Newberg muốn đề cao kỹ thuật chụp cắt lớp PET - một kỹ thuật đã giúp việc nghiên cứu não bộ tiến những bước đáng kể trong thời gian gần đây.
Mất cảm nhận về không gian và thời gian
Khi các nhà sư đã chìm sâu vào trạng thái thiền, họ được tiêm vào mạch máu một lượng nhỏ chất phóng xạ màu. Các hạt positron màu này giúp người ta quan sát sự di chuyển của máu lên những khu vực nhất định trong não nhờ một máy đếm phóng xạ; qua đó, đánh giá được sự hoạt động mạnh - yếu của những khu vực này.

Sau đó, Newberg đã so sánh các bức ảnh chụp não bộ nhà sư khi ngồi thiền với các bức chụp lúc bình thường. Ông rút ra kết luận: Khi thiền, phần não bộ ở thùy thái dương nhà sư hoạt động mạnh hơn. (Vùng não này luôn hoạt động mạnh khi người ta tập trung sự chú ý vào một việc gì đó).
Ngoài ra, Newberg còn quan sát được sự giảm hoạt động ở vùng thùy đỉnh sau não. Thông thường, thùy này chịu trách nhiệm về việc định hướng trong không gian. Có lẽ đây là bằng chứng củng cố giả thuyết cho rằng, hành thiền giúp người ta xa rời cảm nhận về không gian.
Theo Newberg, khi thiền, người ta thường xuyên cảm thấy không có không gian và thời gian. Điều này cũng khá trùng lặp với những lời kể thường nghe về các trải nghiệm tâm linh.
Cũng theo Newberg, khi người ta đã có trải nghiệm về những cảnh giới lạ, họ có thể hiểu được thực tại rộng lớn hơn và rõ ràng hơn người khác. Ông nói: "Khi những cảm nhận của họ về về thế giới tâm linh đã trở nên mạnh mẽ và rõ ràng, thì thậm chí họ còn nhận biết thế giới này chính xác hơn tư duy khoa học của chúng ta".

Thần dược Đông Trùng Hạ Thảo


Đông trùng hạ thảo là gì?

Đó là một dạng cộng sinh giữa một loài nấm túi có tên khoa học là Cordyceps sinensis (Berk.) Sacc. với sâu non (ấu trùng) của một loài côn trùng thuộc chi Hepialus. Thường gặp nhất là sâu non của loài Hepialus armoricanus. Ngoài ra còn 40 loài khác thuộc chi Hepialus cũng có thể bị Cordyceps sinensis ký sinh. Vào mùa đông nấm bắt đầu ký sinh vào sâu non và làm chết sâu non vì ăn hết chất dinh dưỡng của chúng. Mùa hè ấm áp nấm bắt đầu mọc ra khỏi sâu như một ngọn cỏ và vươn lên khỏi mặt đất. Đầu của ngọn nấm là một thể đệm (stroma) hình trụ thuôn nhọn. Chỉ phát hiện được ĐTHT vào mùa hè ở một số cao nguyên cao hơn mặt biển từ 3500 đến 5000m. Đó là các vùng Tây Tạng, Tứ Xuyên, Thanh Hi, Cam Túc, Vân Nam...
Thành phần
Các phân tích hoá học cho thấy trong sinh khối (biomass) của ĐTHT có 17 acid amin khác nhau, có D-mannitol, có lipid, có nhiều nguyên tố vi lượng (Al, Si, K, Na...). Quan trọng hơn là trong sinh khối ĐTHT có nhiều chất hoạt động sinh học mà các nhà khoa học đang phát hiện dần dần ra nhờ các tiến bộ của ngành hoá học các hợp chất tự nhiên. Nhiều hoạt chất này có giá trị dược liệu thần kỳ. Trong đó phi kể đến cordiceptic acid, cordycepin, adenosine, hydroxyethyl-adenosine. Đáng chú ý hơn c là nhóm hoạt chất HEAA ( Hydroxy-Ethyl-Adenosine- Analogs). ĐTHT còn có chứa nhiều loại vitamin (trong 100g ĐTHT có 0,12 g vitamin B12; 29,19 mg vitamin A; 116,03 mg vitamin C, ngoài ra còn có vitamin B2 (riboflavin), vitamin E, vitamin K...)
Chi nấm Cordyceps có tới 350 loài khác nhau, chỉ riêng ở Trung Quốc đã tìm thấy 60 loài. Tuy nhiên cho đến nay người ta mới chỉ nghiên cứu nhiều nhất được về 2 loài Cordyceps sinensis (Berk.) Sacc. và Cordyceps militaris (L. ex Fr.) Link. Loài thứ hai được gọi là Nhộng trùng thảo
Sưu tập giống của chúng tôi hiện đã có tới 3000 chủng, nhưng mỗi lần có thêm được một chủng vi sinh vật mới là một lần chúng tôi thêm một hy vọng có thể đóng góp cho đất nước một sản phẩm mới.
Ai sang Trung Quốc cũng muốn mua làm quà một ít Đông trùng hạ thảo vì danh tiếng của loại dược liệu này quá lớn và đem tặng ai cũng quý.
Tại một Viện nghiên cứu Công nghệ sinh học (CNSH) Trung Quốc đã giới thiệu cho Đoàn chúng tôi việc phân lập thành công nấm Cordyceps sinensis trong Đông trùng hạ thảo và chứng minh được mọi dược liệu đều nằm trong phần hạ thảo chứ không hề có gì trong phần Đông trùng. Vậy là họ đã có trong tay một của quý. Những lần sang Trung Quốc gần đây tôi đã thấy những viên nang Đông trùng hạ thảo (ĐTHT) trong các vỉ thuốc rất đẹp và với giá rẻ hơn rất nhiều so với mẫu Đông trùng hạ thảo tự nhiên mà chúng ta vẫn thấy bán ở phố Lãn Ông.
Năm qua tôi được tham dự một Hội nghị quốc tế về Công nghệ sinh học họp ở Thái Lan và tôi rất ngạc nhiên khi thấy không chỉ có các báo cáo rất sâu về ĐTHT của các nhà khoa học Trung Quốc mà còn có các báo cáo sâu hơn nữa về ĐTHT của các nhà khoa học Mỹ.
Đông trùng hạ thảo là một thần dược
Vì sao chúng được coi như một trong những loại thần dược nổi tiếng khắp thế giới?.
Sách y học cổ truyền của Trung Quốc từ xa xưa đã coi ĐTHT là vị thuốc có tác dụng “Bổ phế ích can, bổ tinh điền tuỷ, chỉ huyết hoá đàm” , “Bổ phế ích thận, hộ dưỡng tạng phủ”, “Tư âm tráng dương, khư bệnh kiện thân”; là loại thuốc “Tư bổ dược thiện”, có thể chữa được “Bách hư bách tổn”. Mặt khác các nghiên cứu cổ truyền cũng như các thực nghiệm hiện đại đều xác định ĐTHT hầu như không có tác dụng phụ đối với cơ thể người và động vật. Liều uống ĐTHT an toàn đối với chuột thí nghiệm là trên 45g/1kg thể trọng.

Cordyceps militaris (Nhộng trùng thảo)


Cordyceps capitata

Cordyceps ditmarii

Cordyceps gracilis Cordyceps sphecocephala

Ứng dụng của Đông trùng dạ thảo:
Các nghiên cứu y học và dược học đã chứng minh được các tác dụng sau đây của ĐTHT:
1-Chống lại tác dụng xấu của các tân dược đối với thận, thí dụ đối với độc tính của Cephalosporin A.
2-Bảo vệ thận trong trường hợp gặp tổn thương do thiếu máu.
3-Chống lại sự suy thoái của thận, xúc tiến việc tái sinh và phục hồi các tế bào tiểu quản ở thận
4-Làm hạ huyết áp ở người cao huyết áp
5-Chống lại hiện tượng thiếu máu ở cơ tim
6- Giữ ổn định nhịp đập của tim
7-Tăng cường tính miễn dịch không đặc hiệu
8- Điều tiết tính miễn dịch đặc hiệu
9-Tăng cường năng lực thực bào của các tế bào miễn dịch
10-Tăng cường tác dụng của nội tiết tố tuyến thượng thận và làm trương nở các nhánh khí quản.
11-Tăng cường dịch tiết trong khí quản và trừ đờm
12-Làm chậm quá trình lão hoá của cơ thể
13- Hạn chế bệnh tật của tuổi già
14-Nâng cao năng lực chống ung thư của cơ thể
15- Chống lại tình trạng thiếu oxygen của cơ thể
16- Tăng cường tác dụng lưu thông máu trong cơ thể
17- hạn chế tác hại của tia gamma đối với cơ thể
18- Tăng cường tác dụng an thần, trấn tĩnh thần kinh
19-Tăng cường việc điều tiết nồng độ đường trong máu
20-Làm giảm cholesterol trong máu và chống xơ vữa động mạch.
21-Xúc tiến tác dụng của các nội tiết tố (hormone).
22- Tăng cường chức năng tiêu hoá và hấp thu các chất dinh dưỡng
23- Ức chế vi sinh vật có hại, kể cả vi khuẩn lao
24- Kháng viêm và tiêu viêm
25- Có tác dụng cường dương và chống liệt dương
Vì ĐTHT thu nhặt từ thiên nhiên chỉ có hạn, môi trường tự nhiên thích hợp cho sự phát triển của ĐTHT lại toàn là các vùng núi non và cao nguyên hiểm trở, xa xôi, cho nên việc chứng minh các hoạt chất đều tập trung trong nấm Cordyceps sinensis và việc thành công trong việc nuôi cấy ở quy mô công nghiệp (với nồi lên men) hoặc ở quy mô thủ công nghiệp (nuôi trên môi trường xốp trong các lọ miệng rộng có nút bông)

Chuột Rút





Đang đắm mình trong giấc ngủ say, đột nhiên ông Vân thấy bắp chân co giựt liên hồi rồi đau nhức từ gót chân lên đầu gối, đau chịu không nổi, như cắt thịt đứt da. Ông nhăn nhó ôm chân la làng. Bà Vân nằm bên cạnh vội vàng nhổm dậy, kiếm hộp dầu cù là thoa thoa, bóp bóp, an ủi.
Mấy phút sau, cơn đau giảm dần nhưng bắp chuối còn mỏi. Ông bà Vân không ngủ trở lại được, bèn rủ nhau dậy nấu nước sôi pha trà Thái Nguyên uống, nhắc lại chuyện đời xưa
Sáng hôm sau lật đật đi bác sĩ để tìm hiểu nguyên do, điều trị. Từ mấy tuần lễ nay, chân ông cứ bị đau thắt như vậy nhiều lần.

Thưa đó là ông Vân đã bị chứng “chuột rút” ở bắp thịt dưới chân.
Ông Vân chẳng phải là người duy nhất với “nửa đêm thức giấc đau chân” như vậy. Cùng lúc đó có cả triệu người khác cũng đang ôm chân nhăn nhó. Con chuột nó rút cơ bắp chuối của quý thân hữu và nó không chịu nhả ra, cơ liên tục co cứng, gây đau.
Tiếng Hồng Mao gọi là “leg cramp”, tiếng lóng “Charley horse” người mình gọi giản dị là “Chuột rút” hoặc “Vọp bẻ”.

Vậy Chuột Rút là gì?
Chuột rút là sự co đột ngột, ngoài ý muốn và gây đau ở một bắp thịt làm cho cử động khó khăn.
Chuột rút có thể xẩy ra ở bất cứ bắp thịt nào, nhưng thường thấy ở bắp chuối giữa đầu gối và cổ chân, bắp thịt đùi và hông (cơ đùi trước và đùi sau giữa đầu gối và hông), dọc theo bàn tay, bàn chân và cơ bụng. Cơ co có thể chỉ lâu vài giây đồng hồ tới vài phút nhưng cũng có thể hết đi rồi co trở lại.
Bệnh thường xẩy ra vào ban đêm khi đang ngủ hoặc mới thức giấc; sau khi vận động, sử dụng cơ bắp lâu dài.
Bệnh thấy ở mọi giới mọi tuổi nhưng nhiều hơn ở trẻ em và lão niên trên 65 tuổi, người mập phì , vận động viên thể dục thể thao, nam nhiều hơn nữ.

Nguyên Nhân Nguyên nhân của chuột rút chưa được biết rõ, có thể là là do vận động quá mức hoặc trong tình trạng tĩnh tại quá lâu như khi ngủ ban đêm, khi ngồi lâu cùng vị trí.

a-Chuột rút ban đêm có thể vì: -Ban ngày đứng lâu trên mặt bằng cứng, cơ bắp không hoạt động, cứng nhắc
-Có tật ở bàn chân, như trường hợp không có độ cong của mu bàn chân, gót chân nằm phẳng trên mặt đất (flat-foot) khiến cho bắp thịt luôn luôn căng
-Thiếu nước trong cơ thể
-Người hơi mập, chân chịu sức nặng liên tục
-Mang giầy quá chật, gót quá cao
-Mất cân bằng chất điện giải trong máu
-Tác dụng của một số dược phẩm như thuốc statin, prednisone, thuốc lợi tiểu chữa cao huyết áp làm giảm K và magnesium trong máu,
-Thiếu K, Na. vì ói mửa, tiêu chẩy, đổ nhiều mồ hôi
-Chuột rút trong các bệnh tiểu đường, Parkinson, đường huyết thấp, thiếu hồng cầu, bệnh tuyến giáp hoặc nội tiết, bệnh thận đang lọc máu...
-Rối loạn tuần hoàn, bệnh mạch máu chi dưới khi đi lại nhiều

b-Chuột rút sau khi vận động thường thấy ở các bắp thịt lớn, kéo dài tới vài chục giây đồng hồ. Nguyên do có thể vì:
-Cơ bắp mệt mỏi
-Vận động quá lâu, quá mạnh
-Vận động khi thời tiết quá nóng hoặc quá lạnh
-Mất chất điện giải trong cơ thể như K, magnesium, muối natri, calcium.
-Tích tụ acid lactic trong bắp thịt sau khi vận động lâu dài.
- Mới đây có giải thích cho rằng, rối loạn dẫn chuyền tín hiệu giữa cơ bắp và dây thần kinh bị rối loạn, cho nên dù não bộ muốn cơ thư giãn sau khi co nhưng cơ vẫn tiếp tục co, gây ra đau. Theo giải thích này, người ngồi làm việc lâu, ngồi không ngay ngắn đúng vị thế cũng hay bị chứng co cứng cơ đau nhức này.

c-Sách Danh Từ Y Học do bác sĩ Lê Khắc Quyến soạn có ghi nhiều chứng chuột rút liên quan tới một số nghề nghiệp khác nhau như chuột rút thợ cạo, chuột rút người đánh máy, chuột rút văn sĩ, chuột rút người hầu bàn, chuột rút điện báo viên, chuột rút người vắt sữa bò, chuột rút diễn giả...Đây là những công việc mà người thực hiện phải dùng đi dùng lại một số bắp thịt. Riêng trường hợp chuột rút nhà diễn giả, chắc là hăng say, miệng dính chặt vào micro, nói thao thao bất tuyệt, nên con chuột trong bắp thịt lưỡi mệt mỏi, co cứng.


Điều trị Thường thường chuột rút không kéo dài lâu và không gây ra hậu quả trầm trọng. Tuy nhiên, khi đang lái xe, điều khiển máy móc hoặc đang bơi lội thì tai nạn có thể xảy ra. Sau đây là một số phương thức nên áp dụng để giải tỏa cơn đau:
-Nhẹ nhàng thoa bóp bắp thịt bị co
-Khi chuột rút ở bắp chuối, nhè nhẹ vươn duỗi cơ theo chiều đối ngược: kéo đầu ngón chân và bàn lên phía trần nhà, hướng về đầu gối.
-Khi co cơ bắp đùi, nhờ người kéo thẳng chân ra, nâng cao gót chân đồng thời ấn đầu gối xuống.
-Khi co cơ xương sườn, nên hít thở sâu để thư giãn cơ hoành đồng thời xoa bóp nhẹ các bắp thịt quanh ngực
-Tắm nước nóng để thư giãn bắp thịt
-Thong thả đạp xe đạp chừng dăm phút trước khi đi ngủ
-Đặt một cái chăn ở cuối chân giường để các ngón và bàn chân khỏi chúi xuống trong khi ngủ. Bàn chân chúi xuống làm căng thẳng bắp chuối.
-Mang giày thích hợp, không bó chặt bàn chân, gót giày không quá cao.
-Bơi lội cũng giúp nhả duỗi cơ bắp, giảm co cứng cơ.
-Mang tất đàn hồi hơi ép vào mạch máu để tránh máu ứ đọng ở tĩnh mạch hạ chi.
Có người nói để một cục xà bông dưới khăn phủ giường để tránh chuột rút. Xin quý thân hữu áp dụng thử coi và “công bố” kết quả cho bà con biết mà làm theo.

Thuốc Quinine sulfate được coi như khá công hiệu để điều trị chuột rút, nhưng có nhiều tác dụng ngoại ý không tốt (ù tai, rối loạn thị giác, chóng mặt, buồn nôn, giảm tiểu cầu, rối loạn nhịp tim), cho nên cần được sự hướng dẫn và theo dõi của bác sĩ khi dùng. Vì lẽ đó, từ năm 1995, Cơ quan Thực Dược Phẩm Hoa Kỳ cấm bán tự do các loại thuốc bổ (tonic) có chất quinine. Đang có thai, bệnh thận, bệnh tim không được dùng quinine.

Dược phẩm có hoạt chất diphenhydramine hydrochloride (benadryl), sinh tố E, thuốc thư giãn cơ (equanil, miltown), veramil hydrochloride (Calan, Isoptin, Verelan), chloroquine phosphate (Aralen Phosphate) và hydroxychloroquine sulfate (Plaquemil sulfate) cũng có đôi chút công hiệu.

Phòng ngừa
Phòng bệnh hơn chữa bệnh, cho nên xin hiến vài mẹo vặt để phòng tránh:
-Uống nước đầy đủ. Liên hệ nhân quả giữa thiếu nước và chuột rút chưa được biết rõ, nhưng khi cơ thể thiếu nước thì chuột rút xẩy ra. Vì thế, cần uống nước đầy đủ trước, trong khi và sau khi tập luyện cơ thể và trước khi đi ngủ buổi tối.

-Thư giãn cơ bắp trước và sau mỗi lần vận động cơ thể.

-Tập vươn duỗi chân mỗi buổi sáng, trước khi ăn và trước khi đi ngủ vào buổi tối:
a-Đứng thẳng cách xa tường 15 cm, gót chân chạm đất
b-Giữ gót chân chạm mặt đất, ngả mình về phía trước, hai bàn tay chống lên tường
c-Đẩy hai bàn tay lên trên, giống như lau tường, càng cao càng tốt
d-Giữ nguyên vị trí trong 30 giây, rồi buông tay xuống, thư giãn.
Nhắc lại các động tác trên năm lần.

-Khi ngồi, co bàn chân về phía đầu gối càng cao càng tốt. Làm như vậy để máu dễ dàng lưu thông ở bắp chuối
Trước khi vận động cơ thể, nên dành mươi phút “hâm nóng” toàn thân và “vươn duỗi” cơ bắp để tránh chuột rút.

Chuột rút bắp chân khi có thai Phụ nữ có thai thường hay bị chuột rút vào tháng thứ sáu của thai kỳ và kéo dài khi bụng ngày càng lớn. Khó khăn thường xảy ra vào ban đêm.
Nguyên nhân chưa được biết rõ. Có ý kiến cho là vì :
-Thiếu calcium, phospho, magnesium,
- Do các cơ ở dưới chân phải mang sức nặng quá lâu của dạ con, thai nhi nên mệt mỏi hoặc
-Thai nhi và tử cung lớn dần, cơ và dây chằng tử cung căng giãn
- Sức nặng và độ lớn của tử cung ảnh hưởng lên các mạch máu ở hạ chi.

Để tránh khó khăn này:
-Không nên đứng hoặc ngồi tréo chân quá lâu
-Vươn duỗi bắp thịt cẳng chân (bụng chân, bắp chuối) nhiều lần trong ngày và trước khi đi ngủ.
-Cử động khớp cổ chân, các ngón chân trong khi ngồi, ăn cơm, đọc sách báo hoặc coi TV
-Chậm rãi đi bộ nếu bác sĩ không cấm
-Tránh làm việc quá mệt mỏi, nằm nghỉ khi cần
-Uống nước đầy đủ.
-Tắm nước ấm trước khi đi ngủ để thư giãn bắp thịt

Nếu đang bị chuột rút, có thể thoa bóp bắp thịt hoặc chườm với bình nước nóng; vươn duỗi bắp chuối, kéo bàn chân và ngón chân về phía ống quyển, nhẹ nhàng đi lại để bắp thịt thoải mái, tránh chúi đầu ngón chân khi thả lỏng bắp thịt...
Có ý kiến cho là dùng thêm calcium hoặc magnesium cũng giúp giảm thiểu chuột rút, nhưng nên hỏi ý kiến bác sĩ trước khi dùng.

Nếu chuột rút kéo dài, xảy ra nhiều lần thì nên đi bác sĩ để tìm ra căn nguyên và điều trị, vì đôi khi có thể là do cục máu hạ chi.

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức

Loại Bỏ Bệnh Lao Trong Đời Mình


Robert Koch (1843-1910, Nobel 1905
Ngày 24 tháng Ba của mỗi năm đã được Cơ Quan Y tế Thế giới chọn là  “TB Day”.
Chủ đề năm 2012 của Tuberculosis  Day là “Stop TB in My Lifetime”. Vì bệnh Lao vẫn còn là một bệnh có sức tàn phá rất mạnh. Thống kê năm 2008 cho hay trên thế giới có trên 1.3 tỷ người bị nhiễm, 15 triệu người mang bệnh và số tử vong mỗi năm lên tới 2.5- 3 triệu.  
Tại Mỹ, bệnh lao đã giảm rất nhiều. Năm 2010 có 11,182 ca mà phần đông thấy ở di dân, người vô gia cư, người nghiện chích thuốc, bệnh nhân bị liệt kháng HIV.
Theo văn phòng Y Tế Thế Giới, tại Việt Nam, bệnh lao còn khá phổ biến và đứng hàng thứ 12 trong 22 nước có số bệnh nhân lao cao trên thế giới. Mỗi năm, Việt nam có khoảng 175,000 ca lao mới đủ loại trong đó  lao phổi dương tính với vi khuẩn Koch là 60,000. Tồng số bệnh nhân lao lưu hành lên tới trên 260,000 người. Tử vong hàng năm là 30,000, nghĩa là cứ 18 phút có một người chết vì lao.
Trong những năm gần đây, bệnh lao trở nên khó chữa vì sự xuất hiện của các vi khuẩn lao kháng thuốc.
Với “Stop TB in My Lifetime”, các tổ chức y tế trên toàn thế giới cổ võ mọi người từ trẻ tới già tự nguyện tìm mọi cách để loại bỏ bệnh lao. Vì Bệnh Lao có thể phòng ngừa và điều trị được.
 Để thực hiện được hoài bão này, cần biết bệnh lao là gì và làm sao loại bỏ.
Xin cùng ôn lại mấy điều về bệnh Lao.

 1-Nguyên nhân nào gây ra bệnh Lao?

Trái Dứa, Sỏi Thận, Phèn Chua

Dứa là trái cây của miền nhiệt đới, có nguồn gốc từ các quốc gia ở Trung và Nam Mỹ.

Khi Christopher Columbus thám hiểm Mỹ châu, thấy dứa trồng ở quần đảo Guadeloup rất ngon, bèn mang về cống hiến nữ hoàng Tây Ban Nha Isabella Đệ Nhất. Từ đó, dứa được đem trồng ở các thuộc địa của Tây Ban Nha, nhất là các quốc gia thuộc khu vực Thái Bình Dương.

Cây dứa thân ngắn, lá dài và cứng với gai mọc ở mép, quả có nhiều mắt; phía trên có một cụm lá.

Nông trại trồng dứa quy mô lớn đầu tiên trên thế giới được thiết lập ở Hawai vào năm 1885. Quần đảo này dẫn đầu về sản xuất dứa trên thế giới cho tới năm 1960. Sau đó, Phi Luật Tân là nước trồng nhiều và xuất cảng nhiều nhất. Các quốc gia khác ở Đông Nam Á châu cũng sản xuất một khối lượng dứa khá lớn.

Nhờ kỹ thuật canh tác hàng loạt cho nên nhu cầu dứa được cung cấp đầy đủ với giá phải chăng. Dứa có quanh năm, nhưng nhiều nhất là vào tháng 6 tháng 7. Trung bình từ lúc trồng tới lúc thu hoạch là 18 tháng. Dứa thường được hái khi đã chin, sẵn sàng để ăn.

Dinh dưỡng
Dứa có nhiều sinh tố C, chất xơ pectin và chất gum. Một ly dứa tươi cung cấp 25mg sinh tố C; 0,1mg thiamine; 16mcg folate; 0,15mcg sinh tố B 6; 17mg magnesium; 0,5mg sắt; 2gr chất xơ và 80 calori.

Dứa còn có chất bromelain, một loại enzyme tiêu hóa giống như papain của đu đủ. Bromelain có tác dụng làm mềm và phân hóa chất đạm ra nhừng phân tử nhỏ để cơ thể có thể sử dụng, cấu tạo tế bào đồng thời cũng tạo cho thịt hương vị thơm ngon. Br có thể gây ra dị ứng da cho người tiêu thụ.

Dứa đóng hộp còn giữ được sinh tố C nhưng bromelain bị hơi nóng thiêu hủy.

Áp dụng y học
Theo American Cancer Society, dứa có chất Bromelain mà một số nghiên cứu cho là có công dụng hỗ trợ trong điều trị một số bệnh như:
-Có thể dùng bromelain chung với thuốc điều trị ung thư để giảm thiểu tác dụng phụ của xạ trị, như là viêm cuống họng và miệng;
-Vì bromelain là một enzyme chuyển hóa chất đạm cho nên có thể dùng thêm để hỗ trợ tiêu hóa cho những người thiếu enzyme này;
-Bromelain có tác dụng ngăn ngừa tiểu cầu dính với nhau, cho nên có thể dùng thêm để tránh tình trạng máu đóng cục;
-Nghiên cứu khác cho hay bromelain có tác dụng chống viêm sưng trong bệnh viêm khớp, viêm xoang, vết thương do sâu bọ cắn hoặc chống nhiễm trùng khi da thịt bị phỏng… Tuy nhiên, Hội Ung Thư Hoa Kỳ cũng nhấn mạnh là cần nhiều nghiên cứu khác nữa để xác định các công dụng này.

Ăn dứa Dứa tươi có hương vị nồng ngọt, rất thích hợp để làm món tráng miệng kích thích tiêu hóa hoặc làm món ăn vặt.
Miếng dứa phía đít, gần phía gốc thường ngon hơn phần khác, vì như kinh nghiệm của ông cha ta là “dứa đằng đít, mít đằng cuống”.
Sau khi gọt vỏ, khía xéo để bỏ mắt, dứa được bổ dọc làm tám hoặc cắt khoanh tròn mỏng vừa phải, rắc thêm một nhúm đường, bỏ tủ lạnh độ 15 phút rồi mang ra ăn thì tuyệt hảo. Nước dứa hòa với đường ngọt húp vào lạnh mát cả người.
Nhiều người lại thích chấm dứa với tí muối ớt, ăn vào vừa ngọt, vừa mặn, hơi cay, rất thỏa mãn khẩu vị đồng thời làm bớt rát lưỡi.
Dứa còn dùng để xào nấu với thịt cá. Món canh chua cá lóc, dứa xanh thêm vài ngọn ngổ thì cơm ba nồi cũng hết.
Khi nấu, hơi nóng làm mềm dứa vì chất cellulose tan rã, dứa hút gia vị và chất ngọt của thịt cá.
Một đĩa xá lách trộn thập cẩm thêm vài miếng dứa thái nhỏ ăn càng ngon.
Năm 1892, một người Anh là Đại úy John Kidwell lần đầu tiên sản xuất dứa đóng hộp. Dứa thường được hái khi đã chín mùi, mà phải chuyên trở xuất cảng đi xa, mau hư cho nên được đóng hộp cho dễ di chuyển. Dứa đóng hộp là dứa đã chín từ dưới cuống trở lên, do đó thường cần đến ba quả mới được một hộp dứa có phẩm chất tốt. Dứa hộp được cho thêm nước đường nên có nhiều calori.
Ngoài ra còn dứa sấy khô hoặc nước dứa ép cũng là những món ăn thức uống ngon, bổ.
Mua dứa Mua dứa tươi lựa trái to, nặng nước, toát ra mùi thơm của dứa, lá trên cuống còn xanh. Khi gõ, dứa phát ra một âm thanh đặc, quả dứa cầm thấy chắc tay, không chỗ nào mềm. Vỏ dứa có thể hơi xanh hoặc vàng cũng không sao. Dứa lớn nhỏ đều có chung giá trị dinh dưỡng như nhau. Tránh dứa đã có mùi lên men vì quá chin bắt đầu ủng. Dứa có thể cất giữ trong tủ lạnh hoặc ở ngoài.
Lưu ý Dứa rất lành. Đôi khi dứa có thể gây dị ứng nhẹ ở da vì có chất bromelain . Tại các tiệm bán “thực phẩm tốt” Health Food lại có bán viên Bromelain và được giới thiệu là chữa được bệnh tim, phong khớp và vài bệnh khác.
Dứa có chất tyrosine. Một vài u bướu hạch nội tuyến cùng tiết ra nhiều tyrosine. Vì thế, mấy ngày trước khi thử máu tìm u bướu này lại ăn dứa thì thử nghiệm có thể sai lệch, cho kết quả dương tính mà thực ra không có.
Một vài nghiên cứu khoa học cho hay là trên mắt vỏ dứa có một hóa chất không tốt cho sức khỏe. Vì thế, tốt nhất là nên tránh ăn mắt dứa.

Sỏi thận và dứa 
Bây giờ, xin trở lại với Sỏi thận và dứa cộng với phèn chua.
Sỏi thận là một vật rắn đặc thành hình từ nhiều hóa chất khác nhau trong nước tiểu:
-Sỏi calcium oxalate chiếm 80% các loại sỏi thận và đa số là do di truyền, calcium không dùng trong việc tạo xương và loại ra theo nước tiểu. Ngoài ra tiêu thụ quá nhiều thực phẩm chứa nhiều oxalate như rau spinach, cocoa, đậu phọng, các loại hạt, ớt, nước trà; ăn nhiều muối hoặc dùng bổ sung calcium viên cũng tăng tủi ro loại sạn này. Sạn calci rất cứng.
-Sỏi với chất struvite (Magnesium ammonium phosphate) thường thấy trong bệnh nhiễm trùng đường tiểu tiện, đặc biệt là ở nữ giới và được điều trị bằng cách tiêu diệt tác nhân gây bệnh.
-Sỏi với chất uric acit do tiêu thụ nhiều chất đạm động vật thịt, cá, gà gây ra vì các thực phẩm này cho chất purine, tiền thân của uric acit. Giới hạn các thực phẩm này và tăng độ kiềm của nước tiểu có thể giảm thiểu nguy cơ gây sạn.
-Sỏi với các chất amino acit cystine, rất hiếm. Đây là bệnh bẩm sinh trong đó thận không tái hấp thụ được chất cystine. Chất này luân lưu trong nước tiểu và kết tụ thành sỏi. Chữa trị bằng cách uống nhiều nước để loại cystine ra ngoài đồng thời giảm độ acit của nước tiểu.
Nam giới bị sỏi thận gấp đôi nữ giới và thường thấy vào tuổi từ 30 tới 50. Một đời sống quá tĩnh tại, bệnh nhân cao huyết áp, tiểu đường và mập phì cũng tăng rủi ro bị sạn thận. Nghiên cứu mới đây cho hay tình trạng hâm nóng toàn cầu đưa tới khô nước cũng làm tăng rủi ro sỏi thận. Ngay cả các phi hành đoàn bay trong không gian cũng tăng rủi ro này vì họ ít uống nước Hiện nay, y học thực nghiệm chữa sỏi thận bằng nhiều cách và căn cứ vào các chất kết tinh thành sỏi. Do đó, khi tiểu ra sạn cần cất giữ sạn và đưa cho phòng thí nghiệm để phân tích thành phần cấu tạo.

Nếu sạn còn nhỏ, uống nhiều nước để loại sạn qua nước tiểu là cách hữu hiệu nhất.
Với sỏi lớn, có thể đưa một dụng cụ nhỏ vào thận, nghiền sạn rồi gắp sạn ra hoặc đập vụn sạn với sóng nước (shock wave lithotripsy).
Nên nhớ có thể phòng tránh sạn bằng cách uống nhiều nước. Khi nước tiểu loãng thì sạn khó mà kết tụ với nhau. Khi nước tiều đục vàng thì sạn sẽ kết tụ.
Cũng nên nhớ rằng loại sạn thận calcium oxalte rất cứng khó mà có chất nào có thể khiến chúng hóa nhỏ tiêu tan.
Về chữa sỏi thận với dứa và phèn chua, chúng tôi đã cố gắng tìm xem có kết quả nghiên cứu nào xác định hoặc hỗ trợ công dụng trị sỏi thận theo kinh nghiệm dân chúng hoặc theo lý luận của một số nhà y học cổ truyền với dứa và phèn chua, nhưng mà chưa có cơ duyên tìm ra.
Sách những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của giáo sư Đỗ Tất lợi có ghi là dân chúng còn dùng rễ cây dứa làm thuốc lợi tiểu, chữa tiểu tiện khó khăn, đái ra sỏi thận. Có lẽ là uống nhiều nước rễ cây dứa có thể đẩy các tinh thể tạo sỏi trong nước tiểu ra ngoài cơ thể.
Bệnh viện chuyên trị bệnh thận Devasya Kidney bên Ấn Độ khuyên dân chúng muốn giúp thận lành mạnh nên tiêu thụ các loại nước dứa, chanh, cà rốt, chuối …nhưng không giải thích tại sao. Cũng có lẽ là uống nhiều các loại nước này.
Tuy nhiên có nhiều ý kiến cho rằng thực phẩm có nhiều ảnh hưởng lợi và bất lợi đối với sự thành hình sỏi thận. Chẳng hạn:
-Với sạn calcium oxalate, nên giảm thiểu tiêu thụ món ăn có nhiều oxalate như chocolat, caffeine, các loại hạt, hạt tiêu đen, rau spinach, dâu, các loại đậu; đồng thời nên bớt muối, đường. Nên tiêu thụ chuối, gạo đỏ, oat, rye, bắp, cám, barley. nước trái cranberry, dứa, chanh cam. Bệnh nhân loãng xương cần bổ sung calci nên dùng loại calcium citrate. Dứa tương đối có ít oxalate calcium, một hóa chất của sỏi calcium.
-Với sạn uric acid, nên giới hạn tiêu thụ đạm động vật có nhiều purine/acit uric như thịt bò, thịt cừu, gà, cá sardine, gan và thực vật như nấm, pumpkins, cauliflower, các loại đậu, rượu bia, rượu vang để giảm uric acid. .
-Với sạn cystine, giới hạn cá vì có nhiều methionine.
Về bài thuốc dứa-phèn chua, chúng tôi nghĩ là ta có thể dùng dứa. Uống nhiều nước dứa có thể khiến cho các tinh thể tạo sỏi tiết niệu loãng ra, không kết tụ với nhau và loại ra ngoài qua tiểu tiện. Nhưng cũng xin nhắc lại rằng nhiều loại sỏi thận là những tinh thể kết tụ với nhau, khá cứng, đập mạnh mới làm vỡ được.
Riêng phèn chua thì nên cân nhắc một chút.
Phèn chua là muối kép của nhôm và potassium. Đây là chất mà dân chúng thường dùng để làm cho nước có vẩn đục trở thành trong: muối nhôm kết tụ các vẩn đục này, lắng xuống đáy, nhờ đó nước trở thành trong và dùng được. Tìm kiếm, chúng tôi chưa thấy ý kiến nào nói đến công dụng của phèn chua đối với sỏi thận, ngoại trừ một số thân hữu cho hay họ cũng đã dùng dứa với phèn chua và có kết quả. Tuy nhiên, theo giáo sư Nguyễn Lân Dũng, Việt Nam, thì phèn chua không có công dụng gì trong việc làm tan sỏi tiết niệu (Sách Hỏi Gì- Đáp Nấy). Đồng thời có người thắc mắc là liệu phèn chua có làm cho các chất calci trong nước tiểu dễ dàng kết tụ với nhau để đưa tới sạn.
Ngoài ra, một số nghiên cứu cho hay muối nhôm, tuy không độc, nhưng nếu tiếp xúc lâu ngày với lượng quá cao trong nước uống có thể gây ra rối loạn cho sự sinh đẻ, cho hệ thần kinh. Mới đây, vài nghiên cứu sơ khởi cho rằng chất nhôm có thể là rủi ro gây ra bệnh Alzheimer.
Cho nên, để an toàn, có lẽ cũng chẳng nên dùng phèn chua với hy vọng “bàng quang mềm ra và sỏi vỡ ra “.
Mong nhận được ý kiến của quý vị có nhiều hiểu biết.
Bác sĩ Nguyễn Ý Đức

Texas- Hoa Kỳ.

Thay thận

Với bệnh nhân bị suy cả hai trái thận và đã trải qua nhiều năm lọc máu nhân tạo, thay thận là một trị liệu nên làm, vì:

-Không còn phải phụ thuộc vào lọc máu mỗi tuần lễ ba lần.
-Cảm thấy thoải mái, khỏe mạnh, nhiều sinh lực hơn sau khi nhận thận mới.
-Không phải kiêng khem ăn uống và giới hạn hoạt động hàng ngày như trường hợp lọc máu.
-Tuổi thọ kéo dài hơn là nếu tiếp tục lọc máu. Tỷ lệ sống sót sau ghép thận là:
*92% với 1 năm
*80% với 5 năm
*54% với 10 năm
-Trong lâu dài, chi phí cho thay thận ít hơn so với lọc máu suốt đời.
Phẫu thuật thay thận hiện nay rất phổ biến với kỹ thuật tân tiến, ít biến chứng. Rủi ro chính là:
-sự chối từ rejection thận mới, nhưng có thể hóa giải được bằng thuốc ức chế miễn dịch.
-nhiễm trùng trầm trọng;
-xuất huyết;
-phản ứng với thuốc mê…
Bình thường thì nhóm máu và mẫu mô bào của người cho và người nhận phải phù hợp để tránh sự chối bỏ cơ quan do tính miễn dịch người nhận tấn công mô mới ghép. Ngày nay, nhờ trị liệu miễn dịch đặc biệt ở người nhận trước khi cấy ghép cho nên trở ngại trên đã được loại bỏ.
Sau đây là mấy hiểu biết căn bản cho người muốn ghép thận và người hiến thận. Người bị thận suy, chỉ cần nhận được một trái thận là đủ kéo dài cuộc sống bình thường.


Người nhận.
1-Suy thận vì những lý do sau đây đều được ghép thận:
-Bệnh tiểu đường
-Viêm thận-tiểu cầu (Glomerulonephritis)
-Cao huyết áp trầm trọng và không kiểm soát được
-Một vài loại bệnh nhiễm.


2-Không được ghép thận nếu:
-Có bệnh nhiễm như bệnh lao.
-Không thể uống thuốc mỗi ngày trong suốt cuộc đời còn lại
-Đang có bệnh tim, phổi hoặc gan
-Có các bệnh khác có thể đe dọa tới tính mệnh.
3-Sửa soạn ghép
Bệnh nhân phải sẵn sàng tuân theo các chương trình y tế trước và sau khi giải phẫu, như là tự chăm sóc và dùng dược phẩm ức chế miễn dịch mỗi ngày, suốt đời để tránh cơ thể chối từ thận mới.
Phải hợp tác chặt chẽ với bác sĩ và các chuyên viên để hưởng lợi ích tối đa và giảm thiểu rủi ro của phẫu thuật.
Trước khi nhận thận, bệnh nhân cần được bác sĩ khám tổng quát rất kỹ và làm một số thử nghiệm như:
-Thử máu để biết loại máu cùa mình có thích hợp với thận người cho hoặc coi xem có bị bệnh nhiễm như HIV, viêm gan.
-Chụp hình tim phổi, đo điện tâm đồ.
-Chủng ngừa các bệnh viêm gan, viêm phổi… để tăng cưởng khả năng miễn dịch bảo vệ cơ thể.
Đồng thời cũng phải thảo luận với các giới chức liên hệ về chi phí, vì chi phí cho một cuộc thay thận và thuốc men cần uống suốt đời đều khá cao.
Phẫu thuật kéo dài khoảng 3 giờ.
Thận cho được đặt vào phần dưới của bụng; mạch máu thận người cho nối với mạch máu người nhận; ống dẫn tiểu nối với bàng quan người nhận. Thận cho bắt đầu hoạt động ngay.
Trong đa số các trường hợp, thận bị suy không cần lấy ra trừ khi bị nhiễm trùng trầm trọng, ung thư thận, hội chứng hư thận (nephrotic syndrome) hoặc thận đa nang ( polycystic kidney.)
4-Những việc cần làm sau khi ghép thận
Ghép thận là một đại giải phẫu, thường là phải ở lại bệnh viện từ 7 tới 10 ngày rồi cần ít nhất 6 tuần lễ để hồi phục. Sau đây là một sồ điều nên lưu ý:
a-Để ý theo dõi xem có dấu hiệu cơ thể từ chối thận mới, như là nhiệt độ cơ thể trên 38C ( 104F), giảm lượng nước tiểu, tăng cân trên 2lb (900gr) trong 1 tuần lễ, tăng huyết áp, cảm giác đau ở vùng thận.
b-Uống thuốc theo đúng hướng dẫn: không bẻ nhỏ thuốc, không quên một liều nào, không uống gấp đôi khi quên.
3-Giảm thiểu muối để tránh ứ nước; tránh rượu vì rượu gây tổn thương cho thận đặc biệt là khi dùng chung với thuốc ức chế miễn dịch.
4-Tránh làm công việc nặng nhọc trong 6 tuần lễ. Khi nằm nên cử động hạ chi để tránh máu cục.
5-Giới hạn tiêu thụ các thuốc chống đau trong tuần lễ đầu sau giải phẫu, ngoại trừ khi có chỉ định khác của bác sĩ.
6-Sinh hoạt bình thường trở lại khi thấy có thể, nhưng không nên cố gắng quá sức, không nâng nhấc vật nặng, không làm tổn thương tới trái thận mới.
7-Đo ghi nhiệt độ, huyết áp trước và sau bữa ăn trưa, tối. Thông báo cho bác sĩ nếu nhiệt độ cao quá 99.6F
8-Cân trọng lượng cơ thể mỗi ngày vào cùng giờ và thông báo cho bác sĩ ngay nếu tăng 2 lb một tuần lễ.
Người cho thận
Thận có thể được lấy từ:
-Người mới mãn phần, không có bệnh thận mãn tính. Đa số thận cho đều do nguồn cung cấp này.
-Người cho còn sống có liên hệ với người nhận như cha, mẹ, anh chị em hoặc con cái. Tỷ lệ thành công rất cao ở trường hợp cho này vì không bị chối từ.
-Người cho còn sống nhưng không có liên hệ gia đình, như bạn bè.
Người cho không nên quá mập, không cao huyết áp, ung thư, bệnh nhiễm mãn tính, bệnh tim, thận.
Đôi khi, người cho cũng được yêu cầu làm một trắc nghiệm tâm lý để coi họ có hiểu rõ ý nghĩa và rủi ro có thể xảy ra khi cho thận.
Họ có thể thay đổi ý kiến vào phút chót và họ cũng không nên có ý nghĩ là cho thận tức là có quyền kiểm soát đời sống người nhận.
Luật lệ Hoa Kỳ cũng như nhiều quốc gia khác không cho phép người cho nhận tiền khi hiến thận.
Chi phí cho các dịch vụ y tế khi cho thận như thử nghiệm, phẫu thuật lấy thận, chăm sóc tại bệnh viện sẽ do bảo hiểm người nhận trả. Tại Hoa Kỳ thẻ bảo hiểm Medicare gánh chịu các phí tổn này. Tuy nhiên người tặng không được bồi hoàn các thua thiệt tài chánh trong thời gian cho và nằm bệnh viện cũng như điều trị các bệnh xảy ra do giải phẫu.
Dù thận từ đâu, sự thành công của ghép thật tùy thuộc vào việc tế bào và máu của đôi bên phải càng thích hợp với nhau càng tốt..
Thận người cho được giữ trong nước muối sinh lý lạnh trong vòng 48 giờ để người nhận có thì giờ sửa soạn.
Sau khi cho thận, cần thời gian từ 4-6 tuần lễ để hồi sức. Trong thời gian này, tránh những công việc nặng nhọc.
Theo một kết quả nghiên cứu của Đại học Minnesota được phổ biến trên tạp chí y học New Journal of Medicine ngày 29-1-2009, thì người cho một thận sống lâu và khỏe mạnh như người có hai thận.


Tại Hoa Kỳ hiện nay có 77,000 bệnh nhân trong danh sách đợi để được thay thận.
Mỗi năm có khoảng 17,000 trường hợp ghép thận trong đó 10,500 thận đến từ người mới mãn phần, 6000 thận từ thân nhân bạn bè cho. Thường thường người cần thận phải đợi khá lâu, có khi cả mấy năm mới đến lượt mình.
Vì chờ đợi hơi lâu, có khi cả 5-7 năm, cho nên mỗi năm 4000 bệnh nhân trong danh sách đành mãn phần, xa lánh cõi trần gian.


Kỹ thuật lấy thận
Từ lâu bác sĩ vẫn phải mổ bụng người cho để lấy thận. Vết mổ thường dài, người cho đau nhiều hơn, thời gian nằm bệnh viện và lành vết mổ cũng lâu.
Mới đây, các phẫu thuật gia tại Johns Hopkins University School of Medicine, Maryland, Hoa Kỳ đã thành công lấy trái thận lành mạnh của một phụ nữ qua âm đạo người này để tặng một cô cháu gái. Họ rạch ba vết mổ nhỏ bằng hạt đậu trên bụng để đưa ống nội soi có máy chụp hình và dụng cụ giải phẫu vào trong. Sau khi cắt, thận được bọc trong túi plastic rồi kéo ra ngoài qua một vết mổ nhỏ ở mặt sau âm đạo người cho.
Phẫu thuật kéo dài khoảng 3 giờ như trường hợp mổ bụng nhưng sẹo của lỗ mổ vừa mau lành vừa nhỏ hơn, nằm dưới cạp quần bikini, nên không mất thẩm mỹ.
Bác sĩ Anthony Kallo, Giám đốc bộ môn Dạ Dày-Ruột của đại học Johns Hopkins, người sáng chế phương pháp này, cho biết: “Giải phẫu với ống nội soi qua các lỗ /cửa mở thiên nhiên của cơ thể giúp bệnh nhân có sẹo nhỏ, ít đau đớn và rất an toàn đối với người mập phì”
Thực ra thì các cơ quan bị bệnh như túi mật, thận, ruột dư cũng đã được giải phẫu qua âm đạo hoặc miệng từ lâu, nhưng đây là lần đầu mà thận lành mạnh được lấy qua cơ quan sinh dục người nữ.
Mới đây, ngày 6 tháng 6, 2009, nhóm phẫu thuật tại Đại Học Illinois, Chicago đã sử dụng người máy da Vinci Robotic System đưa qua vết cắt dài 4cm trên da bụng để ghép thận cho một phụ nữ quá mập có nhiều rủi ro lây nhiễm. Nếu áp dụng phẫu thuật cổ điển phải rạch dài từ lớn hơn, 12-16 cm vết mổ lâu lành và dễ nhiễm trùng, chảy máu.
Thực là mầu nhiệm và nhân đạo vì Y khoa học càng ngày càng tiến bộ để phục vụ sức khỏe con người.

















Trái thơm huyền diệu (quả dứa)

Trái thơm vị chua, ngọt, ngoài việc dùng để ăn tráng miệng, làm nước uống, làm bánh, người ta còn dùng để trị bệnh
Tên thông thường: Pineapple, Ananas, Nanas, Pina.
Tên khoa học: Ananas comosus, họ Bromeliaceae
Cùng giống: Ananas ananassoides , Ananas bracteatus...

I/ Nguồn gốc:
Nguồn gốc từ Brazil và Paraguay, được người da đỏ trồng , lan rộng từ Trung và Nam Mỹ đến miền Tây trước khi Christopher Columbus tìm thấy trái thơm trên hòn đảo Guadaloupe (1493) rồi đưa về Tây Ban Nha. Sau đó người Tây Ban Nha mang trái thơm theo tàu, để thủy thủ khỏi bị bịnh Scorbut, thành ra trái thơm được phổ biến khắp thế giới. Họ nhập trái thơm vô Phi Luật Tân và có thể qua tới Hawaii và Guam những thập niên đầu thế kỷ thứ 16 . Trái thơm được nhập qua nước Anh năm 1660 và được trồng trong nhà kiếng khoảng năm 1720. Vào năm 1800 người ta bắt đầu trồng và bán ở Açores, Australie, ở Hawaii và Nam Phi châu. Thái Lan và Phi luật Tân hiện nay là những nước sản xuất thơm quan trọng nhất. Ngày nay thơm được trồng trong hầu hết các nước vùng nhiệt đới, không những tại Nam Mỹ, Trung Mỹ, Caraibes mà còn ở Úc, các đảo của Thái Bình Dương và nhiều nước châu Á và Châu Phi

Người Pháp gọi là "ananas" từ chữ "nana nana" của người da đỏ và thổ dân Paraguay, có nghĩa là "thơm", . Người Tây Ban Nha đặt tên là piña vì nó giống trái thông. Người Anh lấy ý nghĩa này và đặt tên trái này là pineapple.
Thơm là trái cây nhiệt đới, thích hợp với môi trường ẩm thấp, nhưng có thể chịu đựng tới nhiệt độ 28°F (-2°C), nhưng ở nhiệt độ lạnh, cây lớn chậm và trái chua



Hoa thơm

Hoa hơm rụng đi, thành mắt thơm
II/ Thành phần
Trái thơm chứa nhiều enzyme: pectase, invertase, peroxydase, desmolases và nhất là broméline, enzyme đặc biệt nhất của trái thơm. Chất này có trong trái thơm, cộng thơm và lá thơm. Sở dĩ nó làm mềm thịt là nhờ nó có khả năng chia cắt các protéine ra làm những phân tử đơn giản hơn tức là nhỏ hơn (cũng như thể nó "tiêu hóa" giùm ta phần đầu)
Thành phần trung bình cho 100 g thơm

Thành phần (g)
Glucide 11.6
Protide 0.50
Lipide 0.20
Acide hữu cơ 0.90
Nước 84.8
Chất xơ 1.40


Khoáng chất (mg)
Potassium (K) 146.0
Phosphore (P) 11.00
Calcium (Ca) 15.00
Magnésium(Mg) 5.000
Lưu huỳnh (S) 3.000
Sodium (Na) 2.000
Sắt (Fe) 0.300
Đồng (Cu) 0.080
Kẽm (Zn) 0.090
Manganèse(Mn) 0.400
Fluor (F) 0.010
Iode (I) 0.010

Vitamin (mg)
Vitamin C (ac. ascorbique) 18.00
Provitamin A (carotène) 0.060
Vitamin B1 (thiamine) 0.080
Vitamin B2 (riboflavine) 0.030
Vitamin B3 ou PP (nicotinamide) 0.300
Vitamin B5 (ac. panothénique) 0.160
Vitamin B6 (pyridoxine) 0.090
Vitamin B9 (ac. folique) 0.014
Vitamin E (tocophérols) 0.100


So sánh khả năng thủy giải:
Enzyme Khả năng thủy giải tương đương
Pancréatine 100 mg
Trypsine 24 mg
Chymotrypsine 1 mg
Bromélaïne 45 mg
Papaïne 60 mg

III/ Công dụng của broméline
Broméline hiện diện trong thân, lá, cuống thơm nhiều hơn trong thịt trái thơm. Người ta ly trích chất broméline từ vỏ trái thơm, cuống thơm, cọng thơm... , còn thịt trái thơm dùng để ăn.
Ngoài việc phân cắt protéine, (các bạn đừng sợ, vì dạ dày có chất nhờn che chở), ngày nay broméline được trích ra đểđiều chế thuốc tây, để trị nhiều chứng bịnh. Có hai cách trị liệu:
- Uống:
làm giảm đau khớp, làm cho dễ tiêu hóa, tham dự vào việc giải tỏa sự bế tắt đường hô hấp, chữa bịnh viêm xoang, bịnh viêm tĩnh mạch, bớt sự trở lại chứng nhồi máu và những cơn viêm họng, giúp cho một số thuốc hấp thụ được, hỗ trợ cho việc trị các khối ung thư
- Xức bên ngoài:
giúp mau lành sẹo các vết thương dưới da: broméline dùng để làm lành vết thương và thành sẹo nhanh chóng sau khi giải phẫu hay bị thương vì thể thao.

IV/ Những nghiên cứu lâm sàng:
1) Chữa trị chấn thương
Dùng broméline để chữa bệnh sưng phù sau khi bị chấn thương. Dùng với liều lượng cao, sẽ làm giảm đau, sưng phù. Năm 1960 một nghiên cứu trên 146 võ sĩ quyền anh đau vì bị đụng giập và bọc máu thì 78% được chữa trị với broméline thì sau 3-4 ngày là hết ,trong lúc không dùng broméline thì chỉ 14% người lành. Số còn lại thì những người uống broméline hoàn toàn lành hẳn sau 8 ngày so với 14 ngày cho những người không dùng broméline.
2) Chữa thấp khớp:
Hôm tháng 2 vừa qua, những nhà khoa học đã thử nghiệm một tổng hợp mới và hy vọng rằng chất broméline có thể làm giàm đau nhức các chứng thấp khớp (Arthrose) nơi đầu gối hay bả vai
a) Đau nhức xương đầu gối
Các nhà khoa học phân tích kết quả của 10 cuộc nghiên cứu trên tác dụng của chất broméline trên chứng đau khớp đầu gối, với lượng hàng ngày là 60 mg tơi 1890 mg.
Một trong số 10 nghiên cứu đó mang lại kết quả là broméline làm giảm sưng cho 18 bệnh nhân trong số 29 người đau chứng thấp khớp. Một nghiên cứu khác để mở ngõ cho mọi người tham gia, dùng broméline 200 mg, hay 400 mg mỗi ngày và họ cảm thấy rằng sự cử động các khớp xương dễ dàng hơn và đồng thời giảm bớt sự cứng ngắc.
b) Đau nhức bả vai:
Có hai nghiên cứu lâm sàng trên thấp khớp nơi bả vai là cho bệnh nhân dùng liều lượng 540 mg broméline mỗi ngày thì hình như có hiệu quá gấn như chất diclofénec

V / Ăn trái thơm có làm giảm cân không ?
Người ta quảng cáo rằng ăn thơm làm giảm cân vì chất broméline là một "enzyme tiêu mỡ" . Nhưng thực tế thì những cây họ broméliacée có chứa enzyme broméline hầu hết ở trong thân cây, trong cuống, lõi thơm nhưng có ít trong thịt trái thơm.
Broméline là một protéase nên chỉ tác dụng trên các protéine. Công dụng của broméline không đáng kể so với cácenzyme do cơ thể chúng ta tạo ra. Bởi vậy ăn thơm hay uống các viên thuốc broméline trích từ cây thơm, đều không có tác dụng làm giảm cân.