Mở đầu
Chủ đề Hiểu trẻ em – Dạy trẻ em đã được giới thiệu trong kỳ sinh hoạt Câu lạc bộ Sư phạm Cánh Buồm tháng 7 năm 2013[1]. Chủ đề đó dẫn sang chủ đề sinh hoạt sư phạm tháng này: hiểu trẻ em trong sự phát triển tâm lý của chúng. Sự phát triển đó được xem như là kết quả của việc “học”, như là “kết quả của tương tác giữa trẻ em và môi trường sống của nó”[2]
Đó sẽ là vấn đề cách học của đứa trẻ mà nếu người lớn không chịu hiểu tâm lý phát triển của các em thì sẽ luôn luôn rơi vào những trạng thái tiêu cực, cho dù mẫu số chung của những “rắc rối” đều có thể là tình thương yêu khôn cùng của bậc mẹ cha, của nhà sư phạm.
Ta từng thấy trạng thái sốt ruột cảm thấy con mình chậm hơn, kém thông minh hơn con nhà khác, rồi muốn nắm tóc con kéo lên cho mau cao, không khác bao nhiêu với việc nắm cây lúa kéo lên cho lúa mọc nhanh;
trạng thái hí hửng cảm thấy con mình vô cùng thông thái, chưa đến nỗi là thiên tài nhưng nhất quyết phải làm cách gì đó cho nó bao giờ cũng cao hơn, nhanh hơn, xa hơn con nhà khác; trạng thái bi quan khi cảm thấy sự phát triển của con mình không đúng như trông đợi: hoặc là trông đợi con mình hết chậm, hêt “ngố”, hoặc là trông đợi con mình tiếp tục là một nhân tài bé nhỏ…
Để giải quyết ít nhất các tâm trạng trên, cần nghiên cứu tâm lý học phát triển của đứa trẻ. Đây là một chủ đề lớn, kết quả nghiên cứu tích lũy ngày một nhiều, tài liệu nhiều vạn trang, phát kiến có cả ngàn, do đó nhà sư phạm cần có sự lựa chọn của mình – và cũng cầu giời khấn phật cho chọn lựa của mình không bị nhầm.
Sự lựa chọn cảm tính ban đầu đã đưa nhóm Cánh Buồm đến với đường lối giáo dục tự nhiênkiểu Jean-Jacques Rousseau và công cuộc giáo dục cũng tuân thủ sự tự nhiên song khả dĩ lý giải được về khoa học kiểu Jean Piaget. Những chi tiết trong việc này sẽ còn được nói thêm ở các phần tiếp theo, nhất là khi Cánh Buồm “khai báo” chọn lựa thứ ba mang tên Howard Gardner.
Phát triển tự nhiên
Jean-Jacques Rousseau viết Emile, hay là “Về giáo dục” để phát biểu quan điểm của mình trong vấn đề sống còn này của loài người[3].
Sách viết xoay quanh nhân vật tưởng tượng Emile, gồm năm phần - tương ứng với năm giai đoạn phát triển (theo cách chia của Rousseau) từ lúc mới sinh ra cho đến khi trở thành một công dân trong xã hội. Đó sẽ là người công dân tự do cho một xã hội dân chủ lý tưởng. Rousseau phê phán nền giáo dục phong kiến đang thịnh hành: "Người ta không hề hiểu biết tuổi thơ... người ta chỉ chú trọng đến những gì con người cần phải hiểu biết, mà không xem xét những gì trẻ con có thể học được… người ta không nghĩ đến con đường đứa trẻ trở thành người lớn" (Emile, sđd).
Phương pháp giáo dục Rousseau đề ra là phải đi theo sự tiến triển của tự nhiên, theo "luật tự nhiên", theo "quyền tự nhiên", và lấy bản chất con người trong "trạng thái tự nhiên" làm điểm xuất phát. Phải để cho trẻ em được hưởng những quyền của trẻ em và việc chăm sóc, giáo dục phải phù hợp với thể trạng và khả năng nhận thức tựn hiên của trẻ em trong từng giai đoạn.
Theo Rousseau, giai đoạn từ lúc mới sinh cho đến năm hai tuổi, đứa trẻ cần nhất là được chăm sóc để phát triển thể trạng một cách tự nhiên, không gò bó, ít khóc lóc, không chịu thân phận nô lệ ngay từ tấm bé, không bị dọa nạt, không trừng phạt...
Từ hai tuổi tới mười hai tuổi, việc giáo dục không nên lý luận dài dòng, áp đặt những bổn phận. Cách đúng đắn nhất là đừng bao giờ ra lệnh cho trẻ. Đây cũng là giai đoạn để trẻ trải nghiệm để tự hiểu biết bản chất sự vật. Trẻ phải được ra giữa cánh đồng bao la, cho nó tha hồ chạy nhảy, và cho trẻ ngã học được cách đứng dậy, những vết bầm tím sẽ được đền bù bằng sự khoan khoái được tự do.
Emile sẽ lao động đồng áng vất vả, và "trái tim non dại của nó sẽ trào lên phẫn uất khi nó hiểu thế nào là bất công" khi công sức và niềm vui bỏ ra bị người ta lấy đi”.
Nhằm đảm bảo cho trẻ cảm thấy tự do và có hứng thú trong học tập, cần theo cách học mà chơi, chơi mà học. Song trong giai đoạn từ mười một đến mười lăm tuổi, phải dẫn cho trẻ đến với ý niệm "lợi ích" và câu hỏi "Cái đó có ích gì?" là tiếng nói quyết định cho các hành vi trong đời sống. Nói cách khác, giáo dục phải xuất phát từ quyền lợi của trẻ chứ không phải vì mục đích cao siêu nào khác.
Từ 15 tuổi đến 18 tuổi, Emile bắt đầu được giáo dục về đạo đức và tôn giáo. Với Rousseau, đó là cái "tôn giáo tự nhiên" đối lập với kiểu nhồi nhét những thuyết giáo, những tín điều buộc con người phải chấp nhận. Tôn giáo này khiến trẻ em phát triển những tình cảm tự nhiên của nó, từ bi, trắc ẩn, tính thiện và tất cả những tính cách hấp dẫn mà con người tự nhiên ưa thích, ngăn cản những thói ghen tị, tham lam, độc ác có thể bị ảnh hưởng từ xã hội.
Cần cho trang thanh niên thấy rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng và theo bản tính tự nhiên thì không ai sinh ra là vua, là vĩ nhân, là giàu có, "tất cả sinh ra đều trần truồng và nghèo nàn, tất cả đều có thể bị nỗi cơ cực của đời sống, các nỗi buồn, các tai ương, các nhu cầu, các nỗi đau đủ loại, sau hết tất cả đều phải chết. Đó là thực trạng của con người, đấy là cái mà không người nào được miễn trừ".
Muốn hướng thanh niên đến lòng nhân đạo, cần phải cho chúng thấy được khía cạnh đau buồn của số phận ấy và dạy cho chúng hiểu rằng chúng cũng có thể rơi vào số phận những kẻ đau khổ. Do đó, tình thương yêu con người không nên chỉ bó hẹp trong một cộng đồng nhỏ bé, mà phải mở rộng ra toàn nhân loại…
Quan điểm giáo dục “tự nhiên” của Rousseau thực sự hấp dẫn, nhất là khi trong xã hội hễ nói đến giáo dục là người lớn chỉ nghĩ đến dạy bảo áp đặt, bao giờ cũng dựa vào cái thế “vịt đẻ ra trứng” để cho rằng “trứng không được khôn hơn vịt”.
Thế nhưng, quan điểm giáo dục Rousseau cũng có nhiều chỗ cực đoan khó mà theo nổi: chẳng hạn, ai dám đem Emile của riêng mình bỏ lạc trong rừng để Emile nhà mình học địa lý?
Chưa kể, Rousseau vẫn chưa lý giải được cho chúng ta “đường lối giáo dục tự nhiên” là gì, và càng chưa giải thích được vì sao lại phải giáo dục trẻ em một cách tự nhiên.
Sao lại là “tự nhiên”?
Người đặt nền móng tâm lý học cho việc lý giải đó là Jean Piaget, nhà sinh vật học sau chuyển thành nhà tâm lý học người Thụy Sĩ. Jean Piaget sẽ mô tả và lý giải sự phát triển tự nhiên của trí khôn con trẻ (sinh vật học và tâm lý học).
Trước Jean Piaget, nhà sinh vật học Charles Darwin từng theo dõi, ghi chép sự phát triển các ứng xử của chính con trai mình. Nhưng ông không chủ bụng trở thành nhà tâm lý học, nên ba mươi bảy năm sau vào năm 1877 ông mới cho đăng bài báo trên tờ Mind, như một miêu tả đóng góp chung với nhiều miêu tả khác[4].
Không lãng mạn như con người bất hạnh Jean-Jacques Rousseau, bản thân mồ côi và tự mình cùng với một chị thợ giặt cũng sinh ra vài ba đứa con và các con đều gửi nuôi trong nhà Tế Bần, cũng không tham gia nghiên cứu sự phát triển tâm trí của trẻ nhỏ như một thú vui của một ông bố yêu con và yêu khoa học, Jean Piaget điềm đạm đi vào Tâm lý học, để lại những công trình được Albert Einstein đánh giá là giản dị như một thiên tài[5].
Immanuel Kant từng thách thức khoa tâm lý học nếu muốn được coi là khoa học thì cần phải chứng minh được nội dung “khoa học” đó một cách toán học. Jean Piaget không chứng minh tâm lý học bằng toán học. Ông chứng minh theo một cách còn hào hoa hơn là cách toán học: ông viết về sự cần thiết của việc lý giải trí khôn (mặt lý trí của sinh thể người) và sự hình thành “tự nhiên” cái lý trí đó: “Câu hỏi về những quan hệ giữa lý trí và tổ chức sinh học nhất thiết phải đặt ra khi bắt đầu một nghiên cứu về sự hình thành trí khôn con trẻ. (… và từ đó …) rút ra những định đề khởi phát cho việc nghiên cứu.” (“Sự hình thành…”, Sđd).
Piaget cho thấy yếu tố đầu tiên mang tính tự nhiên của sự phát triển một sinh thể là tính thích nghi. Ông viết: "Trí khôn là một sự thích nghi … về cơ bản, đó là một công việc tổ chức, và chức năng của nó là “cấu trúc chặt chẽ” thế giới xung quanh, giống như một cơ thể “tổ chức” cái môi trường ở chính nơi cơ thể đó sinh sống". (“Sự hình thành …”, Sđd)
Còn cần phân biệt sự thích nghi ở đây không đơn giản chỉ là sự bảo tồn và sự sống sót một cách thuần túy “sinh vật học”, tức là sự cân bằng giữa cơ thể của mọi sinh thể với môi trường (cả thực vật, cả những động vật cấp thấp). Vì vậy Piaget muốn ta nhìn rõ hơn về sự thích nghi-trạng thái và sự thích nghi-tiến trình.
Điều kiện cho sự phát triển (thích nghi) mang tính người, đó là khái niệm tính tổ chức. Ông lý giải: “Trên quan điểm sinh học, tổ chức không thể tách khỏi thích nghi: đó là hai quá trình bổ sung của một cơ chế duy nhất, cái thứ nhất là phương diện bên trong của chu trình mà sự thích nghi làm thành phương diện bên ngoài.” (“Sự hình thành…”, Sđd).
Để diễn tả giản dị hơn nữa mấy ý kiến trên về thích nghi – tổ chức, có lẽ ta có thể phát biểu thế này chăng: “thích nghi” chính là sự “học”, còn “tổ chức” chính là kết quả gửi trong những lập luận (tư duy) đi từ những “lập luận” thô sơ nhất (tư duy bằng hình ảnh) sang những lập luận càng ngày càng “có cấu trúc tư duy chặt chẽ”.
Vậy, rốt cuộc, “học tập” là gì trong viễn tuyến tâm lý học phát triển? Thuật ngữ apprentissagecó thể hiểu như là học, như là luyện tập, và đó là quá trình làm thích nghi những tổ chức tư duy của con người với những dữ liệu mới của thực tại. Sự thích nghi đó diễn ra theo hai cách, thích nghi và điều tiết mà theo cách diễn giải đơn giản của người viết bài này, thì thích nghi là chiếm lĩnh cái mới mẻ cho trí tuệ người học, còn điều tiết là dung nạp cái mới học được vào với cái đã học được trước đó để có cái mới mẻ hơn nữa cho trí tuệ người học.
Và chúng ta đã có một lý giải về việc tại sao và như thế nào lại có sự phát triển tâm lý học tự nhiên ở đứa trẻ, và vì sao người lớn phải cư xử tự nhiên với con em. Mọi diễn giải cho tới lúc này vẫn mới chỉ dựa trên những điều Piaget trình bày liên quan đến “sự thích nghi bú mút” ở trẻ trong giai đoạn trí khôn cảm giác–vận động. Piaget đã quan sát và ghi chép vô cùng tỉ mỉ các phản ứng học bú mút của Laurent, Lucienne và Jacqueline, ba đứa con của chính mình. Dựa trên các số liệu đó, Piaget tiến hành phân tích, mà chỉ nếm thử một đoạn nhỏ nào thì cũng thấy vừa làm sáng tỏ được vấn đề vừa vô cùng xúc động trước cách làm việc của một người “giản dị như một thiên tài”.
Nghĩ rằng, chỉ cần nghiên cứu kỹ giai đoạn Piaget phân tích phản xạ bú mút – những giây phút đầu đời của mỗi con người – và ta sẽ thấy thích nghi đây, học tập đấy, luyện tập đấy… và tất cả diễn ra thật tự nhiên, vì nó tiến triển đồng hành với sự sống sinh vật học tự nhiên và cũng đồng hành tiếp theo với cuộc sống tâm trí được điều tiết thật tự nhiên của trẻ em-người học.
Hơn cả giản dị
Thế nhưng, một thời gian dài, người lớn phạm nhiều sai lầm khi tương tác với trẻ em trong “môi trường sống” của chúng. Jeaqn-Jacques Rousseau đã tìm cách chữa chạy tình trạng đó bằng cách kêu gọi đem lại cho con trẻ một nền giáo dục tự nhiên. Nhưng đó vẫn còn là một nền giáo dục tự nhiên theo con mắt nhìn của người lớn. Jean Piaget đã lý giải được nguồn gốc sinh vật học và sự phát triển tâm lý học kéo theo trong một sự phát triển tự nhiên của con trẻ. Thế nhưng, cách làm của Jean Piaget còn mang ngay trong long nó chút gì nhược điểm? Từ một người ghi chép những kết quả đo nghiệm của A. Binet, Jean Piaget trân trọng nghiên cứu những câu trả lời và những lý lẽ “sai” để định hướng con đường tìm tòi tâm lý học của mình, điều đó thực sự giản dị mà vĩ đại. Thế nhưng, sau khi đường lối tâm lý học nhận thức được phát triển tự nhiên của Piaget đã thành một hệ thống, thì hình như bên trong hệ thống đó cũng cài đặt lại một sai lầm, ấy là quá chú trọng đến chỉ một dạng trí khôn ở người học mà cao điểm của trí khôn này là năng lực tư duy trừu tượng. Các giai đoạn phát triển nhận thức, từ nhận thức bằng cảm giác–vận động, sang nhận thức tiền thao tác, sang nhận thức bằng thao tác cụ thể, sang giai đoạn cao đỉnh thao tác hình thức khiến ta có cảm giác trí khôn người chỉ có một dạng mà thôi.
Nhà tâm lý học đương thời Hoa Kỳ Howard Gardner[6] gián tiếp phê phán sự khiếm khuyết đó bằng cách nêu vấn đề: một thiếu niên chèo thuyền ngang dọc ở vùng có cả ngàn hòn đảo trên Thái Bình Dương, người đó có trí khôn gì? Và còn chàng thiếu niên khi vào tu viện thì mù chữ, mười bảy năm sau, anh ta thành giáo sĩ, đọc được và thuộc lòng Kinh Koran; còn nhà thơ du ca Homère mắt mù và thuộc lòng cả vạn câu thơ; và còn cả em bé mười tuổi ngồi soạn nhạc bên chiếc máy tính hiện đại nữa chứ … tất cả những người này, ngoài cái tư duy trừu tượng và trí khôn của những học giả, hẳn cũng có tư duy gì và trí khôn gì khác chứ?
Howard Gardner chỉ dùng tư biện để xử lý các dữ liệu có trong tay, và ông đã đề xuất những tiêu chuẩn để dựa vào đó mà chọn được một hoặc những trí khôn. Cần lưu ý là những tiêu chuẩn ở đây mang rất nhiều giá trị hành động, không phải là những tiêu chuẩn của lối tư duy mang định kiến sẵn (jugement de valeur, value judgment). Vì vậy, Howard Gardner goi là tám dấu hiệu cho những ứng cử viên vào vị trí “trí khôn”. Đó là:
(1) Được cách ly tiềm tàng bởi tổn thương não. Thí dụ: vì bị tổn thương não nên mất tiếng nói. Sau đó, do điều trị não mà có lại tiếng nói. Song, ngay cả điều trị nhưng không khỏi, không phục hồi được thì cũng vẫn coi như là đã có, tức là có!
(2) Sự tồn tại các savant idiot (các “trạng lợn”, dịch sát từng chữ là các “bác học ngu xuẩn”) bên cạnh các thiên tài thật, các cá nhân xuất chúng ngoại lệ có thật. Những kiểu người này thường bộc lộ một năng lực phi thường, và đó chính là một tiêu chuẩn của một loại trí khôn nào đó.
(3) Trong việc thể hiện trí khôn có thể thấy được một thao tác hạt nhân hoặc một tập hợp thao tác xác định được. Tiêu chuẩn này hết sức quan trọng để tổ chức cho người khác học cách làm ra cái năng lực mang dấu hiệu trí khôn đó.
(4) Một lịch sử phát triển rõ ràng, cùng một tập hợp những thành tựu cuối cùng tinh thông. Tiêu chuẩn này thú vị ở chỗ nó giúp người đời khuyến khích người nghĩ thực làm thực và có thành tích thực, không khuyến khích kẻ “lợi khẩu”.
(5) Một lịch sử tiến hóa và một độ tin cậy trong tiến hóa. Tiêu chuẩn này nhấn vào tính khả tín của một trí khôn. Đi tìm một trí khôn bao giờ cũng cần cảnh giác và có được sự dị ứng với những “trí khôn đột xuất”.
(6) Được các việc làm trong Tâm lý học thực nghiệm ủng hộ. Cần nhân rộng trong phòng thí nghiệm và cần có các số liệu thực nghiệm trụ đỡ, trí khôn này không chỉ có ích khi được nhân bản rộng hơn mà điều quan trọng là nhà sư phạm có thể làm chủ được cách nhân bản.
(7) Được các khám phá từ khoa đo lường tâm trí ủng hộ. Tiêu chuẩn này củng cố tiêu chuẩn (6) vừa nêu bên trên ở chỗ đã có thêm những căn cứ lý thuyết tổng quát trụ đỡ.
(8) Khả năng mã hóa trong một hệ thống biểu trưng. Tiêu chuẩn này giúp mô tả, ghi lại không chỉ những biểu hiện của một trí khôn, mà còn giúp người đi sau nhân rộng cái trí khôn đang được xét.
Đôi lời kết
Nhóm Cánh Buồm đang thực hiện kế hoạch viết thành sách giáo khoa cho trẻ em tiểu học, một công việc rất cần có định hướng tâm lý học nhận thức cố gắng sai lầm ít nhất. Các vị phụ huynh, các nhà giáo, các nhà nghiên cứu sư phạm cũng cần đến định hướng tâm lý học đó.
Ban đầu, chúng ta cùng chọn một định hướng, vì chúng ta khó có thể bâng khuâng mãi giữa nhiều dòng nước. Đặc điểm của lựa chọn ở đây là một sự lựa chọn không nô lệ vào ông thày. Chính công việc làm của chúng ta trong thực tiễn sẽ giúp nhìn thấy nhược điểm của ông thày, và không nên bao giờ giữ thái độ ngu trung hết.
Làm gì thì làm, có lẽ cần nhớ làm lòng sự hết mực yêu thương con trẻ như Rousseau để công cuộc giáo dục mang đến cho các em được tự nhiên không áp đặt. Quan điểm trí khôn hình thành qua thao tác (intelligence opérationnelle) của Piaget đã dạy cho nhóm Cánh Buồm việc tiếp tục sàng lọc ra không chỉ công cụ học Toán, mà mọi công cụ làm ra nhiều loại sản phẩm tinh thần khác nữa, khả dĩ có thể cho trẻ em thực hiện việc tự học và để nhà sư phạm tổ chức việc học của các em một cách tự nhiên. Sau hết, việc tách bạch được các trí khôn khác nhau theo H. Gardner sẽ giúp nhà trường tự do hơn và dân chủ hơn, dường như đã có thể đến giai đoạn lịch sử con em học theo năng lực sống theo nhu cầu.
Cầu mong cho nhóm Cánh Buồm thuận buồm xuôi gió, và không rơi vào ảo tưởng như mà cả Jean-Jacques Rousseau, cả Jean Piaget và Howrd Gardner yêu quý đều có thể bị mắc bẫy!
Phạm Toàn
Hà Nội, 3 tháng 8 năm 2013.
[1] Ngày sư phạm Cánh Buồm số 1: Tâm lí học giáo dục -http://canhbuom.edu.vn/index.php/su-pham/430-ngay-su-pham-canh-buom-01
[2] Tủ sách Tâm lý học Cánh Buồm – Quyển một: Jean Piaget, Sự hình thành trí khôn trẻ em, Hoàng Hưng dịch, nhà xuất bản Tri thức, sắp xuất bản. (Kính báo: Do quá trình biên tập chưa hoàn thành, nên những trích dẫn ở đây có thể sẽ khác với văn bản trong sách sắp in. – PT)
[3] Jean-Jacques Rousseau, Emile, hay là Về Giáo dục, bản dịch tiếng Việt của Lê Hồng Sâm và Trần Quốc Dương, nhà xuất bản Tri thức, 2008, Giải thưởng Sách Hay năm 2012.
[4] Charles Darwin, A Biographical Sketch of an Infant, Mind, 2, 285-294. (1877). Darwin mở đầu bài viết: “Câu chuyện rất thú vị ông Taine kể về sự phát triển tâm trí của một đứa trẻ nhỏ đăng trên tờ tạp chí MIND số trước (trang 252) làm tôi phải đọc lại những ghi chép của mình ba mươi bảy năm trước về một trong những đứa con nhỏ của tôi. Tôi đã có những điều kiện tuyệt vời để quan sát tận nơi tại chỗ và ghi lại tức thì bất kể điều gì tôi quan sát được…”
[5] Những tổng kết tự học Piaget của tác giả được viết trong chương sách Giản dị như một thiên tại, Phạm Toàn:Hợp lưu các dòng tâm lý học giáo dục, Tri thức xuất bản, Hà Nội, 2004, 2008.
[6] Howard Gardner, Cơ cấu trí khôn – Lý thuyết về nhiều dạng trí khôn. Phạm Toàn dịch, Giáo dục, Hà Nội, 1997, 1998, Tri thức tái bản có bổ sung, 2013.
Thứ Ba, 19 tháng 11, 2013
Thứ Hai, 1 tháng 7, 2013
SÂM MEN’S POTENT
PHỤC HỒI SINH LỰC TĂNG CƯỜNG SINH LÝ NAM
- Tôi đang khỏe mạnh, chưa có dấu hiệu đặc biệt gì về sức khỏe, tôi muốn phòng ngừa quá trình mãn dục nam thì có nên sử dụng Sâm Men’SPotten không? Ở tuổi 40, nồng độ testosterone bắt đầu giảm rõ rệt, có thể cơ thể chưa có dấu hiệu gì đặc biệt nhưng thực tế quá trình mãn dục nam đang diễn ra, do đó việc phòng ngừa là rất cần thiết. Sử dụng Kangaroo để bổ sung trong trường hợp này là phù hợp.
- Uống Sâm Men’SPotten bao lâu sẽ có tác dụng? Sau 2 tuần sử dụng Sâm Men’SPotten thì nồng độ testosterone/máu sẽ tăng, tuy nhiên tùy cơ địa hấp thu của từng người cũng như nồng độ testosterone ban đầu thấp ít hay thấp nhiều mà hiệu quả cảm nhận được sẽ nhanh hay chậm.
- Sâm Men’SPotten được chiết xuất từ vỏ cây Yohimbine là chất đối kháng cạnh tranh có chọn lọc ở receptor alpha adrenergic và được sử dụng cho điều trị chứng rối loạn cương dương. Chất này được khẳng định là chất kích thích tình dục. Nghiên cứu cho thấy nó là chất vận mạch có tác dụng làm tăng cường dòng máu đến những điểm tận cùng của các bộ phận sinh dục thông qua cơ chế gián tiếp tăng giải phóng noradrenaline. Yohimbine cũng có tác dụng làm giảm tổng hợp chất béo trong cơ thể bằng tăng đốt cháy chất béo (tác dụng giảm cân). Và bổ sung thêm các tinh chất từ rễ cây Lepidium meyenii là một loại thảo dược có nguồn gốc từ Nam Mỹ giúp tăng cường khả năng sinh lý. Hạt Paullinia cupana giúp kích thích tình dục và chống lại đau đầu, sốt. Kết hợp thêm Sâm Hàn Quốc, Sâm Panax giúp tăng cường và hồi phục sức khỏe.
- Thành phần: Gingseng Panex (Root) 400mg; Guarana Extract 4:1 Paullinia cupana (See) 400mg; Yohimbe Pausinystalia (Bark) 400mg; Coppe (Cupric) 2mg; Maca Extract 4:1 Lepidium meyenii (Root) 500mg; Zinc (Zinc oxide and Gluconate 30mg; VitaminE (dl-AlphaTocophery) 100 iu. *Phụ gia: viên. Qui cách đóng gói:60viên/lọ.
- Công dụng: * Bồi bổ sức khoẻ, tráng dương bổ thận, tăng cường sinh lý nam* Hỗ trợ điều trị các bệnh liệt dương, xuất tinh sớm, di tinh, mộng tinh, chất lượng tinh trùng yếu *Chống các bệnh lý về thận, đau lưng, mỏi gối.*Nâng cao sức khoẻ, sức đề kháng, chống suy nhược cơ thể.* Đặc biệt hỗ trợ và điều trị bệnh vô sinh hiếm muộn.
- Cách dùng: Uống 1 – 2 viên/ngày. Khuyên dùng cho nam giới sau 20 tuổi và dùng liên tục một lần từ 1-3 tháng.Bảo quản: nơi khô ráo, thoáng mát, nhiệt độ dưới 30oC, tránh ánh nắng mặt trời. Để xa tầm tay trẻ em
- Nhà sản xuất: Tập đoàn dược phẩm Mason Vitamin – NSX; USA
- Tôi đang khỏe mạnh, chưa có dấu hiệu đặc biệt gì về sức khỏe, tôi muốn phòng ngừa quá trình mãn dục nam thì có nên sử dụng Sâm Men’SPotten không? Ở tuổi 40, nồng độ testosterone bắt đầu giảm rõ rệt, có thể cơ thể chưa có dấu hiệu gì đặc biệt nhưng thực tế quá trình mãn dục nam đang diễn ra, do đó việc phòng ngừa là rất cần thiết. Sử dụng Kangaroo để bổ sung trong trường hợp này là phù hợp.
- Uống Sâm Men’SPotten bao lâu sẽ có tác dụng? Sau 2 tuần sử dụng Sâm Men’SPotten thì nồng độ testosterone/máu sẽ tăng, tuy nhiên tùy cơ địa hấp thu của từng người cũng như nồng độ testosterone ban đầu thấp ít hay thấp nhiều mà hiệu quả cảm nhận được sẽ nhanh hay chậm.
- Sâm Men’SPotten được chiết xuất từ vỏ cây Yohimbine là chất đối kháng cạnh tranh có chọn lọc ở receptor alpha adrenergic và được sử dụng cho điều trị chứng rối loạn cương dương. Chất này được khẳng định là chất kích thích tình dục. Nghiên cứu cho thấy nó là chất vận mạch có tác dụng làm tăng cường dòng máu đến những điểm tận cùng của các bộ phận sinh dục thông qua cơ chế gián tiếp tăng giải phóng noradrenaline. Yohimbine cũng có tác dụng làm giảm tổng hợp chất béo trong cơ thể bằng tăng đốt cháy chất béo (tác dụng giảm cân). Và bổ sung thêm các tinh chất từ rễ cây Lepidium meyenii là một loại thảo dược có nguồn gốc từ Nam Mỹ giúp tăng cường khả năng sinh lý. Hạt Paullinia cupana giúp kích thích tình dục và chống lại đau đầu, sốt. Kết hợp thêm Sâm Hàn Quốc, Sâm Panax giúp tăng cường và hồi phục sức khỏe.
- Thành phần: Gingseng Panex (Root) 400mg; Guarana Extract 4:1 Paullinia cupana (See) 400mg; Yohimbe Pausinystalia (Bark) 400mg; Coppe (Cupric) 2mg; Maca Extract 4:1 Lepidium meyenii (Root) 500mg; Zinc (Zinc oxide and Gluconate 30mg; VitaminE (dl-AlphaTocophery) 100 iu. *Phụ gia: viên. Qui cách đóng gói:60viên/lọ.
- Công dụng: * Bồi bổ sức khoẻ, tráng dương bổ thận, tăng cường sinh lý nam* Hỗ trợ điều trị các bệnh liệt dương, xuất tinh sớm, di tinh, mộng tinh, chất lượng tinh trùng yếu *Chống các bệnh lý về thận, đau lưng, mỏi gối.*Nâng cao sức khoẻ, sức đề kháng, chống suy nhược cơ thể.* Đặc biệt hỗ trợ và điều trị bệnh vô sinh hiếm muộn.
- Cách dùng: Uống 1 – 2 viên/ngày. Khuyên dùng cho nam giới sau 20 tuổi và dùng liên tục một lần từ 1-3 tháng.Bảo quản: nơi khô ráo, thoáng mát, nhiệt độ dưới 30oC, tránh ánh nắng mặt trời. Để xa tầm tay trẻ em
- Nhà sản xuất: Tập đoàn dược phẩm Mason Vitamin – NSX; USA
Thứ Tư, 5 tháng 6, 2013
20 cách phòng chống ung thư (P2)
11. Hạn chế điện thoại di động
Một số nghiên cứu cho rằng, có sự liên hệ giữa sóng điện thoại và nguy cơ u não. Dù chưa có kết luận khoa học cuối cùng, nhưng cẩn trọng vẫn hơn. Bạn chỉ nên nói chuyện điện thoại khi cần hoặc nhắn tin. “Nấu cháo” điện thoại không có lợi đâu!
12. Tránh nguy cơ từ nắng
Màu sắc quần áo cũng có thể bảo vệ da. Nghiên cứu cho thấy vải màu xanh dương và đỏ ít hấp thu tia UV từ nắng hơn vải màu vàng và trắng. Bạn cũng đừng quên đồng hành cùng chiếc mũ nhé! Các nhà khoa học đã chứng minh, những vùng tiếp xúc với nắng trực tiếp như da đầu và cổ dễ phát triển ung thư da hơn những vùng khác trên cơ thể.
13. Chọn bác sĩ có kinh nghiệm
Việc chẩn đoán hình ảnh để xác định ung thư vú rất cần kinh nghiệm. Đại học California, San Francisco, Mỹ, cho rằng các bác sĩ chẩn đoán hình ảnh lý tưởng cần có ít nhất... 25 năm kinh nghiệm. Nếu bạn chưa yên tâm với một lần chẩn đoán, nên đi khám lại với một bác sĩ có thâm niên hơn.
14. Ăn thức ăn sạch
Hormone tăng trưởng và kháng sinh trong thịt có thể gây ung thư các tuyến nội tiết như tuyến tụy, buồng trứng... Thuốc trừ sâu chứa đến 40 tác nhân gây ung thư. Bạn cần chọn thịt sạch và rửa kỹ rau củ quả trước khi dùng.
15. Cẩn thận với axit folic
Vitamin nhóm B rất cần thiết, đặc biệt cho phụ nữ có thai để phòng chống dị tật thai nhi. Tuy nhiên, vitamin B9, còn gọi là axit folic, có thể là con dao hai lưỡi nếu dùng quá nhiều. Bạn cần phân biệt folat (dạng tự nhiên của axit folic, có nhiều trong rau củ và trái cây) với dạng tổng hợp của nó. Dư thừa axit folic có thể tăng nguy cơ ung thư phổi, đại tràng và tuyến tiền liệt. Theo một thống kê, phân nửa những người dùng viên bổ sung vitamin có chứa trên 400 microgram axit folic bị dư lượng chất này. Mỗi ngày không được nạp quá 1.000 mcg. Nếu bạn đã ăn uống đủ chất dinh dưỡng thì không cần dùng viên bổ sung có chất này.
16. Tăng cường canxi
Nguồn canxi dồi dào trong sữa có thể bảo vệ bạn khỏi ung thư đại tràng. Những người dùng canxi liên tục trong 4 năm giảm đến 36% sự phát triển của các polyp gây ung thư sau thời điểm nghiên cứu 5 năm.
3 ly sữa ít béo, một phần sữa chua và một phần phô mai mỗi ngày sẽ cung cấp đủ lượng canxi bạn cần.
17. Dùng ngũ cốc thô
Ngũ cốc thô là hạt còn nguyên mài và lớp vỏ lụa bên ngoài, ở Việt Nam tiêu biểu là gạo lức, nếp lức, ngô, vừng (mè), các loại đậu và hạt. Thực phẩm từ ngũ cốc đã được tinh lọc thường có màu trắng, bao gồm bánh mì trắng, gạo trắng, bún, phở... Những thực phẩm này có chỉ số Glycaemic cao. Chỉ số này phản ánh tốc độ làm tăng đường huyết sau khi ăn các thực phẩm giàu chất bột đường, dễ gây ung thư đại trực tràng.
18. Đừng xem nhẹ những cơn đau
Bạn cần đi khám bệnh nếu thấy bụng to hơn bình thường, đau vùng xương chậu và thường xuyên đột ngột muốn đi tiểu. Đó có thể là những triệu chứng của ung thư buồng trứng. Nhiều người xem thường những dấu hiệu đó cho đến khi đã quá muộn, không còn kịp chữa trị. Nếu được phát hiện sớm, tỷ lệ bệnh nhân sống sót thêm 5 năm là 90 - 95%.
19. Tránh chụp CT khi không cần thiết
Máy scan CT là công cụ rất hữu hiệu, nhưng mức phóng xạ nó tạo ra cao hơn tia X rất nhiều. Các nhà nghiên cứu nhận định rằng, kỹ thuật này đã bị lạm dụng. Một phần ba số hình ảnh CT đã được chụp là không cần thiết. Phóng xạ có thể gây ung thư máu, vì thế bạn nên hỏi bác sĩ xem có thể dùng phương pháp nào khác, như siêu âm hoặc MRI, thay cho CT hay không.
20. Giảm 5kg
Trong số những người tử vong vì ung thư, người thừa cân hoặc béo phì chiếm 20% đối với nam và 14% đối với nữ. Chỉ số cơ thể từ 25 – 29,9 được tính là thừa cân, từ 30 trở lên là béo phì. Giảm cân đồng nghĩa giảm estrogen, do đó giảm nguy cơ ung thư vú, nội mạc tử cung và buồng trứng ở phụ nữ. Phụ nữ sau 30 tuổi dễ bị ung thư hơn khi tăng khoảng 5kg.
Một số nghiên cứu cho rằng, có sự liên hệ giữa sóng điện thoại và nguy cơ u não. Dù chưa có kết luận khoa học cuối cùng, nhưng cẩn trọng vẫn hơn. Bạn chỉ nên nói chuyện điện thoại khi cần hoặc nhắn tin. “Nấu cháo” điện thoại không có lợi đâu!
12. Tránh nguy cơ từ nắng
Màu sắc quần áo cũng có thể bảo vệ da. Nghiên cứu cho thấy vải màu xanh dương và đỏ ít hấp thu tia UV từ nắng hơn vải màu vàng và trắng. Bạn cũng đừng quên đồng hành cùng chiếc mũ nhé! Các nhà khoa học đã chứng minh, những vùng tiếp xúc với nắng trực tiếp như da đầu và cổ dễ phát triển ung thư da hơn những vùng khác trên cơ thể.
13. Chọn bác sĩ có kinh nghiệm
Việc chẩn đoán hình ảnh để xác định ung thư vú rất cần kinh nghiệm. Đại học California, San Francisco, Mỹ, cho rằng các bác sĩ chẩn đoán hình ảnh lý tưởng cần có ít nhất... 25 năm kinh nghiệm. Nếu bạn chưa yên tâm với một lần chẩn đoán, nên đi khám lại với một bác sĩ có thâm niên hơn.
14. Ăn thức ăn sạch
Hormone tăng trưởng và kháng sinh trong thịt có thể gây ung thư các tuyến nội tiết như tuyến tụy, buồng trứng... Thuốc trừ sâu chứa đến 40 tác nhân gây ung thư. Bạn cần chọn thịt sạch và rửa kỹ rau củ quả trước khi dùng.
15. Cẩn thận với axit folic
Vitamin nhóm B rất cần thiết, đặc biệt cho phụ nữ có thai để phòng chống dị tật thai nhi. Tuy nhiên, vitamin B9, còn gọi là axit folic, có thể là con dao hai lưỡi nếu dùng quá nhiều. Bạn cần phân biệt folat (dạng tự nhiên của axit folic, có nhiều trong rau củ và trái cây) với dạng tổng hợp của nó. Dư thừa axit folic có thể tăng nguy cơ ung thư phổi, đại tràng và tuyến tiền liệt. Theo một thống kê, phân nửa những người dùng viên bổ sung vitamin có chứa trên 400 microgram axit folic bị dư lượng chất này. Mỗi ngày không được nạp quá 1.000 mcg. Nếu bạn đã ăn uống đủ chất dinh dưỡng thì không cần dùng viên bổ sung có chất này.
16. Tăng cường canxi
Nguồn canxi dồi dào trong sữa có thể bảo vệ bạn khỏi ung thư đại tràng. Những người dùng canxi liên tục trong 4 năm giảm đến 36% sự phát triển của các polyp gây ung thư sau thời điểm nghiên cứu 5 năm.
3 ly sữa ít béo, một phần sữa chua và một phần phô mai mỗi ngày sẽ cung cấp đủ lượng canxi bạn cần.
17. Dùng ngũ cốc thô
Ngũ cốc thô là hạt còn nguyên mài và lớp vỏ lụa bên ngoài, ở Việt Nam tiêu biểu là gạo lức, nếp lức, ngô, vừng (mè), các loại đậu và hạt. Thực phẩm từ ngũ cốc đã được tinh lọc thường có màu trắng, bao gồm bánh mì trắng, gạo trắng, bún, phở... Những thực phẩm này có chỉ số Glycaemic cao. Chỉ số này phản ánh tốc độ làm tăng đường huyết sau khi ăn các thực phẩm giàu chất bột đường, dễ gây ung thư đại trực tràng.
18. Đừng xem nhẹ những cơn đau
Bạn cần đi khám bệnh nếu thấy bụng to hơn bình thường, đau vùng xương chậu và thường xuyên đột ngột muốn đi tiểu. Đó có thể là những triệu chứng của ung thư buồng trứng. Nhiều người xem thường những dấu hiệu đó cho đến khi đã quá muộn, không còn kịp chữa trị. Nếu được phát hiện sớm, tỷ lệ bệnh nhân sống sót thêm 5 năm là 90 - 95%.
19. Tránh chụp CT khi không cần thiết
Máy scan CT là công cụ rất hữu hiệu, nhưng mức phóng xạ nó tạo ra cao hơn tia X rất nhiều. Các nhà nghiên cứu nhận định rằng, kỹ thuật này đã bị lạm dụng. Một phần ba số hình ảnh CT đã được chụp là không cần thiết. Phóng xạ có thể gây ung thư máu, vì thế bạn nên hỏi bác sĩ xem có thể dùng phương pháp nào khác, như siêu âm hoặc MRI, thay cho CT hay không.
20. Giảm 5kg
Trong số những người tử vong vì ung thư, người thừa cân hoặc béo phì chiếm 20% đối với nam và 14% đối với nữ. Chỉ số cơ thể từ 25 – 29,9 được tính là thừa cân, từ 30 trở lên là béo phì. Giảm cân đồng nghĩa giảm estrogen, do đó giảm nguy cơ ung thư vú, nội mạc tử cung và buồng trứng ở phụ nữ. Phụ nữ sau 30 tuổi dễ bị ung thư hơn khi tăng khoảng 5kg.
20 cách dễ dàng để phòng chống ung thư (kỳ 1)
1. Lọc nước
Bằng việc lọc nước, bạn có thể hạn chế tiếp xúc với các chất gây ung thư. Nước máy và nước đóng chai chưa hẳn đã an toàn. Bạn nên chứa nước trong bình inox hoặc thủy tinh để tránh gỉ sét và các chất độc, nhất là BPA có trong chai nhựa.
2. Tránh tiếp xúc với xăng
Chất benzen trong xăng có thể gây ung thư. Do đó, sau khi đổ xăng, bạn nên nhanh chóng đóng chặt nắp, tránh để cho những chất trong xăng có thời gian khuếch tán ngoài không khí.
3. Ướp thịt
Thịt hun khói, thịt chế biến quá chín ở nhiệt độ cao sinh ra các chất gây ung thư. Các hydrocacbon thơm đa vòng (PAH) từ than cũng xâm nhập vào thịt lúc nướng. Chính vì thế, các bác sĩ khuyên bạn nên hạn chế ăn thịt nướng. Nếu nướng thịt, bạn nên ướp cùng hương thảo và húng tây ít nhất 1 tiếng trước đó. Những chất chống oxy hóa trong các loại gia vị này có thể khử đến 87% PHA.
4. Làm bạn với cà phê
Theo một nghiên cứu ở Anh, 5 tách cà phê mỗi ngày có thể làm giảm 40% nguy cơ u não và ung thư vòm họng. Tuy nhiên, nên lưu ý cà phê phải “thật”, có chứa chất caffeine. Trà cũng có tác dụng tốt nhưng cà phê mới là nhà vô địch.
5. Thanh lọc cơ thể
Uống nhiều nước giúp giảm nguy cơ ung thư bàng quang vì nước giúp hòa tan và thải chất độc khỏi cơ thể nhanh chóng. Hiệp hội Ung thư Mỹ khuyên bạn nên uống ít nhất 8 ly nước mỗi ngày.
6. Màu xanh đậm: Tốt nhất cho bạn
Bạn nên chọn món salad nào có màu xanh đậm nhất vì chất diệp lục trong rau xanh chứa nhiều ma-giê. Chất này làm giảm nguy cơ ung thư đại tràng, phổ biến ở phụ nữ. Ma-giê kiểm soát sự phân chia và sinh sôi của tế bào. Nửa bát rau có thể cung cấp 75mg ma-giê, tương đương với 20% nhu cầu cơ thể mỗi ngày.
7. Những hạt đậu thần kỳ
Các loại đậu và hạt, đặc biệt là đậu Brazil chứa nhiều selen, chất chống ung thư bàng quan, phổi và đại-trực tràng hiệu quả. Selen bảo vệ tế bào, tăng cường sức đề kháng và kìm hãm sự hình thành các khối u trong mạch máu.
8. Đốt cháy nguy cơ ung thư
Tập thể dục vừa phải, dễ nhất là đi bộ nhanh, 2 giờ mỗi tuần có thể giảm 18% nguy cơ ung thư vú. Chất béo sản sinh estrogen, một trong những tác nhân gây ung thư vú. Do đó, bạn cần đốt bớt chất béo bằng việc tập thể dục.
9. Thận trọng khi giặt khô
Viện Khoa học quốc gia Mỹ cho biết, họ đã phát hiện một chất gọi là perc, viết tắt củaperchloroethylene, dùng trong quá trình giặt khô (dry cleaning). Chất này có thể gây ung thư gan, thận và máu. Những người thợ trực tiếp sử dụng máy giặt và chất giặt tẩy có nguy cơ nhiễm chất này cao nhất. Tuy chưa có kết luận về tác hại trên người mặc quần áo giặt khô, nhưng bạn cứ nên giặt phơi như thường lệ cho “chắc ăn”.
10. Chụp X-quang tuyến vú
Phụ nữ có mật độ vú từ 75% trở lên có nguy cơ ung thư cao gấp 5 lần so với người có chỉ số thấp. Mức estrogen cao làm tăng mật độ vú. Vì vậy, bạn cần vận động để đánh bật mỡ ra khỏi cơ thể. Việc giảm béo còn bật tín hiệu cho protein Adipokin và hormone Insulin ngăn chặn quá trình phát triển của tế bào ung thư.
Bằng việc lọc nước, bạn có thể hạn chế tiếp xúc với các chất gây ung thư. Nước máy và nước đóng chai chưa hẳn đã an toàn. Bạn nên chứa nước trong bình inox hoặc thủy tinh để tránh gỉ sét và các chất độc, nhất là BPA có trong chai nhựa.
2. Tránh tiếp xúc với xăng
Chất benzen trong xăng có thể gây ung thư. Do đó, sau khi đổ xăng, bạn nên nhanh chóng đóng chặt nắp, tránh để cho những chất trong xăng có thời gian khuếch tán ngoài không khí.
3. Ướp thịt
Thịt hun khói, thịt chế biến quá chín ở nhiệt độ cao sinh ra các chất gây ung thư. Các hydrocacbon thơm đa vòng (PAH) từ than cũng xâm nhập vào thịt lúc nướng. Chính vì thế, các bác sĩ khuyên bạn nên hạn chế ăn thịt nướng. Nếu nướng thịt, bạn nên ướp cùng hương thảo và húng tây ít nhất 1 tiếng trước đó. Những chất chống oxy hóa trong các loại gia vị này có thể khử đến 87% PHA.
4. Làm bạn với cà phê
Theo một nghiên cứu ở Anh, 5 tách cà phê mỗi ngày có thể làm giảm 40% nguy cơ u não và ung thư vòm họng. Tuy nhiên, nên lưu ý cà phê phải “thật”, có chứa chất caffeine. Trà cũng có tác dụng tốt nhưng cà phê mới là nhà vô địch.
5. Thanh lọc cơ thể
Uống nhiều nước giúp giảm nguy cơ ung thư bàng quang vì nước giúp hòa tan và thải chất độc khỏi cơ thể nhanh chóng. Hiệp hội Ung thư Mỹ khuyên bạn nên uống ít nhất 8 ly nước mỗi ngày.
6. Màu xanh đậm: Tốt nhất cho bạn
Bạn nên chọn món salad nào có màu xanh đậm nhất vì chất diệp lục trong rau xanh chứa nhiều ma-giê. Chất này làm giảm nguy cơ ung thư đại tràng, phổ biến ở phụ nữ. Ma-giê kiểm soát sự phân chia và sinh sôi của tế bào. Nửa bát rau có thể cung cấp 75mg ma-giê, tương đương với 20% nhu cầu cơ thể mỗi ngày.
7. Những hạt đậu thần kỳ
Các loại đậu và hạt, đặc biệt là đậu Brazil chứa nhiều selen, chất chống ung thư bàng quan, phổi và đại-trực tràng hiệu quả. Selen bảo vệ tế bào, tăng cường sức đề kháng và kìm hãm sự hình thành các khối u trong mạch máu.
8. Đốt cháy nguy cơ ung thư
Tập thể dục vừa phải, dễ nhất là đi bộ nhanh, 2 giờ mỗi tuần có thể giảm 18% nguy cơ ung thư vú. Chất béo sản sinh estrogen, một trong những tác nhân gây ung thư vú. Do đó, bạn cần đốt bớt chất béo bằng việc tập thể dục.
9. Thận trọng khi giặt khô
Viện Khoa học quốc gia Mỹ cho biết, họ đã phát hiện một chất gọi là perc, viết tắt củaperchloroethylene, dùng trong quá trình giặt khô (dry cleaning). Chất này có thể gây ung thư gan, thận và máu. Những người thợ trực tiếp sử dụng máy giặt và chất giặt tẩy có nguy cơ nhiễm chất này cao nhất. Tuy chưa có kết luận về tác hại trên người mặc quần áo giặt khô, nhưng bạn cứ nên giặt phơi như thường lệ cho “chắc ăn”.
10. Chụp X-quang tuyến vú
Phụ nữ có mật độ vú từ 75% trở lên có nguy cơ ung thư cao gấp 5 lần so với người có chỉ số thấp. Mức estrogen cao làm tăng mật độ vú. Vì vậy, bạn cần vận động để đánh bật mỡ ra khỏi cơ thể. Việc giảm béo còn bật tín hiệu cho protein Adipokin và hormone Insulin ngăn chặn quá trình phát triển của tế bào ung thư.
Thứ Năm, 18 tháng 4, 2013
Hai bài văn cảm động viết về mẹ.
Bài văn số 1
“Tuổi thơ tôi không được may mắn như bao đứa trẻ khác. Từ khi sinh ra tôi đã mồ côi cha. Một mình mẹ nuôi tôi khôn lớn, mẹ là người cha, người mẹ tuyệt vời nhất trên đời này. Nhưng khi tôi lên chín tuổi, thời gian quá ngắn giữa mẹ và tôi thế nhưng mẹ đã bỏ tôi một mình bơ vơ trên cõi đời này mà ra đi. Chỉ chín tuổi tôi còn quá nhỏ để hiểu được sâu sắc việc mãi mãi không có mẹ bên cạnh. Như hình ảnh ngày nào của mẹ thì không bao giờ phai trong tôi, mỗi bước chân tôi đi như có bóng mẹ soi đường, chỉ tôi. Mẹ là người sống mãi mãi trong lòng tôi.
Mẹ tôi là người phụ nữ mạnh mẽ, mẹ luôn sống vì tôi. Tuy cuộc sống vất vả và phải sống chung với căn bệnh hiểm nghèo nhưng mẹ sống rất lạc quan, yêu đời. Mẹ tôi cao, làn da xám đen vì nắng gió. Khuôn mặt phúc hậu, hiền từ. Mẹ luôn dạy bảo tôi những điều tốt nhất. Mẹ động viên tôi những khi tôi buồn, tôi thất bại. Mẹ luôn lo lắng, mang những điều tốt đẹp đến cho tôi còn tôi thì chỉ biết làm mẹ buồn, mẹ khóc.
Mẹ dạy tôi rất nhiều điều “Phải sống trung thực, ngay thẳng. Phải biết ơn nhưng không được nhớ oán. Phải biết tha thứ yêu thương người khác. Nhất định chị em phải đoàn kết với nhau mà sống, đừng để mọi người chê cười con không có dạy”. Đó là tất cả những gì mẹ để lại cho tôi trước lúc ra đi. Lúc đó, tôi chẳng hiểu gì cả, tôi sống vô tư có mẹ cũng như không có mẹ. Nhưng Mẹ ơi? Giờ con mới hiểu mồ cô mẹ là gì? Giờ con mới biết những lời nói đó là tài sản quý giá nhất mà mẹ đã dành cho con. Con nhớ me nhiều lắm, nhất định cn sẽ làm theo những gì mẹ dạy.
Mẹ tôi đã vượt qua khó khăn để sống và tôi cũng sẽ thế. Mẹ luôn là một vầng ánh sáng soi dẫn đường tôi. Những nụ cười của mẹ sao nó cứ hiện mãi trong đầu tôi cả lúc mẹ ra đi nữa. Giờ tôi muốn được nắm tay mẹ, muốn được ngồi vào mẹ nhưng tôi không thể! Mẹ tôi rất thương yêu tôi, mẹ đã hi sinh cuộc đời mình để tôi được sống tốt hơn. Ngày ấy, lúc mẹ đau đớn giữa đêm khuya, thấy mẹ đau tôi chẳng biết làm gì mà chỉ biết khóc. Mẹ nắm tay tôi và cười trong những giọt nước mắt “Mẹ không sao đâu con. Thế là tôi đã ngủ thiếp đi, sao tôi lại khờ dại đến ngu ngốc thế chứ? Tôi hiểu mẹ yêu tôi nhường nào và tôi cũng vậy. Tuy giờ không có mẹ bên cạnh nhưng mẹ vẫn sống trong tâm trí tôi. Tôi sẽ sống thật tốt để mẹ được vui lòng, giờ tôi chỉ có thể làm được thế thôi.
Mẹ tôi là người thế đó, tôi chỉ có thể nói là mẹ tôi rất tuyệt. Mẹ là người tôi yêu quý nhất trên đời và dù me đi xa nhưng mẹ vẫn như còn đó đứng bên cạnh tôi. Giá như, tôi được sống với mẹ dù chỉ là một ngày. tôi sẽ chăm sóc cho mẹ, việc mà tôi chưa từng làm, tôi sẽ làm mẹ vui, không làm mẹ phải khóc. Và điều tôi muốn nói với mẹ là “Mẹ ơi! Con yêu mẹ rất nhiều, con rất muốn được sống và lo cho mẹ. Mẹ ơi! Con rất muốn”.
Hỡi những ai còn mẹ thì đừng làm mẹ mình phải khóc, dù chỉ là một lần!”
Bài văn số 2
“Những ngôi sao thức ngoài kia
Chẳng bằng mẹ đang thức vì chúng con.
Đêm nay con ngủ giấc tròn
Mẹ là ngọn gió của con suốt đời”
Cứ mỗi lần nghe những câu thơ này của nhà thơ Trần Quốc Minh vang lên, thì em lại chọt nghĩ đến người mẹ thân yêu của em. Em cảm thấy thật bất hạnh cho những ai không có mẹ, bởi vì mẹ là người dành trọn mọi sự thương yêu chăm sóc cho chúng ta. Và mẹ em chính là nguời như vậy đó.
Mẹ năm nay đã gần bốn mươi tuổi nhưng ai cũng nói mẹ già hơn so với tuổi, có lẽ vì gánh nặng cuộc đời chăng? Công việc của mẹ rất giản dị đó chính là làm ruộng. Sở thích của mẹ rất khác với mọi người, đó chính là làm việc. Mẹ có dáng người dong dỏng cao, nước da ngăm đen đã bị rám nắng, mái tóc của mẹ dài ngang lưng đã bị cháy nắng ngoài đồng ruộng, nắng chói để đem lại cho em một cuộc sống ấm no. Khi đi làm mẹ thường búi tóc lên, để lộ ra mấy cộng tóc xoăn trông thật duyên dáng. Đi với mái tóc ấy chính là khuôn mặt hình trái xoan của mẹ. Vầng trán của mẹ cao rộng, có lúc nheo lại lộ vẻ suy tư. Năm tháng, thời gian đã hằn lên khuôn mặt mẹ những nếp nhăn nho nhỏ.
Nhưng thời gian cũng không thể xóa nhòa được nét dịu hiền, phúc hậu trên khuôn mặt ấy. Đôi mắt mẹ đen láy thấm đượm sự bao dung, trìu mến. Người ta thường nói “Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn” quả là không sai. Nhìn vào đôi mắt mẹ, em có thể đoán được những suy nghĩ trong mẹ. Những lúc em làm được việc tốt đôi mắt ấy hạnh phúc như cười. Và cũng từng đỏ hoe khi mỗi lần em làm điều sai trái. Nhìn vào đôi mắt mẹ, em tự trách mình vì đã làm mẹ buồn. Cùng với đôi mắt mẹ là cặp lông mi dài và đôi chân mày lá liễu dày. Mũi mẹ cao cao, cái miệng nho nhỏ, khi cười để lộ hàm răng trắng, đều như hạt bắp.
“Bàn tay ta làm nên tất cả
Có sức người sỏi đá cũng thành cơm”
Đúng vậy! nhờ có bàn tay đầy nghị lực của mẹ đã nuôi em khôn lốn đến chừng này. Bàn tay ấy đã bị bao sậm, hằn những vết nứt nẻ. Bao nhiêu vết là bấy nhiêu vất vả gian lao của mẹ. Đôi bàn chân cũng vậy, nó cũng đã bị nứt nẻ. Những khi trời trở lạnh, đôi bàn chân ấy lại đau, nhức khiến mẹ phải ngâm vào nước muối. Đôi vai mẹ gầy gộc đã trở bao nhiêu là mưa nắng. Nhìn tất cả những thứ ấy em cảm thấy yêu mẹ thật nhiều, thật nhiều.
Nhìn bàn tay mẹ chăm sóc từng đám lúa, luống rau, em cảm thấy mẹ yêu cây cỏ đến chừng nào. Mẹ là một người mà không thể thiếu trong gia đình. Hằng ngày, mẹ như một cô tấm với những công việc như nấu ăn, giặt giũ, dọn nhà... thật nhanh nhẹn, gọn gàng. Dù nhà cửa có bề bộn đến mấy, mà nếu được bàn tay siêng năng của mẹ thì sẽ trở nên gọn gàng. Vì lo cho cuộc sống của gia đình mà mẹ chẳng bao giờ rảnh rỗi cả, hết việc nhà rồi lại làm ruộng.
Mẹ là một người luôn dành trọn mọi sự yêu thương và lo toan cho em. Lúc em làm điều gì sai trái, mẹ không la mắng gì đâu mà mẹ dạy em những điều hay lẽ phải, khiến em luôn ghi nhớ trong lòng. Tuy mẹ bận rộn lắm nhưng mẹ vẫn luôn quan tâm tới công việc học hành của em. Lúc em đau ốm, mẹ là bàn tay ấm áp, che chở cho em vượt qua.
Đối với mọi người trong làng xóm, mẹ rất hòa nhã, cởi mở với họ nên ai cũng quý mến mẹ. Trong công việc, mẹ rất nhiệt tình nên mỗi lần đi dặm hay gặt lúa thì ai cũng kêu mẹ đi.
Thế đấy! Người mẹ thân yêu của em là như vậy đó, mẹ là một người rất yêu thương đứa con của mình. Em yêu mẹ lắm! Yêu mẹ rất nhiều. Em tự nhủ rằng sẽ cố gắng học tập thật giỏi để trở thành con ngoan, trò giỏi, cháu ngoan Bác Hồ, mai sau đền đáp công ơn to lớn của mẹ đã bao năm chăm lo cho em từ miếng ăn đến giấc ngủ.
“Mẹ như biển cả mênh mông
Con luôn ghi nhớ công ơn của người”.
“Tuổi thơ tôi không được may mắn như bao đứa trẻ khác. Từ khi sinh ra tôi đã mồ côi cha. Một mình mẹ nuôi tôi khôn lớn, mẹ là người cha, người mẹ tuyệt vời nhất trên đời này. Nhưng khi tôi lên chín tuổi, thời gian quá ngắn giữa mẹ và tôi thế nhưng mẹ đã bỏ tôi một mình bơ vơ trên cõi đời này mà ra đi. Chỉ chín tuổi tôi còn quá nhỏ để hiểu được sâu sắc việc mãi mãi không có mẹ bên cạnh. Như hình ảnh ngày nào của mẹ thì không bao giờ phai trong tôi, mỗi bước chân tôi đi như có bóng mẹ soi đường, chỉ tôi. Mẹ là người sống mãi mãi trong lòng tôi.
Mẹ tôi là người phụ nữ mạnh mẽ, mẹ luôn sống vì tôi. Tuy cuộc sống vất vả và phải sống chung với căn bệnh hiểm nghèo nhưng mẹ sống rất lạc quan, yêu đời. Mẹ tôi cao, làn da xám đen vì nắng gió. Khuôn mặt phúc hậu, hiền từ. Mẹ luôn dạy bảo tôi những điều tốt nhất. Mẹ động viên tôi những khi tôi buồn, tôi thất bại. Mẹ luôn lo lắng, mang những điều tốt đẹp đến cho tôi còn tôi thì chỉ biết làm mẹ buồn, mẹ khóc.
Mẹ dạy tôi rất nhiều điều “Phải sống trung thực, ngay thẳng. Phải biết ơn nhưng không được nhớ oán. Phải biết tha thứ yêu thương người khác. Nhất định chị em phải đoàn kết với nhau mà sống, đừng để mọi người chê cười con không có dạy”. Đó là tất cả những gì mẹ để lại cho tôi trước lúc ra đi. Lúc đó, tôi chẳng hiểu gì cả, tôi sống vô tư có mẹ cũng như không có mẹ. Nhưng Mẹ ơi? Giờ con mới hiểu mồ cô mẹ là gì? Giờ con mới biết những lời nói đó là tài sản quý giá nhất mà mẹ đã dành cho con. Con nhớ me nhiều lắm, nhất định cn sẽ làm theo những gì mẹ dạy.
Mẹ tôi đã vượt qua khó khăn để sống và tôi cũng sẽ thế. Mẹ luôn là một vầng ánh sáng soi dẫn đường tôi. Những nụ cười của mẹ sao nó cứ hiện mãi trong đầu tôi cả lúc mẹ ra đi nữa. Giờ tôi muốn được nắm tay mẹ, muốn được ngồi vào mẹ nhưng tôi không thể! Mẹ tôi rất thương yêu tôi, mẹ đã hi sinh cuộc đời mình để tôi được sống tốt hơn. Ngày ấy, lúc mẹ đau đớn giữa đêm khuya, thấy mẹ đau tôi chẳng biết làm gì mà chỉ biết khóc. Mẹ nắm tay tôi và cười trong những giọt nước mắt “Mẹ không sao đâu con. Thế là tôi đã ngủ thiếp đi, sao tôi lại khờ dại đến ngu ngốc thế chứ? Tôi hiểu mẹ yêu tôi nhường nào và tôi cũng vậy. Tuy giờ không có mẹ bên cạnh nhưng mẹ vẫn sống trong tâm trí tôi. Tôi sẽ sống thật tốt để mẹ được vui lòng, giờ tôi chỉ có thể làm được thế thôi.
Mẹ tôi là người thế đó, tôi chỉ có thể nói là mẹ tôi rất tuyệt. Mẹ là người tôi yêu quý nhất trên đời và dù me đi xa nhưng mẹ vẫn như còn đó đứng bên cạnh tôi. Giá như, tôi được sống với mẹ dù chỉ là một ngày. tôi sẽ chăm sóc cho mẹ, việc mà tôi chưa từng làm, tôi sẽ làm mẹ vui, không làm mẹ phải khóc. Và điều tôi muốn nói với mẹ là “Mẹ ơi! Con yêu mẹ rất nhiều, con rất muốn được sống và lo cho mẹ. Mẹ ơi! Con rất muốn”.
Hỡi những ai còn mẹ thì đừng làm mẹ mình phải khóc, dù chỉ là một lần!”
Bài văn số 2
“Những ngôi sao thức ngoài kia
Chẳng bằng mẹ đang thức vì chúng con.
Đêm nay con ngủ giấc tròn
Mẹ là ngọn gió của con suốt đời”
Cứ mỗi lần nghe những câu thơ này của nhà thơ Trần Quốc Minh vang lên, thì em lại chọt nghĩ đến người mẹ thân yêu của em. Em cảm thấy thật bất hạnh cho những ai không có mẹ, bởi vì mẹ là người dành trọn mọi sự thương yêu chăm sóc cho chúng ta. Và mẹ em chính là nguời như vậy đó.
Mẹ năm nay đã gần bốn mươi tuổi nhưng ai cũng nói mẹ già hơn so với tuổi, có lẽ vì gánh nặng cuộc đời chăng? Công việc của mẹ rất giản dị đó chính là làm ruộng. Sở thích của mẹ rất khác với mọi người, đó chính là làm việc. Mẹ có dáng người dong dỏng cao, nước da ngăm đen đã bị rám nắng, mái tóc của mẹ dài ngang lưng đã bị cháy nắng ngoài đồng ruộng, nắng chói để đem lại cho em một cuộc sống ấm no. Khi đi làm mẹ thường búi tóc lên, để lộ ra mấy cộng tóc xoăn trông thật duyên dáng. Đi với mái tóc ấy chính là khuôn mặt hình trái xoan của mẹ. Vầng trán của mẹ cao rộng, có lúc nheo lại lộ vẻ suy tư. Năm tháng, thời gian đã hằn lên khuôn mặt mẹ những nếp nhăn nho nhỏ.
Nhưng thời gian cũng không thể xóa nhòa được nét dịu hiền, phúc hậu trên khuôn mặt ấy. Đôi mắt mẹ đen láy thấm đượm sự bao dung, trìu mến. Người ta thường nói “Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn” quả là không sai. Nhìn vào đôi mắt mẹ, em có thể đoán được những suy nghĩ trong mẹ. Những lúc em làm được việc tốt đôi mắt ấy hạnh phúc như cười. Và cũng từng đỏ hoe khi mỗi lần em làm điều sai trái. Nhìn vào đôi mắt mẹ, em tự trách mình vì đã làm mẹ buồn. Cùng với đôi mắt mẹ là cặp lông mi dài và đôi chân mày lá liễu dày. Mũi mẹ cao cao, cái miệng nho nhỏ, khi cười để lộ hàm răng trắng, đều như hạt bắp.
“Bàn tay ta làm nên tất cả
Có sức người sỏi đá cũng thành cơm”
Đúng vậy! nhờ có bàn tay đầy nghị lực của mẹ đã nuôi em khôn lốn đến chừng này. Bàn tay ấy đã bị bao sậm, hằn những vết nứt nẻ. Bao nhiêu vết là bấy nhiêu vất vả gian lao của mẹ. Đôi bàn chân cũng vậy, nó cũng đã bị nứt nẻ. Những khi trời trở lạnh, đôi bàn chân ấy lại đau, nhức khiến mẹ phải ngâm vào nước muối. Đôi vai mẹ gầy gộc đã trở bao nhiêu là mưa nắng. Nhìn tất cả những thứ ấy em cảm thấy yêu mẹ thật nhiều, thật nhiều.
Nhìn bàn tay mẹ chăm sóc từng đám lúa, luống rau, em cảm thấy mẹ yêu cây cỏ đến chừng nào. Mẹ là một người mà không thể thiếu trong gia đình. Hằng ngày, mẹ như một cô tấm với những công việc như nấu ăn, giặt giũ, dọn nhà... thật nhanh nhẹn, gọn gàng. Dù nhà cửa có bề bộn đến mấy, mà nếu được bàn tay siêng năng của mẹ thì sẽ trở nên gọn gàng. Vì lo cho cuộc sống của gia đình mà mẹ chẳng bao giờ rảnh rỗi cả, hết việc nhà rồi lại làm ruộng.
Mẹ là một người luôn dành trọn mọi sự yêu thương và lo toan cho em. Lúc em làm điều gì sai trái, mẹ không la mắng gì đâu mà mẹ dạy em những điều hay lẽ phải, khiến em luôn ghi nhớ trong lòng. Tuy mẹ bận rộn lắm nhưng mẹ vẫn luôn quan tâm tới công việc học hành của em. Lúc em đau ốm, mẹ là bàn tay ấm áp, che chở cho em vượt qua.
Đối với mọi người trong làng xóm, mẹ rất hòa nhã, cởi mở với họ nên ai cũng quý mến mẹ. Trong công việc, mẹ rất nhiệt tình nên mỗi lần đi dặm hay gặt lúa thì ai cũng kêu mẹ đi.
Thế đấy! Người mẹ thân yêu của em là như vậy đó, mẹ là một người rất yêu thương đứa con của mình. Em yêu mẹ lắm! Yêu mẹ rất nhiều. Em tự nhủ rằng sẽ cố gắng học tập thật giỏi để trở thành con ngoan, trò giỏi, cháu ngoan Bác Hồ, mai sau đền đáp công ơn to lớn của mẹ đã bao năm chăm lo cho em từ miếng ăn đến giấc ngủ.
“Mẹ như biển cả mênh mông
Con luôn ghi nhớ công ơn của người”.
Thứ Tư, 10 tháng 4, 2013
Em biết cách học
Phạm Toàn
http://www.canhbuom.edu.vn
(Báo cáo tại Hội thảo công bố sách giáo khoa tiểu học 2012 của nhóm Cánh Buồm, ngày 6/10/2012 tại Trung tâm Văn hóa Pháp ở Hà Nội)
Hôm nay tại Hội trưởng này[1], trong vòng bốn năm đây là dịp hội thảo lần thứ tư, lần này nhóm biên soạn sách giáo khoa Cánh Buồm vui mừng báo cáo trước toàn xã hội những cuốn sách tiểu học nhóm đã hoàn thành, bao gồm:
- Sách Tiếng Việt (lớp 1, lớp 2, lớp 3, lớp 4 lớp 5);
- Sách Văn (lớp 1, lớp 2, lớp 3, lớp 4 lớp 5);
- Sách Lối sống (lớp 1, lớp 2, lớp 3);
- Sách Tiếng Anh (lớp 1, lớp 2);
- Sách Khoa học và Công nghệ (lớp 1).
Ra đời vào cuối năm 2009[2], đây là những sản phẩm lãng mạn của một nhóm thiện nguyện chưa đến mười thành viên.
Tại sao lại tập hợp nhau để soạn sách giáo khoa tiểu học? Tường trình đầy đủ về việc làm này trước toàn xã hội là điều cần thiết – vì đó là trình ra một hệ thống khái niệm giáo dục đổi mới[3].
1. Làm mẫu
Không chỉ riêng nhóm Cánh Buồm mà cả xã hội, từ các nhà trí thức danh tiếng đến những phụ huynh học sinh bình thường đều chung một nhận định: nền giáo dục nước nhà đang đại khủng hoảng.
Có nhận định cực đoan còn cho rằng nếu không thoát ra được cơn khủng hoảng này, đó sẽ là cuộc tự sát tập thể – ý tưởng quyết liệt này cho rằng Việt Nam đang đứng trước lựa chọn Giáo dục hay là Chết [4].
Tiếc thay, trong khi dư luận xã hội dường như nhất trí coi hiện tình Giáo dục là đại khủng hoảng, thì lại không đạt được sự nhất trí về hướng đi và giải pháp cho một cuộc khủng hoảng đã quá sức chịu đựng.
Chưa kể là, ngay cả khi đạt được một sự “nhất trí” nào đó về lý thuyết, thì vẫn còn đó việc cụ thể hóa lý thuyết thành chương trình học và sách giáo khoa, đồng thời vẫn còn bỏ ngỏ vô số giải pháp về tổ chức sư phạm (chưa kể giải pháp cho việc bảo đảm đời sống vật chất của giáo viên).
Nhóm Cánh Buồm cho rằng trong mớ bòng bong đó, hãy chọn làm mẫu một công việc ích lợi cụ thể, hãy “làm một điều tích cực để chống tiêu cực”[5], một công việc thể hiện cả phương diện lý thuyết lẫn thực tiễn giáo dục.
Công việc làm mẫu có ích và cụ thể đó chính là một bộ sách giáo khoa bậc tiểu học, để qua đó mọi người có thể thấy một cách tương đối dễ hiểu những câu trả lời cho những câu hỏi như: giáo dục là gì? bậc học là gì? bậc tiểu học là gì? chương trình học là gì? sách giáo khoa là gì? vv …
2. Giáo dục
Không ai có thể phủ nhận tầm quan trọng sống còn của sự nghiệp giáo dục đối với đất nước.
Nhưng lại có những luồng ý kiến khác nhau liên quan đến sứ mệnh của Giáo dục, mà ít nhất có ba ý kiến như sau.
Một luồng ý kiến phản đối dùng Giáo dục phục vụ cho một hệ ý thức – vì cách làm này nô dịch hóa thân phận con người về tinh thần. Có tiếng nói đòi “thế tục hóa” Giáo dục[6], gợi nhớ lại bước tiến lịch sử của thời Khai sáng châu Âu khi đòi Nhà trường phải được tách ra khỏi Nhà thờ.
Một luồng ý kiến phản đối dùng Giáo dục phục vụ cho việc gây dựng lực lượng lao động phát triển kinh tế – cách làm này nô dịch hóa thân phận con người về vật chất đã đành, và con người ấy cũng bị nô dịch hóa cả về tinh thần khi nó không còn chọn lựa khác nữa.
Một luồng ý kiến cực đoan hơn nữa, cho rằng từng cá nhân con người với mỗi trẻ em là một “nhà trường” của chính nó, chống lại mọi hình thức nhà trường hiện hữu, lập luận rằng nhà trường nào thì cũng “đồng phục hóa” con người[7].
Nhóm Cánh Buồm quan niệm sứ mệnh của nhà trường là như sau: nó giúp thanh thiếu niên vượt qua trình độ tư duy tiền khoa học để bước sang trình độ tư duy khoa học[8].
Tư duy tiền khoa học là đặc trưng của kiểu người bán khai trong lịch sử tiến hóa nhân loại, kiểu người tương tự như giai đoạn phát triển của trẻ nhỏ trước tuổi học đường. Tư duy tiền khoa học (cụ thể) biết quan sát, biết thu thập số liệu, biết phân tích số liệu, và biết ứng dụng các kết luận từ đó – song như vậy vẫn không đủ!
Tư duy khoa học (trừu tượng) là đặc trưng của kiểu người đương đại nhất thiết phải vươn tới – là tư duy của con người tự do, người có tinh thần trách nhiệm và có năng lực để chịu trách nhiệm, và đó cũng là con người có tâm hồn phong phú.
Từng con người tự do ấy, nhờ được một nhà trường chân chính tổ chức cho nó phát triển tự do, con người ấy sẽ có chọn lựa đối với cái hệ ý thức nó cần, và cũng có cả sự chọn lựa về cách thức xây dựng thể chế kinh tế-chình trị-xã hội được nó đánh giá là hợp lý nhất đối với cộng đồng.
Nhà trường có nhiệm vụ và phải vươn lên để có đủ điều kiện đào tạo thanh thiếu niên đạt tới trình độ tư duy tự lập đó. Từng gia đình, dù có điều kiện đầy đủ nhất, cũng khó có thể tự tổ chức “nhà trường” riêng cho con em mình.
Vấn đề vướng mắc khiến nhà trường chưa bao giờ mang đầy đủ tính thuyết phục, nó vẫn chưa đủ sức tổ chức tạo ra tư duy khoa học theo yêu cầu cao nhất cho thanh thiếu niên – nhà trường cho tới nay giỏi lắm là đủ sức tạo tư duy cụ thể cho con em. Nhà trường ấy đang bị xã hội phê phán mạnh mẽ.
Vì thế mới cần đến cải cách giáo dục.
3. Hiện đại hoá
Cải cách giáo dục là tối cần thiết. Nhưng cải cách theo định hướng nào?
Xã hội đang hết sức bi quan và hoang mang trước nền giáo dục trì trệ. Trạng thái tâm lý xã hội đó tác động sang việc đi tìm một nguyên lý chung nhất cho công cuộc cải cách giáo dục.
Trước hết, có nguyên lý vọng ngoại, dưới nhãn mác hội nhập, muốn sao chép chương trình và sách của nước ngoài. Nguyên lý này khuyến khích cuộc đào tẩu về giáo dục đưa con em ra học ở nước ngoài từ rất sớm, tạo cơ hội mở trường “quốc tế”, và mở tràn lan các kiểu loại tư thục vì lợi nhuận[9].
Tiếp theo, có nguyên lý vọng cổ, luyến tiếc quá khứ, muốn nền giáo dục mới phải phát triển những “cái hay cái đẹp” của các ý tưởng giáo dục Nho giáo, hoặc đòi hỏi “phát huy” những điều “tốt đẹp” trong các thực tiễn giáo dục cũ (từ thời Pháp thuộc cho tới thời Việt Nam Công hòa)[10].
Cả nguyên lý vọng ngoại lẫn vọng cổ đều quên rằng, giả sử các nền giáo dục được nêu gương là tuyệt vời chăng nữa, thì cách tạo ra những “vụ gặt” đó đều đã hết thời, hoặc đã khác xa những điều kiện của thời hiện đại, và muốn tạo ra một “vụ mùa” mới đòi hỏi cách canh tác mới, hợp thung thổ, không thể tùy thích.
Sau nữa, có nguyên lý chiết trung, đua nở từ các thiết chế giáo dục tư thục cho tới các tổ chức nghiên cứu giáo dục “xã hội hóa” khác nhau – mỗi tổ chức tranh nhau đưa ra những khẩu hiệu “chân kiềng” đầy tính chất câu khách[11].
Nhóm Cánh Buồm cho rằng nguyên lý chỉ đạo toàn bộ công cuộc giáo dục mới (triệt để cải cách) sẽ chỉ cần đếnmột và chỉ một yếu tố sống còn cho dân tộc, đó là nguyên lý Hiện Đại Hóa.
Hiện đại là mục tiêu và Hiện đại hóa là phương pháp dẫn đến mục tiêu.
Lý lẽ của Cánh Buồm rất phân minh: dân tộc ta, đất nước ta phải hiện đại hóa để sống còn, thì nền giáo dục của dân tộc ta, của đất nước ta, cũng phải theo quỹ đạo đó, phải hiện đại hóa.
Chỉ với một chút khác biệt trong nhận thức đối với khái niệm “hiện đại”:
- “Hiện đại” không xuất hiện ngay một lần như của Trời ban cho, mà được gây dựng dần dần, nên mới chọn Hiện Đại hóa óa thay cho Hiện Đại cụt lủn;thay vì “hiện đại” gọn lỏn;Hiện đại hóa H
- Hiện đại hóa không do vay mượn, sao chép, mà xuất hiện dần dần trên một nền tảng vật chất là công cuộc công nghiệp hóa ở ngay chốn này;
- Công cuộc công nghiệp hóa không chỉ là những nhà xưởng bề thế và các sản phẩm công nghiệp, mà nhất thiết phải tạo ra trong tinh thần con người một sản phẩm đặc biệt: cái văn hóa công nghiệp đặc trưng ở kỷ luật làm việc như một thói quen, một lối sống đạo đức[12].
4. Lý thuyết hoạt động
Một xã hội hiện đại hóa xuất hiện dần dần qua những thành tựu vật chất – công cuộc công nghiệp hóa[13].
Một nhà trường hiện đại hóa cũng xuất hiện dần dần qua nhiều thay đổi, bắt đầu từ sự thay đổi lối lao động học đường căn bản nhất, đó là sự tham gia của học sinh vào công cuộc tự giáo dục thay vì nhận sự giáo dục một chiều ban phát từ giáo viên và các bề trên.
Công cuộc tự giáo dục sẽ diễn ra trong công việc tự học, qua những nhiệm vụ rõ rệt, qua những việc làm và qua cả những thao tác học tập có thể kiểm soát được với độ tin cậy cao.
Công việc dạy học của nhà giáo từ đây sẽ diễn ra không qua việc giảng giải rồi yêu cầu người học ghi nhớ và nhắc lại, mà dạy học là công việc tổ chức các hành động học của trẻ em[14].
Cùng với công việc tổ chức một nền giáo dục hiện đại hóa, cần xác định cái khái niệm cao đạo thường được nhắc đi nhắc lại: nhà trường là nơi dạy người.
Một đứa trẻ nên người trong nền giáo dục hiện đại hóa không nhờ nó ngoan ngoãn “lắng tai nghe lấy mấy lời ru” của mẹ và của cô giáo; một em bé nên người là nhờ em biết cách học – cái CÁCH HỌC không do nhồi nhét mà có, cái cách học hình thành dần dần do nhà trường chủ động tổ chức tạo ra thành một năng lực của người học.
Cách học theo phương thức nhà trường liên quan đến sự phân chia nhiệm vụ mỗi bậc học trong nền giáo dục phổ thông.
• Bậc Mẫu giáo có nhiệm vụ chuẩn bị con trẻ vào trường phổ thông.
Cách học ở bậc này là những trò chơi giúp các cháu hoàn thiện cơ bắp và hoàn thiện cơ quan phát âm (hết nói ngọng) và hoàn thiện các giác quan (nhất là tai nghe và mắt nhìn).
• Bậc Tiểu học mở đầu giai đoạn học theo phương thức nhà trường có nhiệm vụ tổ chức cho trẻ em chiếm lĩnh phương pháp học.
Cách học ở bậc học này là biết phân biệt các phương pháp khác nhau để chiếm lĩnh các đối tượng khác nhau: khoa học, nghệ thuật, lối sống.
• Bậc Trung học có nhiệm vụ hoặc là (a) chuẩn bị cho thanh thiếu niên vào loại trường để nghiên cứu hoặc là (b) chuẩn bị cho thanh thiếu niên vào trường học nghề.
Cách học tương ứng sẽ là (a) giúp các em tự trau giồi kiến thức và có phương pháp học theo lối tập nghiên cứu, và (b) giúp các em tự trau giồi kiến thức và có phương pháp học theo lối hành dụng.
• Bậc Đại học có nhiệm vụ tổ chức cho sinh viên tập độc lập nghiên cứu.
• Bậc Sau đại học có nhiệm vụ tổ chức cho nghiên cứu sinh hoàn toàn độc lập nghiên cứu.
Chúng ta sẽ đi sâu vào chỉ một bậc Tiểu học đã.
5. Tiểu học – bậc phương pháp
Phương pháp học là nội dung của nhà trường ở bậc tiểu học. Sứ mệnh của bậc tiểu học là tổ chức việc học cho trẻ em sao cho các em BIẾT CÁCH HỌC.
Giai đoạn học Mẫu giáo (ở gia đình hoặc ở trường) là “bậc học” không bắt buộc. Các nước phát triển phương Tây gọi đó là giai đoạn “tiền học đường” (pre-school). Nó hàm ý chỉ khi đi học lớp Một thì từ đó mới bắt đầu giai đoạn “học đường”, giai đoạn nhà trường “bắt buộc”.
Từ lớp Một, trẻ em được học để tổ chức tư duy của mình sao cho từ giai đoạn tiền khoa học (tư duy cụ thể) chuyển hẳn sang được giai đoạn khoa học (tư duy trừu tượng).
Tư duy không hình thành nhờ những lời khuyên nhủ. Tư duy hình thành nhờ tiến hành công việc tự học, tự giáo dục.
Nói đến tự học không có nghĩa là “thả nổi” cho trẻ em tự vẫy vùng như việc tự học của người lớn. Nội dung “tự học” ở bậc tiểu học là cách thức nhà trường từ bỏ lối giảng giải để thay vào đó là tổ chức các hoạt động họccủa trẻ em.
Thay cho lời giảng giải, các hoạt động học trong mỗi tiết học diễn ra bằng các việc làm sau:
- Việc 1: giao nhiệm vụ. Giáo viên giao nhiệm vụ của tiết học cho học sinh thực hiện. Kết thúc công việc này là một sản phẩm do chính tay học sinh làm ra (tìm ra).
- Việc 2: làm mẫu thao tác học. Giáo viên làm mẫu cái thao tác học để nhờ đó mà làm xong nhiệm vụ (tạo ra sản phẩm) – thí dụ làm mẫu thao tác phát âm, thao tác phân tích …
Tiếp đó, học sinh tiến hành các thao tác học, được chia ra như sau:
• Thao tác với vật thật để học cách phân tích mẫu[15].
o Thao tác vật chất, cụ thể, bằng cơ bắp với các vật liệu – có kèm theo lời nói mô tả thao tác mình đang tiến hành.
o Thao tác thầm, nhắm mắt nghĩ trong đầu những việc đã làm, suy nghĩ về kết quả đã tìm ra[16].
- Việc 3: thu hoạch. Học sinh tự trình bày những điều đã tìm ra. Việc ghi nhận các kết quả (sản phẩm) không nhất thiết phải bằng lời, hoặc bằng cách ghi bài, càng không bao giờ bằng cách chép bài theo lời tóm tắt của giáo viên.
Học sinh sẽ tự ghi lại sản phẩm của mình bằng vài cách, thí dụ:
• Tự “ghi” bằng đóng kịch, kịch câm, kịch nói.
• Tự “ghi” bằng vẽ, vẽ tranh, làm tranh truyện.
• Tự ghi bằng sưu tầm, điều tra.
o Tự ghi bằng tổ chức tranh luận, thậm chí tự tổ chức diễn đàn Hội thảo khoa học (từ lớp 5).
o Tự “ghi” nhận thức bằng lời nói và sau đó là bài tự viết[17].
6. Đối tượng [18]
Muốn tổ chức việc học của học sinh tiểu học thành bậc học phương pháp học do các em tự thực hiện nhữngviệc làm và thao tác sao cho hoàn thành nhiệm vụ tiết học được giao, nhà sư phạm nhất thiết phải phân biệt được đối tượng học sinh phải chiếm lĩnh.
Trong cuộc sống, các đối tượng tồn tại ở dạng những đồ vật dửng dưng, khách quan, dưới dạng những vật tự nó. Khi con người có nhu cầu, có động cơ đến với các đồ vật nào đó, cái đồ vật (chose, thing) ấy trở thành cáiđối tượng (objet, object) để tìm hiểu – sau đó, trong trường hợp may mắn, để chiếm lĩnh.
Đồ vật thì nhiều, càng ngày càng nhiều trước con mắt của ta, người học sinh không tài nào chiếm lĩnh được tất cả các đồ vật theo lối năng nhặt chặt bị. Khi thu gom lại thành những đối tượng, con người sẽ chiếm lĩnh chúng theo các phạm trù không thể lẫn lộn.
Ba phạm trù đối tượng để học sinh chiếm lĩnh là Khoa học, Nghệ thuật, Đạo đức.
Đến đây, lại có thể định nghĩa thêm như sau: phương pháp để học sinh tiểu học chiếm lĩnh được gửi trongcách làm ra từng loại sản phẩm. Cách làm ra ba loại sản phẩm khoa học, nghệ thuật và đạo đức khác nhau như sau:
- Sản phẩm khoa học được làm ra gửi trong các khái niệm khoa học mang tính chất chính xác, chặt chẽ, lô gich.
- Sản phẩm nghệ thuật được làm ra gửi trong các ẩn dụ mà trình độ tường minh cao nhất có thể là một ngữ pháp nghệ thuật tạo thành bởi tưởng tượng, liên tưởng và bố cục.
- Sản phẩm đạo đức được làm ra gửi trong mối quan hệ được xây dựng theo hướng tốt đẹp giữa người với người.
Và để sư phạm hóa được tiến trình chiếm lĩnh ba đối tượng khác nhau ở bậc tiểu học, lại có thể thu gọn hơn nữa theo định hướng việc làm – làm mà học, làm thì học – như sau:
- Phương pháp làm ra sản phẩm khoa học có thể thực hiện theo cách làm lại những việc làm và thao tác nhà khoa học đã thực hiện khi họ chiếm lĩnh một đối tượng nhất định.
- Phương pháp làm ra sản phẩm nghệ thuật có thể thực hiện theo cách làm lại những việc làm và thao tác người nghệ sĩ đã thực hiện khi họ tạo ra một tác phẩm nghệ thuật.
- Phương pháp làm ra sản phẩm đạo đức có thể thực hiện theo cách làm lại những việc làm và thao tác nhà hoạt động xã hội đã thực hiện khi họ tổ chức cuộc sống chung cho một cộng đồng nhất định.
7. Tiếng Việt
Theo những điều phát biểu cho tới lúc này, phương pháp “học” tiếng Việt ở bậc tiểu học được gửi trong cách thức nhà ngôn ngữ học khám phá các vật liệu tiếng Việt để quy tập các vật liệu kia vào từng nhóm khái niệm ngôn ngữ học.
Vào thời điểm thế kỷ 17, tiếng Việt đã được ghi lại bằng chữ Nôm. Các nhà ngôn ngữ học phương Tây đã không dùng chữ Nôm[19], mà dùng những ký hiệu a b c để tạo ra một hình thức ghi tiếng Việt khác, hiện đang được dùng chính thức.
Trẻ em làm lại quá trình đó như thế nào?
Ở lớp Một, khi trẻ em đến trường bắt đầu học tiếng Việt, các em đã nói năng khá thành thạo ngôn ngữ mẹ đẻ đó. Nhiệm vụ lúc này là tìm cách ghi lại tiếng nói đó. Nhắc lại điều đã phát biểu ở bên trên, các em sẽ “quy tập” vật liệu tiếng Việt vào nhóm khái niệm ngữ âm học.
Làm công việc này, chính là các em làm lại công việc các nhà ngôn ngữ học khi bắt đầu đến với tiếng Việt hồi thế kỷ thứ 17: tìm cách ghi lại cái ngôn ngữ ấy.
Các nhà ngôn ngữ học phương Tây làm công việc ghi tiếng Việt trong nhiều chục năm mới xong (1620 đến 1626 và 1631 đến 1648), và trong quá trình làm việc, họ gặp không biết bao nhiêu sai lầm[20].
Vào những năm 1960 thế kỷ trước, nhóm nhà ngôn ngữ học ở Đại học tổng hợp Hà Nội đã tổng kết ngữ âm học tiếng Việt.
Vào những năm 1980 thế kỷ trước, nhà tâm lý học Hồ Ngọc Đại ở Trường thực nghiệm giáo dục phổ thông Giảng Võ, Hà Nội đã biến tổng kết ngữ âm học tiếng Việt trên thành quy trình chặt chẽ giúp học sinh làm lạimột cách chắc chắn, dễ dàng[21].
Nhà sư phạm hiện đại giúp trẻ em tránh được những sai phạm của người đi trước, và tổ chức toàn bộ công việc ghi âm tiếng Việt đó của trẻ em chỉ diễn rá trong vòng 5-6 tháng.
Kể từ lớp Hai trở đi, học sinh “làm lại” những việc làm và thao tác ngôn ngữ học với vật liệu tiếng Việt như thế nào?
Ta biết rằng, sau khi các nhà ngôn ngữ học phương Tây đã tạo ra cách ghi tiếng Việt bằng bộ chữ cái a b c, sau khi đã có công cụ ghi chép đó, họ tiến hành sưu tầm từ ngữ và cách diễn đạt tiếng Việt.
Trong hơn hai trăm năm, các nhà ngôn ngữ học cả phương Tây lẫn người Việt đã làm ra gần một chục bộ từ điển và vô số sách sưu tầm tác phẩm truyền khẩu tiếng Việt… tiếp đến việc ra đời vô số nhà xuất bản và báo chí … [22].
Cách học của học sinh lớp Hai trong một năm học sẽ “làm lại” thế nào công việc kéo dài hơn hai thế kỷ đó? Con đường “làm lại” sẽ thu gọn trong những bước tổng quát như sau: Tín hiệu học (các loại tín hiệu, rồi đến tín hiệu ngôn ngữ, dừng lại ở đơn vị từ) – Từ thuần Việt (có từ xa xưa liên quan đến ĂN, LÀM, Ở, GIA ĐÌNH, và ĐÁNH GIÁ) – Từ ghép thuần Việt (ghép hợp nghĩa, ghép phân nghĩa, từ láy) – Từ Hán Việt – Từ mượn của phương Tây.
Lên lớp Ba, học sinh khám phá phương diện cú pháp tiếng Việt về hai mặt cú pháp của Câu tiếng Việt và lô gich của Câu tiếng Việt.
Lên lớp Bốn, các em khám phá văn bản tiếng Việt để có thể tự tạo ra một văn bản.
Lên lớp Năm, các em học vận dụng toàn bộ những điều đã chiếm lĩnh về ngôn ngữ học tiếng Việt vào các loại hình ngôn ngữ trong xã hội: ngôn ngữ khoa học, ngôn ngữ hành chính, và ngôn ngữ đời thường.
Năng lực ngôn ngữ của học sinh tiểu học, giả định học theo sách Tiếng Việt của nhóm Cánh Buồm, sẽ khó có thể chỉ là biết đọc biết viết hoặc đọc thông viết thạo mà đó sẽ là những em nhỏ tuy tuổi 11, 12, song tư duy ngôn ngữ học thì sẽ cao hơn rất nhiều những đầu óc đơn giản chủ nghĩa của người lớn[23].
Đó là nhờ cách học bằng việc làm chứ không học bằng nghe giảng về cái hay cái đẹp của tiếng mẹ đẻ.
8. Nghệ thuật
Đối với môn Văn, mà nhóm Cánh Buồm xác định như môn học giáo dục hành vi và tư duy nghệ thuật, thì cách học bằng việc làm hoàn toàn có ưu thế, hơn hẳn cách học bằng nghe bình giảng và cảm thụ về cái đẹp của văn chương.
Nhóm Cánh Buồm xác định ngay từ định nghĩa nghệ thuật là cách làm ra cái đẹp ẩn dụ bằng những vật liệu khác nhau: vật liệu âm thanh trong âm nhạc, vật liệu cơ thể trong nhảy múa, vật liệu màu sắc và hình khối trong hội họa (và điêu khắc, kiến trúc), và vật liệu bằng lời trong loại hình trữ tình (thơ), tự sự (văn xuôi) và kịch[24].
Xác định người học chỉ có thể có năng lực và tư duy nghệ thuật một khi bắt tay làm ra sản phẩm nghệ thuậtnên nhóm Cánh Buồm định hướng học “Văn” theo lối làm lại các hành động, thao tác, và tư duy mà người nghệ sĩ đã thực hiện.
Chắt lọc ra từ các hành động và thao tác ấy một bộ khung chỉ đạo chúng, ta được một ngữ pháp nghệ thuật.Ngữ pháp này gồm các yếu tố tưởng tượng, liên tưởng và bố cục.
Ngữ pháp đó hoạt động xung quanh một yếu tố tinh thần ở người nghệ sĩ chân chính: một lòng đồng cảm với thân phận con người. Lòng đồng cảm này ở người nghệ sĩ khiến người đó có được cảm hứng sáng tạo nghệ thuật chân chính.
Xin đừng nghĩ những nội dung như vừa kể ra là cao siêu. Đó là yêu cầu tối thiểu để một học sinh tiểu họcchiếm lĩnh được đối tượng nghệ thuật.
Theo hướng đi này, học sinh lớp Một được giáo dục lòng đồng cảm thông qua những trò chơi đóng vai.
Học sinh lớp Hai được học thao tác tưởng tượng thông qua việc học cách tạo ra các hình tượng coi như là căn cốt của bất kỳ tác phẩm nghệ thuật nào.
Học sinh lớp Ba được học thao tác liên tưởng thông qua việc học cách thay đổi các hình tượng, thay đổi ngôn từ, coi như là “kỹ thuật” tạo ra một ý cho bất kỳ hình tượng nào của tác phẩm nghệ thuật.
Học sinh lớp Bốn được học thao tác bố cục thông qua việc học luật sáng tác cơ bản với những thể loại văn học cơ bản – thể thơ Đường luật, tác phẩm kể chuyện bằng văn xuôi, tác phẩm kịch, nghệ thuật sắp đặt – coi như là những “quy định kỹ thuật” giúp tác giả tạo ra một chủ đề mang một tư tưởng gửi trong bất kỳ tác phẩm nghệ thuật nào.
Học sinh lớp Năm được học dùng bộ ngữ pháp nghệ thuật đã học vào việc tạo ra các loại hình nghệ thuật cơ bản: âm nhạc, nhảy múa, hội họa, trữ tình (thơ), tự sự (văn xuôi) và kịch.
Mục đích việc học này không nhằm đào tạo các nhà văn và nghệ sĩ. Đây hoàn toàn là phương thức làm mà học – làm thì học qua đó trẻ em sẽ vào đời không “nói leo” về nghệ thuật, mà là người có một tâm hồn thực sự phong phú nhờ năng lực thực thụ biết tạo ra những ẩn dụ nghệ thuật từ ngay trong quá trình học.
9. Đạo đức
Có nhiều lý do để môn học giảng giải áp đặt một chiều xưa nay có tên là Luân lý, hoặc Đạo đức, hoặc Công dân giáo dục khó có đất tồn tại trong một nền giáo dục hiện đại hóa.
Trước hết, đó là vì sự phát triển của mọi xã hội đương thời khiến con người bị buộc phải đứng trước ít nhất ba chọn lựa với ít nhất ba trào lưu đạo đức.
Một trào lưu đại diện cho “sức mạnh của quá khứ”. Một trào lưu đại diện cho “sức mạnh cưỡng lại quá khứ”. Một trào lưu đang đi tìm “bến đỗ đạo đức” cho cá nhân mình và cho cả thế hệ mình.
Trong nhà trường, thanh thiếu niên bộc lộ phản ứng khác nhau, trước hết là vì sách giáo khoa và chương trình giáo dục đạo đức không đáp ứng nhu cầu sống và tâm lý của các em.
Ta buộc phải trở lại xem xét những nghiên cứu (như của Jean Piaget chẳng hạn) để cho người lớn có được một cách nhìn hiện đại vào quan điểm của trẻ em đối với vấn đề đạo đức[25].
Hệ thống giáo dục cải cách theo hướng hiện đại hóa của Cánh Buồm tiếp nối những thành tựu của hệ thống Công nghệ Giáo dục bằng việc thay đổi môn học cũ thành môn Giáo dục Lối sống.
Tuy nhiên, môn Lối sống của Cánh Buồm cũng đã thay toàn bộ nội dung Giáo dục Lối sống của Công nghệ Giáo dục bằng định hướng mới: tổ chức cho học sinh có tinh thần và khả năng tạo ra một cuộc sống mới của mình và của cộng đồng theo nguyên tắc ĐỒNG THUẬN.
Lớp Một: đồng thuận (giữa giáo viên, phụ huynh và trẻ em) để tổ chức cuộc sống TỰ LẬP của con em.
Lớp Hai: đồng thuận để tổ chức cuộc sống mới trong CỘNG ĐỒNG (khái niệm cộng đồng ở dạng khái quát nhất).
Lớp Ba: đồng thuận để tổ chức cuộc sống mới trong cộng đồng GIA ĐÌNH.
Lớp Bốn: đồng thuận để tổ chức cuộc sống mới trong cộng đồng TỔ QUỐC.
Lớp Năm: đồng thuận để tổ chức cuộc sống mới trong cộng đồng NHÂN LOẠI.
10. Ngoại ngữ
Trong việc dạy tiếng nước ngoài, từ lớp mẫu giáo đến các trường phổ thông, trường học nghề, nhất là các trung tâm ngoại ngữ ngoài nhà trường, đâu đâu cũng nói đến giao tiếp. Giáo viên rất khổ với cái “bóng ma” giao tiếp này!
Là ma, vì không ai định hình cho rõ cách làm như thế nào để đạt được năng lực giao tiếp. Càng khó khi “định hướng” lại như sau: lấy giao tiếp nuôi giao tiếp.[26]
Đường lối gọi là giao tiếp sinh ra từ đầu năm 1944. Người Mỹ tính toán năm 1945 sẽ là năm quyết định Thế chiến II. Mỹ đã nhìn xa chuẩn bị tiếp quản cả cái thế giới rộng lớn này – gần nửa triệu sĩ quan được cấp tốc đào tạo để đủ sức “giao tiếp” bằng ngoại ngữ.
Đường lối “giao tiếp” cho phép diễn đạt sai cấu trúc miễn là đôi bên hiểu nhau. Nó nhấn mạnh vào ngôn ngữ nói. Nó nhấn mạnh vào ý nghĩa thực dụng. Đường lối đó càng được củng cố khi hết Thế chiến II, vào những năm 1950 thế kỷ trước, có những làn sóng di dân, chuyển vùng để kiếm sống[27].
Đường lối giao tiếp này có thể không sai với người học lớn tuổi cần học nhanh, dùng ngay. Nhưng áp dụng cho đông đảo trẻ em đủ thời giờ học trong 10 năm, 12 năm, liệu nó có chắc đúng[28]?
Phải có một hướng đi và cách làm khác để thay đổi cách dạy tiếng nước ngoài.
Trước hết, cần xác định trẻ em 6 tuổi đến trường phổ thông học ngoại ngữ nhằm mục đích gì?
Đó là để học lấy một cách thức và có được một công cụ hòa nhập vào với một nền văn hóa xa lạ.Nhu cầu hòa nhập này giúp mở mang dân trí hiện đại hóa đất nước.
Xác định mục đích như thế, sẽ thấy cách học cấp tốc (intensive) là hoàn toàn không thích hợp với người học nhỏ tuổi. Thâm nhập, hòa nhập đàng hoàng với một nền văn hóa khác là điều hoàn toàn không giống vượt biên kiếm sống.
Vậy nên, đường lối học ngoại ngữ phải thay đổi, đường lối ấy nên là sự kết hợp chặt chẽ giữa Cấu trúc và Chức năng. Chức năng (giao tiếp) chỉ có thể thực hiện được một cách tự nhiên, không vội vã, nhờ am tường cái ngôn ngữ nước ngoài được học. Phát âm sai, vốn từ không đủ và dùng không chuẩn, cú pháp vụng dại, và không hiểu tính cách dân tộc của “người khác”, thì không giao tiếp được!
Sách học tiếng Anh của nhóm Cấnh Buồm được soạn theo định hướng sau:
Bậc tiểu học: học để chiếm lĩnh tiếng Anh cơ bản.
Lớp Một: Âm – Từ – Trò chơi ngôn ngữ. Nội dung đó được hiểu như sau: ngay từ lớp 1 phải học phát âm tiếng Anh cho đúng – các âm đó gửi trong các từ tiếng Anh nên đây là cơ hội học khoảng 200-250 từ tiếng Anh – và để giúp cho việc học không nhàm chán, sẽ có nhiều trò chơi ngôn ngữ, trò chơi giao tiếp.
Lớp Hai: Từ loại tiếng Anh – Trò chơi ngôn ngữ. Nội dung đó được hiểu như sau: củng cố năng lực phát âm học từ lớp Một, tăng cường số vốn từ lên khoảng 400 từ tiếng Anh – và có thêm nhiều trò chơi ngôn ngữ, trò chơi giao tiếp.
Lớp Ba: Câu tiếng Anh – Cách tạo ra các kiểu câu tiếng Anh. Trò chơi ngôn ngữ. Trò chơi giao tiếp.
Lớp Bốn: Bài tiếng Anh – Cách tạo ra đoạn văn và bài văn tiếng Anh.
Lớp Năm: Văn hóa Anh – Sơ lược về truyền thống Anh. Thói quen giao tiếp và ứng xử của người Anh. Văn, thơ, họa, nhạc, kịch trong văn hóa Anh.
11. Sư phạm
Khi bộ sách cải cách theo chương trình năm 2000 ra đời, bộ sách đó được hỗ trợ bằng pháp lý, hiểu giản dị làcả nước chỉ dùng chung một chương trình và một bộ sách.
Bộ sách CT-2000 bắt đầu dùng phổ biến từ năm 2004, thì năm 2008 đã có lời kêu gọi “giảm tải”. Cho đến ngày mở đầu năm học mới 2011-2012, vẫn còn chỉ thị “giảm tải sâu” đối với CT-2000.
Cho đến hôm nay, khi đã sang năm học 2012-2013, trước sự bế tắc hoàn toàn của công việc “giảm tải sâu”, dư luận đã vào hùa với luồng ý kiến đòi một chương trình nhiều bộ sách.
Thực ra thì luồng ý kiến xác đáng hơn cả bây giờ là nhiều chương trình nhiều bộ sách. Bởi vì cả chương trình và sách là sự thể hiện của một tư duy giáo dục. Một chương trình bất cập thì dù có thay đổi sách giáo khoa đến bao nhiêu cũng bó tay mà thôi.
Bộ sách giáo khoa bậc tiểu học của nhóm Cánh Buồm là giải pháp nghiệp vụ của một tư tưởng sư phạm khác. Đây là một chương trình khác thể hiện thành một bộ sách giáo khoa khác. Bộ sách giáo khoa Cánh Buồm không tự giao nhiệm vụ thực hiện CT-2000 hiện hành.
Bộ sách giáo khoa tiểu học Cánh Buồm mong muốn được triển khai vào thực tiễn. Với kỳ vọng “làm một điều tích cực để chống tiêu cực”, nhóm Cánh Buồm cũng cho rằng “làm ra một sản phẩm cụ thể thay thế cái cần thay thế là cách thức phản biện xã hội có trách nhiệm”.
Song những người biên soạn hoàn toàn không kỳ vọng nhận được một sự thừa nhận về mặt hành chính, vì đây là một bộ sách mang một trình độ tư duy giáo dục khác hẳn.
Vì thế, bộ sách này hướng về cá nhân những người sử dụng: các nhà giáo, các vị phụ huynh, những nhà nghiên cứu khoa học giáo dục.
Việc công bố trọn gói bộ sách này là có chủ đích giúp những người dùng sách có cái nhìn theo chiều dọc – đủ sức hình dung con em học xong bộ sách này sẽ trở thành những cá thể có trình độ tư duy và năng lực thực tiễn ra sao.
Người dùng sách cũng hình dung con em sẽ dùng các thao tác tự học để tự chiếm lĩnh phương pháp học như thế nào qua bộ sách này. Các thao tác đó được hướng dẫn bằng lời ngay trong sách và khi gặp những khái niệm quan trọng thì còn có thêm hình minh họa cách học.
Nhiều đoạn trong các sách giáo khoa tiểu học Cánh Buồm còn khéo léo trình bày cả những kiến thức cơ bản để người dạy có thêm điều kiện dắt dẫn quá trình con em chiếm lĩnh đối tượng.
Nói cách khác, bộ sách giáo khoa tiểu học Cánh Buồm được soạn tạm thời để dùng chung cho cả người học và người hướng dẫn.
Tập thể tác giả hình dung sẽ có bộ sách giáo khoa sư phạm chỉ rõ cái lý thuyết đã tạo ra bộ sách này, để người dạy con em hiểu rõ về lý luận vì sao cần phải thực hiện cung cách dạy học không giống trước đây.
Bộ sách giáo khoa Tiểu học Cánh Buồm cũng có thể dùng cho các học sinh lớp trên, vì theo chương trình và sách dành cho các em học chưa bao giờ có những nội dung và cách học như ta bắt gặp trong bộ sách mới này.
12. Biết ơn
Nhóm Cánh Buồm năm nay ba tuổi. Trong ba năm qua, các thành viên của Nhóm vừa làm vừa học để bổ khuyết những điều chưa bao giờ được học ở trường sư phạm, lại vừa kiếm sống vừa làm công việc biên soạn sách thiện nguyện để thỏa mãn lý tưởng đóng góp cho cuộc cải cách giáo dục.
Một vài ân nhân lớn cần ngỏ lời cám ơn nhân dịp này.
Trung tâm L’Espace của Pháp tại Hà Nội đã giúp đỡ công việc của nhóm Cánh Buồm hơn mức chu đáo. Lần giới thiệu sách tiểu học này, L’Espace còn cho mượn sảnh để triển lãm hình minh họa đen trắng các sách giáo khoa mới. L’Espace đã tạo cho Cánh Buồm một diễn đàn với sự am hiểu chỉ bắt gặp ở những nhà văn hóa[29].
Trường phổ thông Nguyễn Văn Huyên ngay từ năm 2010 đã mời nhóm Cánh Buồm tới dạy sách mới vào các buổi chiều[30]. Trường còn cho nhóm Cánh Buồm mượn một phòng học lớn để làm trụ sở của nhóm. Tại Hội thảo Tự học – Tự giáo dục năm 2011, trường còn cho học sinh tham gia đóng kịch với nhóm Cánh Buồm, đêm diễn cũng ở hội trường L’Espace, đơn sơ nhưng gây được thiện cảm.
Sách giáo khoa tiểu học do Nhóm Cánh Buồm bỏ tiền in với sự bảo trợ về tinh thần của Nhà xuất bản Tri thức, Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh. Nhân dịp này, xin ngỏ lời chân thành cám ơn những nhà hảo tâm đã giúp cho việc in sách trong ba năm nay:
- Giáo sư Hoàng Tụy
- Thái Văn Cầu, kỹ sư không gian
- Nguyễn Trần Bạt, doanh nhân (tặng hai lần)
- Giáng Vân, nhà thơ, nhà báo
- Nguyễn Viết Dũng, Thư ký đề án
- Lê Quốc Quân, luật sư
- Đoàn Minh Tuấn, nhà giáo về hưu
- Nhà văn Phạm Lưu Vũ
- Nguyễn Trần Diễm Linh, giáo viên
- Nguyễn Ngọc Điệp, giáo viên
- Hoàng Hưng, nhà thơ,
- Nguyễn Thị Mười, phu nhân nhà thơ Hoàng Hưng
- Trung tâm L’Espace
- Bác sĩ Nguyễn Kim Cương và bà Hoàng Minh Ngọc
- Gia đình Trung tướng Trần Độ
- Nhà báo Trung Dân
- Nguyễn An Kiều, doanh nhân
- Hai gia đình Đan Mạch và Na Uy ở Việt Nam (giấu tên)
- Ba thành viên nhóm Cánh Buồm
Với các nhà hảo tâm, nhóm Cánh Buồm biết ơn một, thì nhóm sẽ biết ơn gấp bội những ân nhân sẽ mua sách và dùng sách của Nhóm. Chắc chắn con em các vị sẽ thích học sách Cánh Buồm, chắc chắn quý vị sẽ thích mỗi ngày cùng “chơi” với con em bằng những bài luyện tập thú vị, khiến chúng tôi thấy rõ điều mong ước lý tưởng của mình: Giáo dục đem hạnh phúc đến từng gia đình[31] và[32].
Xin cám ơn.
________________________________________
CHÚ THÍCH
[1] Đây là cuộc Hội thảo lần thứ tư. Các cuộc hội thảo trước đây:
- Hội thảo Hiểu trẻ em – Dạy trẻ em (tháng 11 năm 2009) như một tuyên ngôn của nhóm Cánh Buồm vềđịnh hướng tâm lý học giáo dục chỉ đạo quá trình soạn lại bộ sách giáo khoa tiểu học mới;
- Hội thảo Cháo Lớp Một (tháng 11 năm 2010) giới thiệu 5 cuốn sách lớp Một như một thăm dò và đánh động dư luận xã hội;
- Hội thảo Tự học – Tự giáo dục (tháng 10 năm 2011) như một thăm dò nữa cho định hướng hiện đại hóanền Giáo dục nước nhà.
Ngoài ra, còn có Hội thảo Một cánh buồm – một nền giáo dục hiện đại hóa (tháng 4 năm 2012) tại viện IDECAF thành phố Hồ Chí Minh nhằm tiếp tục thăm dò định hướng công cuộc Cải cách Giáo dục mà nhóm Cánh Buồm đeo đuổi.
[2] Nhóm Cánh Buồm ra đời cuối năm 2009 trước cuộc Hội thảo Hiểu trẻ em – Dạy trẻ em. Các thành viên nhóm Cánh Buồm không cố định. Có thể tham khảo báo Tia sáng số đầu tháng 8-2012 (từ trang 24-35) và vào trang mạng hiendai.edu.vn để tìm hiểu về nhóm này.
Một vài chi tiết đáng chú ý như sau. Trước năm 2009, người có sáng kiến lập ra nhóm biên soạn này đã thử nhiều cách để tổ chức biên soạn lại sách giáo khoa tiểu học nhưng không thành công. Một cơ may vào mùa hè năm 2009, giáo sư Hồ Ngọc Đại nhờ nhà giáo Phạm Toàn huấn luyện 20 “ứng viên” về Viện Công nghệ Giáo dục để triển khai sách tiếng Việt lớp 1 lên miền núi. Sau cuộc huấn luyện 2 tuần, kế hoạch tuyển dụng không thành. Ai về nhà nấy, trừ bốn người ở lại thành lập hạt nhân ban đầu của nhóm Cánh Buồm. Trong số bốn người đó, nay còn lại ba người: Nguyễn Thị Thanh Hải, Đinh Phương Thảo, Vũ Thị Như Quỳnh. Sau đó, có lúc số thành viên của nhóm lên gần 20. Con số dao động theo lượt người đến học việc, thử việc, và tiếp tục trụ lại hoặc ra đi.
[3] Xin tham khảo Một nền giáo dục Việt Nam hiện đại, Tri thức xuất bản, Hà Nội, 2012. Nội dung Một nền giáo dục Việt Nam hiện đại đã được trình bày tại Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, tháng 3 năm 2010.
[4] Hồ Như Hiển, “Thay đổi giáo dục hay là chết?” Theo Blog Hồ Như Hiển,http://blog.yahoo.com/_IBDF37GINNJ5HGTPFWEKGYY544/articles/400548
[5] Xin coi trên trang mạng của nhóm Cánh Buồm hiendai.edu.vn “Tạo ra một cái mẫu khả thi – thân phận của công việc nghiên cứu khoa học” Bài nói ngày 27 tháng 9 năm 2010 tại Trung tâm L’Espace. Kèm bản dịch tiếng Pháp và tiếng Anh. Nguồn: http://hiendai.edu.vn/danhmuc.php?cat=3&post=115
[6] Một ý lớn trong bài nói của giáo sư Hoàng Tụy tại Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, tháng 5 năm 2010, sau cuộc báo cáo đã dẫn ở chú thích (3).
[7] Xin coi: Bé 9 tuổi vẽ tranh người lớn giật mình
http://www.baomoi.com/Be-9-tuoi-ve-tranh-nguoi-lon-giat-minh/52/8279413.epi
và : Trò chuyện với bố nuôi cậu bé 9 tuổi không đến trường
http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/70684/tro-chuyen-voi-bo-nuoi-cau-be-9-tuoi-khong-den-truong.html
[8] Coi: Gaston Bachelard, La formation de l’esprit scientifique (Sự hình thành tư duy khoa học), xuất bản lần thứ tư, Nhà xuất bản triết học J. Vrin, Paris, 1960, trang7, trang 8.
G. Bachelard chia các trạng thái phát triển tư duy cá thể người thành:
a/ trạng thái cụ thể, qua đó tư duy con người vui đùa với những hình ảnh đầu tiên thu nhận được của hiện tượng, tụng ca sự đẹp đẽ và thống nhất của Thiên nhiên phong phú; tiếp đó là
b/ trạng thái cụ thể-trừu tượng, lúc này kinh nghiệm sẵn có đã có thêm những sơ đồ hình học và một triết học về sự giản đơn của sự vật. Tư duy con người cá thể vào lúc này vẫn còn đầy nghịch lí, nó vừa tin vào sự trừu tượng hóa mà nó đã nhận thức ra, và nó cũng vừa hoài nghi và muốn dựa vào trục giác có tính chất an toàn hơn; tiếp đó nữa là
c/ trạng thái trừu tượng qua đó tư duy tiến hành thu thập thông tin mà không cần dựa vào trực giác nữa.
[9] Nhiều tiếng nói đang cất lên tập trung ca ngợi nền giáo dục Phần Lan – cũng như trước đây từng ca ngợi Giáo dục Cộng hòa dân chr Đức. Mấy thí dụ:
- Giải mã kỳ tích giáo dục Phần Lan – vietnamnet.vn
- Huyền thoại Giáo dục Phần Lan – reds.vn
- Phần Lan có nền giáo dục tốt nhất thế giới – http://www.baomoi.com
- Câu chuyện về nền giáo dục tuyệt vời ở Phần Lan – giadinh.net.vn
- Nền giáo dục tại Phần Lan – kenhtuyensinh.vn
- Học gì ở nền giáo dục Phần Lan - tuoitre.vn
- Bảy yếu tố giúp Giáo dục Phần Lan thành công – bantingiaoduc.hoasen.edu.vn.
- Phần Lan – Nền Giáo Dục Bậc Nhất Thế giới. – osc.edu.vn-
[10] Blog Hai Lúa giới thiệu khá kỹ về nền giáo dục Việt Nam cộng hòa, tập trung vào triết lý giáo dục và cách thực thi triết lý đó.
[11] Gần như là mỗi trường tư thục và mỗi tổ chức kinh doanh đều có khẩu hiệu của mình làm thành bộ “tam bình” (triptych), kiểu như “Dân chủ, Khoa học, Khai sáng”, hoặc “Tiên tiến, Dân tộc, Khai minh”, hoặc “Hội nhập, Tiên tiến, Khai phóng”, vv…
[12] Văn hóa hiện đại biểu hiện ở lối sống mới: kỷ luật lao động theo bản thiết kế, kỷ luật hợp tác như một lẽ sống để có sản phẩm hoàn chỉnh, kỷ luật bảo đảm chất lượng sản phẩm như một thói quen.
[13] Ta nên nghi ngờ những kế hoạch, những chỉ thị và những cam kết đến một thời hạn nhất định (năm 2020, năm 2030… chẳng hạn) nước Việt Nam sẽ thành một nước hiện đại! Một xã hội hiện đại hóa sẽ không diễn ra theo lối ăn xổi như vậy.
[14] Ta có quyền nghi ngờ những lời mời chào “trang thiết bị hiện đại” của nhiều trường học “hiện đại” do đó học sinh có thể rơi vào nguy cơ chỉ thụ động ngồi nhìn giáo viên biểu diễn “kỹ thuật hiện đại”, trái ngược với tiêu chuẩn “hiện đại” là làm, làm thì học, làm mà học (cách thức nhóm Cánh BUồm dịch khái niệm learning by doing).
[15] Thí dụ để tìm ra các nguyên âm, thì nguyên âm [a] là vật thật làm mẫu.
[16] Những giải pháp triển khai cụ thể trong thực tiễn dạy học các thao tác học, do Hồ Ngọc Đại tạo ra và ứng dụng có hiệu quả trong hệ thống trường thực nghiệm Công nghệ Giáo dục.
[17] Nhiều cách ghi bài để học sinh tự chọn theo cái “trí khôn” mạnh nhất của các em, được gợi ra từ công trình của nhà tâm lý học đương thời Mỹ Howard Gardner. Coi: Howard Gardner, Cơ cấu trí khôn – Lý thuyết trí khôn nhiều thành phần, Phạm Toàn dịch, Giáo dục, 1997, 1998, Tri thức tái bản có bổ sung 2012.
[18] Tác giả báo cáo hết sức biết ơn Giáo sư Tiến sĩ khoa học Hồ Ngọc Đại, nhà sáng lập ngạch Công nghệ Giáo dục ở Việt Nam về những ý tưởng trong mục Đối tượng này. Mấu chốt của khoa sư phạm hiện đại nằm trong việc phân biệt đối tượng chiếm lĩnh nhờ đó mà tổ chức được những việc làm và thao tác thích hợp cho học sinh thực hiện. Các thành viên nhóm Cánh Buồm nhờ nghiên cứu kỹ khái niệm đối tượng đã có thể trình ra trước xã hội bộ sách tiểu học. Một lần nữa, cám ơn giáo sư Hồ Ngọc Đại.
[19] May mắn cho dân tộc Việt Nam là chữ Nôm đã không trở thành chữ viết chính thức! Vì muốn nắm được chữ Nôm, người học phải biết chữ Nho và phải biết luật cấu tạo chữ Nôm về đại thể gồm một ký hiệu cả tiếng bằng chữ Nho ghi “nghĩa” và một ký hiệu cả tiếng cũng bằng chữ Nho ghi “âm”. Chính cái ký hiệu ghi âm này gây rắc rồi nhất, khiến cho chữ Nôm mang tiếng không hoàn toàn oan ức Nôm na (tức na ná) là cham ách qué.
[20] Theo tài liệu của linh mục Đỗ Quang Chính “Lịch sử chữ quốc ngữ” (Dũng Lạc, Sài Gòn, 1950), ban đầu các nhà ngữ âm học phương Tây còn cho rằng tiếng Việt là tiếng đa âm tiết. Do coi tiếng Việt là đa âm tiết, các vị đó cũng coi nhẹ các thanh của tiếng Việt cho tới khi gặp rắc rối với thanh [ (đòi ăn cá được ăn cà, ra lệnh chặt tre về làm rạp thì người nghe hiểu là chặt (đầu) trẻ (nhỏ) ] thì các vị mới vỡ nhẽ.
[21] Hồ Ngọc Đại đã tạo ra một quy trình học ngữ âm tiếng Việt lớp Một hết sức hào hoa với các bước chính như sau: (1) tách lời thành tiếng (2) tiếng giống nhau, tiếng khác nhau (3) tiếng tách làm hai phần (4) tiếng có vần là âm chính (5) tiếng có vần là âm đệm và âm chính (6) tiếng có vần là âm chính và âm cuối (7) tiếng có vần là âm đệm, âm chính và âm cuối … Sách tiếng Việt lớp Một của Hồ Ngọc Đại sau một vài năm bị “phân biệt đối xử”, đã trở lại với các tỉnh khó khăn (miền núi, dân tộc thiểu số), năm học 2012-2013 đã thực hiện ở 16 tỉnh với nhiều chục nghìn học sinh.
[22] Nổi bật là những công trình từ điển của học giả Tây phương như A. de Rhodes, của Taberd, … và của các học giả người Việt như Paulus Huỳnh Tịnh Của, của Petrus Trương Vĩnh Ký … Bên cạnh đó, những công trình nghiên cứu và sư tầm của Huỳnh Tịnh Của và Petrus Trương Vĩnh Ký về truyện nôm khuyết danh, về cách nói năng cư xử của người Việt Nam … đều có thể tính vào kho tàng từ vựng Việt.
Có lẽ cũng cần lưu ý rằng các công trình nghiên cứu từ điển sẽ còn nối tiếp đến tận thời Đào Duy Anh, Hoàng Phê sau này… Và bên cạnh đó là những công trình thực tiễn (các nhà xuất bản và các tòa báo do Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Vũ Đình Long, Vũ Đình Hòe … chủ trương đã buộc việc nghiên cứu cú pháp tiếng Việt phải được xúc tiến (với Phạm Duy Khiêm, Nguyễn Lân, và sau này với Nguyễn Tài Cẩn, Cao Xuân Hạo, Nguyễn Kim Thản, Hoàng Tuệ, … .
[23] Những người lớn tốt bụng và nhiều quyền lực luôn luôn có ý thức duy trì trẻ em ở trạng thái trẻ em như chính các vị người lớn đạo cao đức trọng đó.
[24] Xin nhấn mạnh yếu tố làm ra cái đẹp ẩn dụ khác với sự tán róc về nghệ thuật nơi phòng trà.
Xin vui lòng tham khảo: Quyết định 2493-GD-ĐT ngày 25-7-1995, và các tài liệu ban hành kèm và Quyết định 3049-GD-ĐT ngày 1-9-1995, liên quan đến mục tiêu, kế hoạch, chương trình Cao đẳng Sư phạm đào tạo giáo viên tiểu học và mục tiêu, kế hoạch, khung chương trình đào tạo giáo viên tiểu học lên trình độ Cao đẳng Sư phạm kèm theo một số bộ sách gốc đã được Hội đồng thẩm định sách của Bộ Giáo dục và Đào tạo giới thiệu làm sách dùng chung cho các trường Cao đẳng sư phạm toàn quốc, (trong đó có các nội dung giáo dục âm nhạc và hội họa – chúng tôi nhấn mạnh).
Các tài liệu sư phạm đó đề ra việc cho giáo sinh học “khái quát nghệ thuật âm nhạc thế giới”, “giới thiệu và nghe tác phẩm một số nhạc sĩ tiêu biểu như J. S. Bach, Mô-da, Bê-hô-ven, Su-be, Sô-panh, Tsai-cốp-xki”…, học các “khuynh hướng âm nhạc hiện đại (Jazz, Pop, Rock)”, và “nhạc phi điệu tính”! Các tài liệu này thiếu hẳn phần đào tạo giáo sinh tự tay làm ra âm nhạc để có tư duy âm nhạc đích thực. Phần chương trình Mỹ thuật dự kiến cho học Lịch sử Mỹ thuật Việt Nam và thế giới, “đi sâu vào giới thiệu danh hoạ và tác phẩm tiêu biểu của một số khuynh hướng nghệ thuật”, “phân tích tác phẩm hội hoạ và điêu khắc”, v.v…
[25] Piaget Jean, Khái niệm đạo đức ở trẻ em. Từ năm 2012, nhóm Cánh Buồm tiếp nhận sáng kiến của thành viên mới, nhà giáo, nhà thơ Hoàng Hưng, tổ chức dịch các sách tâm lý học cơ bản của Jean Piaget và của Howard Gardner. Các thành viên Cánh Buồm mới Dương Tường, Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Viết Dũng … cùng tham gia dịch. Sẽ ra mắt sớm: Sự hình thành trí khôn trẻ em, Trẻ em tái cấu trúc hiện thực như thế nào trong tâm lý mình, Khái niệm đạo đức ở trẻ em …
[26] “… giao tiếp không phải là phương pháp, cũng chẳng phải “đường lối”. Nó là cách tiếp cận trong việc giảng dạy ngoại ngữ.” [ … ] “giao tiếp là cách tiếp cận hợp lý nhất, được thừa nhận và áp dụng rộng rãi nhất khi dạy và học một ngoại ngữ.” “Gọi là cách tiếp cận bởi người ta xem giao tiếp vừa là mục tiêu vừa là biện pháp để đạt đến mục tiêu này. Còn không xem nó là phương pháp bởi có thể sử dụng nhiều thủ thuật khác nhau của các phương pháp trước đó, miễn sao đạt tới mục tiêu sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp.” (Báo Tuổi trẻcuối tuần, số ra ngày 25-9-2010).
[27] Người Mỹ nói rõ: “đi vào vùng Trung Phi nói hơn 500 thổ ngữ, bạn không thể bỏ ra quá một tuần chỉ ngồi học tiếng…” Còn làn sóng di dân đã thúc đẩy tiến trình học ngoại ngữ theo “cách tiếp cận giao tiếp” vì “người di dân không thể chờ lâu hơn ba tháng để có một việc làm”.
[28] Thêm một ý cần nói: sách tiếng Anh của nhóm Cánh Buồm không đả kích các chủ trương dạy tiếng nước ngoài khác. Ai muốn cho con em học “giao tiếp” nhanh và thực sự có điều kiện làm việc đó, xin cứ tùy nghi. Chỉ xin các nhà mô phạm hãy ngừng dùng những thống kê để kêu ca những yếu kém của giáo viên, coi giáo viên kém cỏi là trở lực cho công cuộc giao tiếp! Nhóm Cánh Buồm tuyên bố xin “bao thầu” tất cả giáo viên tiếng Anh như hiện có và cùng các giáo viên đó thay đổi tình trạng học tiếng Anh trong cuộc giáo dục cải cách theo hướng hiện đại hóa.
[29] Nhân dịp này, cần nói lời cám ơn tới đạo diễn Phạm Quốc Trọng đã vô tư, nhiệt tình, không một chút do dự tính toán, dù rất bận nhưng vẫn bỏ rất nhiều thời gian giúp các em học sinh Nguyễn Văn Huyên diễn vởChuyện Dế Mèn.
[30] Gồm các lớp tiểu học. Trong qua trình soạn sách, nhóm Cánh Buồm cũng được trường Nguyễn Văn Huyên cho phép dùng sách mới soạn của mình để thử nghiệm việc bồi bổ kiến thức nhằm “lấp lỗ hổng” cho học sinh lớp 6 và lớp 10.
[31] Chúng tôi có “bằng chứng” về niềm hạnh phúc mẹ dùng sách Cánh Buồm chơi với con bằng những bài luyện tập buổi tối qua trường hợp cô Đỗ Thị Minh Nguyệt, cán bộ làm việc tại Trung tâm L’Espace, Hà Nội.
[32] Xin coi trong trang hiendai.edu.vn bài viết sau “Giáo dục phải đưa hạnh phúc đến từng gia đình”,http://hiendai.edu.vn/danhmuc.php?cat=3&post=330
http://www.canhbuom.edu.vn
(Báo cáo tại Hội thảo công bố sách giáo khoa tiểu học 2012 của nhóm Cánh Buồm, ngày 6/10/2012 tại Trung tâm Văn hóa Pháp ở Hà Nội)
Hôm nay tại Hội trưởng này[1], trong vòng bốn năm đây là dịp hội thảo lần thứ tư, lần này nhóm biên soạn sách giáo khoa Cánh Buồm vui mừng báo cáo trước toàn xã hội những cuốn sách tiểu học nhóm đã hoàn thành, bao gồm:
- Sách Tiếng Việt (lớp 1, lớp 2, lớp 3, lớp 4 lớp 5);
- Sách Văn (lớp 1, lớp 2, lớp 3, lớp 4 lớp 5);
- Sách Lối sống (lớp 1, lớp 2, lớp 3);
- Sách Tiếng Anh (lớp 1, lớp 2);
- Sách Khoa học và Công nghệ (lớp 1).
Ra đời vào cuối năm 2009[2], đây là những sản phẩm lãng mạn của một nhóm thiện nguyện chưa đến mười thành viên.
Tại sao lại tập hợp nhau để soạn sách giáo khoa tiểu học? Tường trình đầy đủ về việc làm này trước toàn xã hội là điều cần thiết – vì đó là trình ra một hệ thống khái niệm giáo dục đổi mới[3].
1. Làm mẫu
Không chỉ riêng nhóm Cánh Buồm mà cả xã hội, từ các nhà trí thức danh tiếng đến những phụ huynh học sinh bình thường đều chung một nhận định: nền giáo dục nước nhà đang đại khủng hoảng.
Có nhận định cực đoan còn cho rằng nếu không thoát ra được cơn khủng hoảng này, đó sẽ là cuộc tự sát tập thể – ý tưởng quyết liệt này cho rằng Việt Nam đang đứng trước lựa chọn Giáo dục hay là Chết [4].
Tiếc thay, trong khi dư luận xã hội dường như nhất trí coi hiện tình Giáo dục là đại khủng hoảng, thì lại không đạt được sự nhất trí về hướng đi và giải pháp cho một cuộc khủng hoảng đã quá sức chịu đựng.
Chưa kể là, ngay cả khi đạt được một sự “nhất trí” nào đó về lý thuyết, thì vẫn còn đó việc cụ thể hóa lý thuyết thành chương trình học và sách giáo khoa, đồng thời vẫn còn bỏ ngỏ vô số giải pháp về tổ chức sư phạm (chưa kể giải pháp cho việc bảo đảm đời sống vật chất của giáo viên).
Nhóm Cánh Buồm cho rằng trong mớ bòng bong đó, hãy chọn làm mẫu một công việc ích lợi cụ thể, hãy “làm một điều tích cực để chống tiêu cực”[5], một công việc thể hiện cả phương diện lý thuyết lẫn thực tiễn giáo dục.
Công việc làm mẫu có ích và cụ thể đó chính là một bộ sách giáo khoa bậc tiểu học, để qua đó mọi người có thể thấy một cách tương đối dễ hiểu những câu trả lời cho những câu hỏi như: giáo dục là gì? bậc học là gì? bậc tiểu học là gì? chương trình học là gì? sách giáo khoa là gì? vv …
2. Giáo dục
Không ai có thể phủ nhận tầm quan trọng sống còn của sự nghiệp giáo dục đối với đất nước.
Nhưng lại có những luồng ý kiến khác nhau liên quan đến sứ mệnh của Giáo dục, mà ít nhất có ba ý kiến như sau.
Một luồng ý kiến phản đối dùng Giáo dục phục vụ cho một hệ ý thức – vì cách làm này nô dịch hóa thân phận con người về tinh thần. Có tiếng nói đòi “thế tục hóa” Giáo dục[6], gợi nhớ lại bước tiến lịch sử của thời Khai sáng châu Âu khi đòi Nhà trường phải được tách ra khỏi Nhà thờ.
Một luồng ý kiến phản đối dùng Giáo dục phục vụ cho việc gây dựng lực lượng lao động phát triển kinh tế – cách làm này nô dịch hóa thân phận con người về vật chất đã đành, và con người ấy cũng bị nô dịch hóa cả về tinh thần khi nó không còn chọn lựa khác nữa.
Một luồng ý kiến cực đoan hơn nữa, cho rằng từng cá nhân con người với mỗi trẻ em là một “nhà trường” của chính nó, chống lại mọi hình thức nhà trường hiện hữu, lập luận rằng nhà trường nào thì cũng “đồng phục hóa” con người[7].
Nhóm Cánh Buồm quan niệm sứ mệnh của nhà trường là như sau: nó giúp thanh thiếu niên vượt qua trình độ tư duy tiền khoa học để bước sang trình độ tư duy khoa học[8].
Tư duy tiền khoa học là đặc trưng của kiểu người bán khai trong lịch sử tiến hóa nhân loại, kiểu người tương tự như giai đoạn phát triển của trẻ nhỏ trước tuổi học đường. Tư duy tiền khoa học (cụ thể) biết quan sát, biết thu thập số liệu, biết phân tích số liệu, và biết ứng dụng các kết luận từ đó – song như vậy vẫn không đủ!
Tư duy khoa học (trừu tượng) là đặc trưng của kiểu người đương đại nhất thiết phải vươn tới – là tư duy của con người tự do, người có tinh thần trách nhiệm và có năng lực để chịu trách nhiệm, và đó cũng là con người có tâm hồn phong phú.
Từng con người tự do ấy, nhờ được một nhà trường chân chính tổ chức cho nó phát triển tự do, con người ấy sẽ có chọn lựa đối với cái hệ ý thức nó cần, và cũng có cả sự chọn lựa về cách thức xây dựng thể chế kinh tế-chình trị-xã hội được nó đánh giá là hợp lý nhất đối với cộng đồng.
Nhà trường có nhiệm vụ và phải vươn lên để có đủ điều kiện đào tạo thanh thiếu niên đạt tới trình độ tư duy tự lập đó. Từng gia đình, dù có điều kiện đầy đủ nhất, cũng khó có thể tự tổ chức “nhà trường” riêng cho con em mình.
Vấn đề vướng mắc khiến nhà trường chưa bao giờ mang đầy đủ tính thuyết phục, nó vẫn chưa đủ sức tổ chức tạo ra tư duy khoa học theo yêu cầu cao nhất cho thanh thiếu niên – nhà trường cho tới nay giỏi lắm là đủ sức tạo tư duy cụ thể cho con em. Nhà trường ấy đang bị xã hội phê phán mạnh mẽ.
Vì thế mới cần đến cải cách giáo dục.
3. Hiện đại hoá
Cải cách giáo dục là tối cần thiết. Nhưng cải cách theo định hướng nào?
Xã hội đang hết sức bi quan và hoang mang trước nền giáo dục trì trệ. Trạng thái tâm lý xã hội đó tác động sang việc đi tìm một nguyên lý chung nhất cho công cuộc cải cách giáo dục.
Trước hết, có nguyên lý vọng ngoại, dưới nhãn mác hội nhập, muốn sao chép chương trình và sách của nước ngoài. Nguyên lý này khuyến khích cuộc đào tẩu về giáo dục đưa con em ra học ở nước ngoài từ rất sớm, tạo cơ hội mở trường “quốc tế”, và mở tràn lan các kiểu loại tư thục vì lợi nhuận[9].
Tiếp theo, có nguyên lý vọng cổ, luyến tiếc quá khứ, muốn nền giáo dục mới phải phát triển những “cái hay cái đẹp” của các ý tưởng giáo dục Nho giáo, hoặc đòi hỏi “phát huy” những điều “tốt đẹp” trong các thực tiễn giáo dục cũ (từ thời Pháp thuộc cho tới thời Việt Nam Công hòa)[10].
Cả nguyên lý vọng ngoại lẫn vọng cổ đều quên rằng, giả sử các nền giáo dục được nêu gương là tuyệt vời chăng nữa, thì cách tạo ra những “vụ gặt” đó đều đã hết thời, hoặc đã khác xa những điều kiện của thời hiện đại, và muốn tạo ra một “vụ mùa” mới đòi hỏi cách canh tác mới, hợp thung thổ, không thể tùy thích.
Sau nữa, có nguyên lý chiết trung, đua nở từ các thiết chế giáo dục tư thục cho tới các tổ chức nghiên cứu giáo dục “xã hội hóa” khác nhau – mỗi tổ chức tranh nhau đưa ra những khẩu hiệu “chân kiềng” đầy tính chất câu khách[11].
Nhóm Cánh Buồm cho rằng nguyên lý chỉ đạo toàn bộ công cuộc giáo dục mới (triệt để cải cách) sẽ chỉ cần đếnmột và chỉ một yếu tố sống còn cho dân tộc, đó là nguyên lý Hiện Đại Hóa.
Hiện đại là mục tiêu và Hiện đại hóa là phương pháp dẫn đến mục tiêu.
Lý lẽ của Cánh Buồm rất phân minh: dân tộc ta, đất nước ta phải hiện đại hóa để sống còn, thì nền giáo dục của dân tộc ta, của đất nước ta, cũng phải theo quỹ đạo đó, phải hiện đại hóa.
Chỉ với một chút khác biệt trong nhận thức đối với khái niệm “hiện đại”:
- “Hiện đại” không xuất hiện ngay một lần như của Trời ban cho, mà được gây dựng dần dần, nên mới chọn Hiện Đại hóa óa thay cho Hiện Đại cụt lủn;thay vì “hiện đại” gọn lỏn;Hiện đại hóa H
- Hiện đại hóa không do vay mượn, sao chép, mà xuất hiện dần dần trên một nền tảng vật chất là công cuộc công nghiệp hóa ở ngay chốn này;
- Công cuộc công nghiệp hóa không chỉ là những nhà xưởng bề thế và các sản phẩm công nghiệp, mà nhất thiết phải tạo ra trong tinh thần con người một sản phẩm đặc biệt: cái văn hóa công nghiệp đặc trưng ở kỷ luật làm việc như một thói quen, một lối sống đạo đức[12].
4. Lý thuyết hoạt động
Một xã hội hiện đại hóa xuất hiện dần dần qua những thành tựu vật chất – công cuộc công nghiệp hóa[13].
Một nhà trường hiện đại hóa cũng xuất hiện dần dần qua nhiều thay đổi, bắt đầu từ sự thay đổi lối lao động học đường căn bản nhất, đó là sự tham gia của học sinh vào công cuộc tự giáo dục thay vì nhận sự giáo dục một chiều ban phát từ giáo viên và các bề trên.
Công cuộc tự giáo dục sẽ diễn ra trong công việc tự học, qua những nhiệm vụ rõ rệt, qua những việc làm và qua cả những thao tác học tập có thể kiểm soát được với độ tin cậy cao.
Công việc dạy học của nhà giáo từ đây sẽ diễn ra không qua việc giảng giải rồi yêu cầu người học ghi nhớ và nhắc lại, mà dạy học là công việc tổ chức các hành động học của trẻ em[14].
Cùng với công việc tổ chức một nền giáo dục hiện đại hóa, cần xác định cái khái niệm cao đạo thường được nhắc đi nhắc lại: nhà trường là nơi dạy người.
Một đứa trẻ nên người trong nền giáo dục hiện đại hóa không nhờ nó ngoan ngoãn “lắng tai nghe lấy mấy lời ru” của mẹ và của cô giáo; một em bé nên người là nhờ em biết cách học – cái CÁCH HỌC không do nhồi nhét mà có, cái cách học hình thành dần dần do nhà trường chủ động tổ chức tạo ra thành một năng lực của người học.
Cách học theo phương thức nhà trường liên quan đến sự phân chia nhiệm vụ mỗi bậc học trong nền giáo dục phổ thông.
• Bậc Mẫu giáo có nhiệm vụ chuẩn bị con trẻ vào trường phổ thông.
Cách học ở bậc này là những trò chơi giúp các cháu hoàn thiện cơ bắp và hoàn thiện cơ quan phát âm (hết nói ngọng) và hoàn thiện các giác quan (nhất là tai nghe và mắt nhìn).
• Bậc Tiểu học mở đầu giai đoạn học theo phương thức nhà trường có nhiệm vụ tổ chức cho trẻ em chiếm lĩnh phương pháp học.
Cách học ở bậc học này là biết phân biệt các phương pháp khác nhau để chiếm lĩnh các đối tượng khác nhau: khoa học, nghệ thuật, lối sống.
• Bậc Trung học có nhiệm vụ hoặc là (a) chuẩn bị cho thanh thiếu niên vào loại trường để nghiên cứu hoặc là (b) chuẩn bị cho thanh thiếu niên vào trường học nghề.
Cách học tương ứng sẽ là (a) giúp các em tự trau giồi kiến thức và có phương pháp học theo lối tập nghiên cứu, và (b) giúp các em tự trau giồi kiến thức và có phương pháp học theo lối hành dụng.
• Bậc Đại học có nhiệm vụ tổ chức cho sinh viên tập độc lập nghiên cứu.
• Bậc Sau đại học có nhiệm vụ tổ chức cho nghiên cứu sinh hoàn toàn độc lập nghiên cứu.
Chúng ta sẽ đi sâu vào chỉ một bậc Tiểu học đã.
5. Tiểu học – bậc phương pháp
Phương pháp học là nội dung của nhà trường ở bậc tiểu học. Sứ mệnh của bậc tiểu học là tổ chức việc học cho trẻ em sao cho các em BIẾT CÁCH HỌC.
Giai đoạn học Mẫu giáo (ở gia đình hoặc ở trường) là “bậc học” không bắt buộc. Các nước phát triển phương Tây gọi đó là giai đoạn “tiền học đường” (pre-school). Nó hàm ý chỉ khi đi học lớp Một thì từ đó mới bắt đầu giai đoạn “học đường”, giai đoạn nhà trường “bắt buộc”.
Từ lớp Một, trẻ em được học để tổ chức tư duy của mình sao cho từ giai đoạn tiền khoa học (tư duy cụ thể) chuyển hẳn sang được giai đoạn khoa học (tư duy trừu tượng).
Tư duy không hình thành nhờ những lời khuyên nhủ. Tư duy hình thành nhờ tiến hành công việc tự học, tự giáo dục.
Nói đến tự học không có nghĩa là “thả nổi” cho trẻ em tự vẫy vùng như việc tự học của người lớn. Nội dung “tự học” ở bậc tiểu học là cách thức nhà trường từ bỏ lối giảng giải để thay vào đó là tổ chức các hoạt động họccủa trẻ em.
Thay cho lời giảng giải, các hoạt động học trong mỗi tiết học diễn ra bằng các việc làm sau:
- Việc 1: giao nhiệm vụ. Giáo viên giao nhiệm vụ của tiết học cho học sinh thực hiện. Kết thúc công việc này là một sản phẩm do chính tay học sinh làm ra (tìm ra).
- Việc 2: làm mẫu thao tác học. Giáo viên làm mẫu cái thao tác học để nhờ đó mà làm xong nhiệm vụ (tạo ra sản phẩm) – thí dụ làm mẫu thao tác phát âm, thao tác phân tích …
Tiếp đó, học sinh tiến hành các thao tác học, được chia ra như sau:
• Thao tác với vật thật để học cách phân tích mẫu[15].
o Thao tác vật chất, cụ thể, bằng cơ bắp với các vật liệu – có kèm theo lời nói mô tả thao tác mình đang tiến hành.
o Thao tác thầm, nhắm mắt nghĩ trong đầu những việc đã làm, suy nghĩ về kết quả đã tìm ra[16].
- Việc 3: thu hoạch. Học sinh tự trình bày những điều đã tìm ra. Việc ghi nhận các kết quả (sản phẩm) không nhất thiết phải bằng lời, hoặc bằng cách ghi bài, càng không bao giờ bằng cách chép bài theo lời tóm tắt của giáo viên.
Học sinh sẽ tự ghi lại sản phẩm của mình bằng vài cách, thí dụ:
• Tự “ghi” bằng đóng kịch, kịch câm, kịch nói.
• Tự “ghi” bằng vẽ, vẽ tranh, làm tranh truyện.
• Tự ghi bằng sưu tầm, điều tra.
o Tự ghi bằng tổ chức tranh luận, thậm chí tự tổ chức diễn đàn Hội thảo khoa học (từ lớp 5).
o Tự “ghi” nhận thức bằng lời nói và sau đó là bài tự viết[17].
6. Đối tượng [18]
Muốn tổ chức việc học của học sinh tiểu học thành bậc học phương pháp học do các em tự thực hiện nhữngviệc làm và thao tác sao cho hoàn thành nhiệm vụ tiết học được giao, nhà sư phạm nhất thiết phải phân biệt được đối tượng học sinh phải chiếm lĩnh.
Trong cuộc sống, các đối tượng tồn tại ở dạng những đồ vật dửng dưng, khách quan, dưới dạng những vật tự nó. Khi con người có nhu cầu, có động cơ đến với các đồ vật nào đó, cái đồ vật (chose, thing) ấy trở thành cáiđối tượng (objet, object) để tìm hiểu – sau đó, trong trường hợp may mắn, để chiếm lĩnh.
Đồ vật thì nhiều, càng ngày càng nhiều trước con mắt của ta, người học sinh không tài nào chiếm lĩnh được tất cả các đồ vật theo lối năng nhặt chặt bị. Khi thu gom lại thành những đối tượng, con người sẽ chiếm lĩnh chúng theo các phạm trù không thể lẫn lộn.
Ba phạm trù đối tượng để học sinh chiếm lĩnh là Khoa học, Nghệ thuật, Đạo đức.
Đến đây, lại có thể định nghĩa thêm như sau: phương pháp để học sinh tiểu học chiếm lĩnh được gửi trongcách làm ra từng loại sản phẩm. Cách làm ra ba loại sản phẩm khoa học, nghệ thuật và đạo đức khác nhau như sau:
- Sản phẩm khoa học được làm ra gửi trong các khái niệm khoa học mang tính chất chính xác, chặt chẽ, lô gich.
- Sản phẩm nghệ thuật được làm ra gửi trong các ẩn dụ mà trình độ tường minh cao nhất có thể là một ngữ pháp nghệ thuật tạo thành bởi tưởng tượng, liên tưởng và bố cục.
- Sản phẩm đạo đức được làm ra gửi trong mối quan hệ được xây dựng theo hướng tốt đẹp giữa người với người.
Và để sư phạm hóa được tiến trình chiếm lĩnh ba đối tượng khác nhau ở bậc tiểu học, lại có thể thu gọn hơn nữa theo định hướng việc làm – làm mà học, làm thì học – như sau:
- Phương pháp làm ra sản phẩm khoa học có thể thực hiện theo cách làm lại những việc làm và thao tác nhà khoa học đã thực hiện khi họ chiếm lĩnh một đối tượng nhất định.
- Phương pháp làm ra sản phẩm nghệ thuật có thể thực hiện theo cách làm lại những việc làm và thao tác người nghệ sĩ đã thực hiện khi họ tạo ra một tác phẩm nghệ thuật.
- Phương pháp làm ra sản phẩm đạo đức có thể thực hiện theo cách làm lại những việc làm và thao tác nhà hoạt động xã hội đã thực hiện khi họ tổ chức cuộc sống chung cho một cộng đồng nhất định.
7. Tiếng Việt
Theo những điều phát biểu cho tới lúc này, phương pháp “học” tiếng Việt ở bậc tiểu học được gửi trong cách thức nhà ngôn ngữ học khám phá các vật liệu tiếng Việt để quy tập các vật liệu kia vào từng nhóm khái niệm ngôn ngữ học.
Vào thời điểm thế kỷ 17, tiếng Việt đã được ghi lại bằng chữ Nôm. Các nhà ngôn ngữ học phương Tây đã không dùng chữ Nôm[19], mà dùng những ký hiệu a b c để tạo ra một hình thức ghi tiếng Việt khác, hiện đang được dùng chính thức.
Trẻ em làm lại quá trình đó như thế nào?
Ở lớp Một, khi trẻ em đến trường bắt đầu học tiếng Việt, các em đã nói năng khá thành thạo ngôn ngữ mẹ đẻ đó. Nhiệm vụ lúc này là tìm cách ghi lại tiếng nói đó. Nhắc lại điều đã phát biểu ở bên trên, các em sẽ “quy tập” vật liệu tiếng Việt vào nhóm khái niệm ngữ âm học.
Làm công việc này, chính là các em làm lại công việc các nhà ngôn ngữ học khi bắt đầu đến với tiếng Việt hồi thế kỷ thứ 17: tìm cách ghi lại cái ngôn ngữ ấy.
Các nhà ngôn ngữ học phương Tây làm công việc ghi tiếng Việt trong nhiều chục năm mới xong (1620 đến 1626 và 1631 đến 1648), và trong quá trình làm việc, họ gặp không biết bao nhiêu sai lầm[20].
Vào những năm 1960 thế kỷ trước, nhóm nhà ngôn ngữ học ở Đại học tổng hợp Hà Nội đã tổng kết ngữ âm học tiếng Việt.
Vào những năm 1980 thế kỷ trước, nhà tâm lý học Hồ Ngọc Đại ở Trường thực nghiệm giáo dục phổ thông Giảng Võ, Hà Nội đã biến tổng kết ngữ âm học tiếng Việt trên thành quy trình chặt chẽ giúp học sinh làm lạimột cách chắc chắn, dễ dàng[21].
Nhà sư phạm hiện đại giúp trẻ em tránh được những sai phạm của người đi trước, và tổ chức toàn bộ công việc ghi âm tiếng Việt đó của trẻ em chỉ diễn rá trong vòng 5-6 tháng.
Kể từ lớp Hai trở đi, học sinh “làm lại” những việc làm và thao tác ngôn ngữ học với vật liệu tiếng Việt như thế nào?
Ta biết rằng, sau khi các nhà ngôn ngữ học phương Tây đã tạo ra cách ghi tiếng Việt bằng bộ chữ cái a b c, sau khi đã có công cụ ghi chép đó, họ tiến hành sưu tầm từ ngữ và cách diễn đạt tiếng Việt.
Trong hơn hai trăm năm, các nhà ngôn ngữ học cả phương Tây lẫn người Việt đã làm ra gần một chục bộ từ điển và vô số sách sưu tầm tác phẩm truyền khẩu tiếng Việt… tiếp đến việc ra đời vô số nhà xuất bản và báo chí … [22].
Cách học của học sinh lớp Hai trong một năm học sẽ “làm lại” thế nào công việc kéo dài hơn hai thế kỷ đó? Con đường “làm lại” sẽ thu gọn trong những bước tổng quát như sau: Tín hiệu học (các loại tín hiệu, rồi đến tín hiệu ngôn ngữ, dừng lại ở đơn vị từ) – Từ thuần Việt (có từ xa xưa liên quan đến ĂN, LÀM, Ở, GIA ĐÌNH, và ĐÁNH GIÁ) – Từ ghép thuần Việt (ghép hợp nghĩa, ghép phân nghĩa, từ láy) – Từ Hán Việt – Từ mượn của phương Tây.
Lên lớp Ba, học sinh khám phá phương diện cú pháp tiếng Việt về hai mặt cú pháp của Câu tiếng Việt và lô gich của Câu tiếng Việt.
Lên lớp Bốn, các em khám phá văn bản tiếng Việt để có thể tự tạo ra một văn bản.
Lên lớp Năm, các em học vận dụng toàn bộ những điều đã chiếm lĩnh về ngôn ngữ học tiếng Việt vào các loại hình ngôn ngữ trong xã hội: ngôn ngữ khoa học, ngôn ngữ hành chính, và ngôn ngữ đời thường.
Năng lực ngôn ngữ của học sinh tiểu học, giả định học theo sách Tiếng Việt của nhóm Cánh Buồm, sẽ khó có thể chỉ là biết đọc biết viết hoặc đọc thông viết thạo mà đó sẽ là những em nhỏ tuy tuổi 11, 12, song tư duy ngôn ngữ học thì sẽ cao hơn rất nhiều những đầu óc đơn giản chủ nghĩa của người lớn[23].
Đó là nhờ cách học bằng việc làm chứ không học bằng nghe giảng về cái hay cái đẹp của tiếng mẹ đẻ.
8. Nghệ thuật
Đối với môn Văn, mà nhóm Cánh Buồm xác định như môn học giáo dục hành vi và tư duy nghệ thuật, thì cách học bằng việc làm hoàn toàn có ưu thế, hơn hẳn cách học bằng nghe bình giảng và cảm thụ về cái đẹp của văn chương.
Nhóm Cánh Buồm xác định ngay từ định nghĩa nghệ thuật là cách làm ra cái đẹp ẩn dụ bằng những vật liệu khác nhau: vật liệu âm thanh trong âm nhạc, vật liệu cơ thể trong nhảy múa, vật liệu màu sắc và hình khối trong hội họa (và điêu khắc, kiến trúc), và vật liệu bằng lời trong loại hình trữ tình (thơ), tự sự (văn xuôi) và kịch[24].
Xác định người học chỉ có thể có năng lực và tư duy nghệ thuật một khi bắt tay làm ra sản phẩm nghệ thuậtnên nhóm Cánh Buồm định hướng học “Văn” theo lối làm lại các hành động, thao tác, và tư duy mà người nghệ sĩ đã thực hiện.
Chắt lọc ra từ các hành động và thao tác ấy một bộ khung chỉ đạo chúng, ta được một ngữ pháp nghệ thuật.Ngữ pháp này gồm các yếu tố tưởng tượng, liên tưởng và bố cục.
Ngữ pháp đó hoạt động xung quanh một yếu tố tinh thần ở người nghệ sĩ chân chính: một lòng đồng cảm với thân phận con người. Lòng đồng cảm này ở người nghệ sĩ khiến người đó có được cảm hứng sáng tạo nghệ thuật chân chính.
Xin đừng nghĩ những nội dung như vừa kể ra là cao siêu. Đó là yêu cầu tối thiểu để một học sinh tiểu họcchiếm lĩnh được đối tượng nghệ thuật.
Theo hướng đi này, học sinh lớp Một được giáo dục lòng đồng cảm thông qua những trò chơi đóng vai.
Học sinh lớp Hai được học thao tác tưởng tượng thông qua việc học cách tạo ra các hình tượng coi như là căn cốt của bất kỳ tác phẩm nghệ thuật nào.
Học sinh lớp Ba được học thao tác liên tưởng thông qua việc học cách thay đổi các hình tượng, thay đổi ngôn từ, coi như là “kỹ thuật” tạo ra một ý cho bất kỳ hình tượng nào của tác phẩm nghệ thuật.
Học sinh lớp Bốn được học thao tác bố cục thông qua việc học luật sáng tác cơ bản với những thể loại văn học cơ bản – thể thơ Đường luật, tác phẩm kể chuyện bằng văn xuôi, tác phẩm kịch, nghệ thuật sắp đặt – coi như là những “quy định kỹ thuật” giúp tác giả tạo ra một chủ đề mang một tư tưởng gửi trong bất kỳ tác phẩm nghệ thuật nào.
Học sinh lớp Năm được học dùng bộ ngữ pháp nghệ thuật đã học vào việc tạo ra các loại hình nghệ thuật cơ bản: âm nhạc, nhảy múa, hội họa, trữ tình (thơ), tự sự (văn xuôi) và kịch.
Mục đích việc học này không nhằm đào tạo các nhà văn và nghệ sĩ. Đây hoàn toàn là phương thức làm mà học – làm thì học qua đó trẻ em sẽ vào đời không “nói leo” về nghệ thuật, mà là người có một tâm hồn thực sự phong phú nhờ năng lực thực thụ biết tạo ra những ẩn dụ nghệ thuật từ ngay trong quá trình học.
9. Đạo đức
Có nhiều lý do để môn học giảng giải áp đặt một chiều xưa nay có tên là Luân lý, hoặc Đạo đức, hoặc Công dân giáo dục khó có đất tồn tại trong một nền giáo dục hiện đại hóa.
Trước hết, đó là vì sự phát triển của mọi xã hội đương thời khiến con người bị buộc phải đứng trước ít nhất ba chọn lựa với ít nhất ba trào lưu đạo đức.
Một trào lưu đại diện cho “sức mạnh của quá khứ”. Một trào lưu đại diện cho “sức mạnh cưỡng lại quá khứ”. Một trào lưu đang đi tìm “bến đỗ đạo đức” cho cá nhân mình và cho cả thế hệ mình.
Trong nhà trường, thanh thiếu niên bộc lộ phản ứng khác nhau, trước hết là vì sách giáo khoa và chương trình giáo dục đạo đức không đáp ứng nhu cầu sống và tâm lý của các em.
Ta buộc phải trở lại xem xét những nghiên cứu (như của Jean Piaget chẳng hạn) để cho người lớn có được một cách nhìn hiện đại vào quan điểm của trẻ em đối với vấn đề đạo đức[25].
Hệ thống giáo dục cải cách theo hướng hiện đại hóa của Cánh Buồm tiếp nối những thành tựu của hệ thống Công nghệ Giáo dục bằng việc thay đổi môn học cũ thành môn Giáo dục Lối sống.
Tuy nhiên, môn Lối sống của Cánh Buồm cũng đã thay toàn bộ nội dung Giáo dục Lối sống của Công nghệ Giáo dục bằng định hướng mới: tổ chức cho học sinh có tinh thần và khả năng tạo ra một cuộc sống mới của mình và của cộng đồng theo nguyên tắc ĐỒNG THUẬN.
Lớp Một: đồng thuận (giữa giáo viên, phụ huynh và trẻ em) để tổ chức cuộc sống TỰ LẬP của con em.
Lớp Hai: đồng thuận để tổ chức cuộc sống mới trong CỘNG ĐỒNG (khái niệm cộng đồng ở dạng khái quát nhất).
Lớp Ba: đồng thuận để tổ chức cuộc sống mới trong cộng đồng GIA ĐÌNH.
Lớp Bốn: đồng thuận để tổ chức cuộc sống mới trong cộng đồng TỔ QUỐC.
Lớp Năm: đồng thuận để tổ chức cuộc sống mới trong cộng đồng NHÂN LOẠI.
10. Ngoại ngữ
Trong việc dạy tiếng nước ngoài, từ lớp mẫu giáo đến các trường phổ thông, trường học nghề, nhất là các trung tâm ngoại ngữ ngoài nhà trường, đâu đâu cũng nói đến giao tiếp. Giáo viên rất khổ với cái “bóng ma” giao tiếp này!
Là ma, vì không ai định hình cho rõ cách làm như thế nào để đạt được năng lực giao tiếp. Càng khó khi “định hướng” lại như sau: lấy giao tiếp nuôi giao tiếp.[26]
Đường lối gọi là giao tiếp sinh ra từ đầu năm 1944. Người Mỹ tính toán năm 1945 sẽ là năm quyết định Thế chiến II. Mỹ đã nhìn xa chuẩn bị tiếp quản cả cái thế giới rộng lớn này – gần nửa triệu sĩ quan được cấp tốc đào tạo để đủ sức “giao tiếp” bằng ngoại ngữ.
Đường lối “giao tiếp” cho phép diễn đạt sai cấu trúc miễn là đôi bên hiểu nhau. Nó nhấn mạnh vào ngôn ngữ nói. Nó nhấn mạnh vào ý nghĩa thực dụng. Đường lối đó càng được củng cố khi hết Thế chiến II, vào những năm 1950 thế kỷ trước, có những làn sóng di dân, chuyển vùng để kiếm sống[27].
Đường lối giao tiếp này có thể không sai với người học lớn tuổi cần học nhanh, dùng ngay. Nhưng áp dụng cho đông đảo trẻ em đủ thời giờ học trong 10 năm, 12 năm, liệu nó có chắc đúng[28]?
Phải có một hướng đi và cách làm khác để thay đổi cách dạy tiếng nước ngoài.
Trước hết, cần xác định trẻ em 6 tuổi đến trường phổ thông học ngoại ngữ nhằm mục đích gì?
Đó là để học lấy một cách thức và có được một công cụ hòa nhập vào với một nền văn hóa xa lạ.Nhu cầu hòa nhập này giúp mở mang dân trí hiện đại hóa đất nước.
Xác định mục đích như thế, sẽ thấy cách học cấp tốc (intensive) là hoàn toàn không thích hợp với người học nhỏ tuổi. Thâm nhập, hòa nhập đàng hoàng với một nền văn hóa khác là điều hoàn toàn không giống vượt biên kiếm sống.
Vậy nên, đường lối học ngoại ngữ phải thay đổi, đường lối ấy nên là sự kết hợp chặt chẽ giữa Cấu trúc và Chức năng. Chức năng (giao tiếp) chỉ có thể thực hiện được một cách tự nhiên, không vội vã, nhờ am tường cái ngôn ngữ nước ngoài được học. Phát âm sai, vốn từ không đủ và dùng không chuẩn, cú pháp vụng dại, và không hiểu tính cách dân tộc của “người khác”, thì không giao tiếp được!
Sách học tiếng Anh của nhóm Cấnh Buồm được soạn theo định hướng sau:
Bậc tiểu học: học để chiếm lĩnh tiếng Anh cơ bản.
Lớp Một: Âm – Từ – Trò chơi ngôn ngữ. Nội dung đó được hiểu như sau: ngay từ lớp 1 phải học phát âm tiếng Anh cho đúng – các âm đó gửi trong các từ tiếng Anh nên đây là cơ hội học khoảng 200-250 từ tiếng Anh – và để giúp cho việc học không nhàm chán, sẽ có nhiều trò chơi ngôn ngữ, trò chơi giao tiếp.
Lớp Hai: Từ loại tiếng Anh – Trò chơi ngôn ngữ. Nội dung đó được hiểu như sau: củng cố năng lực phát âm học từ lớp Một, tăng cường số vốn từ lên khoảng 400 từ tiếng Anh – và có thêm nhiều trò chơi ngôn ngữ, trò chơi giao tiếp.
Lớp Ba: Câu tiếng Anh – Cách tạo ra các kiểu câu tiếng Anh. Trò chơi ngôn ngữ. Trò chơi giao tiếp.
Lớp Bốn: Bài tiếng Anh – Cách tạo ra đoạn văn và bài văn tiếng Anh.
Lớp Năm: Văn hóa Anh – Sơ lược về truyền thống Anh. Thói quen giao tiếp và ứng xử của người Anh. Văn, thơ, họa, nhạc, kịch trong văn hóa Anh.
11. Sư phạm
Khi bộ sách cải cách theo chương trình năm 2000 ra đời, bộ sách đó được hỗ trợ bằng pháp lý, hiểu giản dị làcả nước chỉ dùng chung một chương trình và một bộ sách.
Bộ sách CT-2000 bắt đầu dùng phổ biến từ năm 2004, thì năm 2008 đã có lời kêu gọi “giảm tải”. Cho đến ngày mở đầu năm học mới 2011-2012, vẫn còn chỉ thị “giảm tải sâu” đối với CT-2000.
Cho đến hôm nay, khi đã sang năm học 2012-2013, trước sự bế tắc hoàn toàn của công việc “giảm tải sâu”, dư luận đã vào hùa với luồng ý kiến đòi một chương trình nhiều bộ sách.
Thực ra thì luồng ý kiến xác đáng hơn cả bây giờ là nhiều chương trình nhiều bộ sách. Bởi vì cả chương trình và sách là sự thể hiện của một tư duy giáo dục. Một chương trình bất cập thì dù có thay đổi sách giáo khoa đến bao nhiêu cũng bó tay mà thôi.
Bộ sách giáo khoa bậc tiểu học của nhóm Cánh Buồm là giải pháp nghiệp vụ của một tư tưởng sư phạm khác. Đây là một chương trình khác thể hiện thành một bộ sách giáo khoa khác. Bộ sách giáo khoa Cánh Buồm không tự giao nhiệm vụ thực hiện CT-2000 hiện hành.
Bộ sách giáo khoa tiểu học Cánh Buồm mong muốn được triển khai vào thực tiễn. Với kỳ vọng “làm một điều tích cực để chống tiêu cực”, nhóm Cánh Buồm cũng cho rằng “làm ra một sản phẩm cụ thể thay thế cái cần thay thế là cách thức phản biện xã hội có trách nhiệm”.
Song những người biên soạn hoàn toàn không kỳ vọng nhận được một sự thừa nhận về mặt hành chính, vì đây là một bộ sách mang một trình độ tư duy giáo dục khác hẳn.
Vì thế, bộ sách này hướng về cá nhân những người sử dụng: các nhà giáo, các vị phụ huynh, những nhà nghiên cứu khoa học giáo dục.
Việc công bố trọn gói bộ sách này là có chủ đích giúp những người dùng sách có cái nhìn theo chiều dọc – đủ sức hình dung con em học xong bộ sách này sẽ trở thành những cá thể có trình độ tư duy và năng lực thực tiễn ra sao.
Người dùng sách cũng hình dung con em sẽ dùng các thao tác tự học để tự chiếm lĩnh phương pháp học như thế nào qua bộ sách này. Các thao tác đó được hướng dẫn bằng lời ngay trong sách và khi gặp những khái niệm quan trọng thì còn có thêm hình minh họa cách học.
Nhiều đoạn trong các sách giáo khoa tiểu học Cánh Buồm còn khéo léo trình bày cả những kiến thức cơ bản để người dạy có thêm điều kiện dắt dẫn quá trình con em chiếm lĩnh đối tượng.
Nói cách khác, bộ sách giáo khoa tiểu học Cánh Buồm được soạn tạm thời để dùng chung cho cả người học và người hướng dẫn.
Tập thể tác giả hình dung sẽ có bộ sách giáo khoa sư phạm chỉ rõ cái lý thuyết đã tạo ra bộ sách này, để người dạy con em hiểu rõ về lý luận vì sao cần phải thực hiện cung cách dạy học không giống trước đây.
Bộ sách giáo khoa Tiểu học Cánh Buồm cũng có thể dùng cho các học sinh lớp trên, vì theo chương trình và sách dành cho các em học chưa bao giờ có những nội dung và cách học như ta bắt gặp trong bộ sách mới này.
12. Biết ơn
Nhóm Cánh Buồm năm nay ba tuổi. Trong ba năm qua, các thành viên của Nhóm vừa làm vừa học để bổ khuyết những điều chưa bao giờ được học ở trường sư phạm, lại vừa kiếm sống vừa làm công việc biên soạn sách thiện nguyện để thỏa mãn lý tưởng đóng góp cho cuộc cải cách giáo dục.
Một vài ân nhân lớn cần ngỏ lời cám ơn nhân dịp này.
Trung tâm L’Espace của Pháp tại Hà Nội đã giúp đỡ công việc của nhóm Cánh Buồm hơn mức chu đáo. Lần giới thiệu sách tiểu học này, L’Espace còn cho mượn sảnh để triển lãm hình minh họa đen trắng các sách giáo khoa mới. L’Espace đã tạo cho Cánh Buồm một diễn đàn với sự am hiểu chỉ bắt gặp ở những nhà văn hóa[29].
Trường phổ thông Nguyễn Văn Huyên ngay từ năm 2010 đã mời nhóm Cánh Buồm tới dạy sách mới vào các buổi chiều[30]. Trường còn cho nhóm Cánh Buồm mượn một phòng học lớn để làm trụ sở của nhóm. Tại Hội thảo Tự học – Tự giáo dục năm 2011, trường còn cho học sinh tham gia đóng kịch với nhóm Cánh Buồm, đêm diễn cũng ở hội trường L’Espace, đơn sơ nhưng gây được thiện cảm.
Sách giáo khoa tiểu học do Nhóm Cánh Buồm bỏ tiền in với sự bảo trợ về tinh thần của Nhà xuất bản Tri thức, Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh. Nhân dịp này, xin ngỏ lời chân thành cám ơn những nhà hảo tâm đã giúp cho việc in sách trong ba năm nay:
- Giáo sư Hoàng Tụy
- Thái Văn Cầu, kỹ sư không gian
- Nguyễn Trần Bạt, doanh nhân (tặng hai lần)
- Giáng Vân, nhà thơ, nhà báo
- Nguyễn Viết Dũng, Thư ký đề án
- Lê Quốc Quân, luật sư
- Đoàn Minh Tuấn, nhà giáo về hưu
- Nhà văn Phạm Lưu Vũ
- Nguyễn Trần Diễm Linh, giáo viên
- Nguyễn Ngọc Điệp, giáo viên
- Hoàng Hưng, nhà thơ,
- Nguyễn Thị Mười, phu nhân nhà thơ Hoàng Hưng
- Trung tâm L’Espace
- Bác sĩ Nguyễn Kim Cương và bà Hoàng Minh Ngọc
- Gia đình Trung tướng Trần Độ
- Nhà báo Trung Dân
- Nguyễn An Kiều, doanh nhân
- Hai gia đình Đan Mạch và Na Uy ở Việt Nam (giấu tên)
- Ba thành viên nhóm Cánh Buồm
Với các nhà hảo tâm, nhóm Cánh Buồm biết ơn một, thì nhóm sẽ biết ơn gấp bội những ân nhân sẽ mua sách và dùng sách của Nhóm. Chắc chắn con em các vị sẽ thích học sách Cánh Buồm, chắc chắn quý vị sẽ thích mỗi ngày cùng “chơi” với con em bằng những bài luyện tập thú vị, khiến chúng tôi thấy rõ điều mong ước lý tưởng của mình: Giáo dục đem hạnh phúc đến từng gia đình[31] và[32].
Xin cám ơn.
________________________________________
CHÚ THÍCH
[1] Đây là cuộc Hội thảo lần thứ tư. Các cuộc hội thảo trước đây:
- Hội thảo Hiểu trẻ em – Dạy trẻ em (tháng 11 năm 2009) như một tuyên ngôn của nhóm Cánh Buồm vềđịnh hướng tâm lý học giáo dục chỉ đạo quá trình soạn lại bộ sách giáo khoa tiểu học mới;
- Hội thảo Cháo Lớp Một (tháng 11 năm 2010) giới thiệu 5 cuốn sách lớp Một như một thăm dò và đánh động dư luận xã hội;
- Hội thảo Tự học – Tự giáo dục (tháng 10 năm 2011) như một thăm dò nữa cho định hướng hiện đại hóanền Giáo dục nước nhà.
Ngoài ra, còn có Hội thảo Một cánh buồm – một nền giáo dục hiện đại hóa (tháng 4 năm 2012) tại viện IDECAF thành phố Hồ Chí Minh nhằm tiếp tục thăm dò định hướng công cuộc Cải cách Giáo dục mà nhóm Cánh Buồm đeo đuổi.
[2] Nhóm Cánh Buồm ra đời cuối năm 2009 trước cuộc Hội thảo Hiểu trẻ em – Dạy trẻ em. Các thành viên nhóm Cánh Buồm không cố định. Có thể tham khảo báo Tia sáng số đầu tháng 8-2012 (từ trang 24-35) và vào trang mạng hiendai.edu.vn để tìm hiểu về nhóm này.
Một vài chi tiết đáng chú ý như sau. Trước năm 2009, người có sáng kiến lập ra nhóm biên soạn này đã thử nhiều cách để tổ chức biên soạn lại sách giáo khoa tiểu học nhưng không thành công. Một cơ may vào mùa hè năm 2009, giáo sư Hồ Ngọc Đại nhờ nhà giáo Phạm Toàn huấn luyện 20 “ứng viên” về Viện Công nghệ Giáo dục để triển khai sách tiếng Việt lớp 1 lên miền núi. Sau cuộc huấn luyện 2 tuần, kế hoạch tuyển dụng không thành. Ai về nhà nấy, trừ bốn người ở lại thành lập hạt nhân ban đầu của nhóm Cánh Buồm. Trong số bốn người đó, nay còn lại ba người: Nguyễn Thị Thanh Hải, Đinh Phương Thảo, Vũ Thị Như Quỳnh. Sau đó, có lúc số thành viên của nhóm lên gần 20. Con số dao động theo lượt người đến học việc, thử việc, và tiếp tục trụ lại hoặc ra đi.
[3] Xin tham khảo Một nền giáo dục Việt Nam hiện đại, Tri thức xuất bản, Hà Nội, 2012. Nội dung Một nền giáo dục Việt Nam hiện đại đã được trình bày tại Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, tháng 3 năm 2010.
[4] Hồ Như Hiển, “Thay đổi giáo dục hay là chết?” Theo Blog Hồ Như Hiển,http://blog.yahoo.com/_IBDF37GINNJ5HGTPFWEKGYY544/articles/400548
[5] Xin coi trên trang mạng của nhóm Cánh Buồm hiendai.edu.vn “Tạo ra một cái mẫu khả thi – thân phận của công việc nghiên cứu khoa học” Bài nói ngày 27 tháng 9 năm 2010 tại Trung tâm L’Espace. Kèm bản dịch tiếng Pháp và tiếng Anh. Nguồn: http://hiendai.edu.vn/danhmuc.php?cat=3&post=115
[6] Một ý lớn trong bài nói của giáo sư Hoàng Tụy tại Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, tháng 5 năm 2010, sau cuộc báo cáo đã dẫn ở chú thích (3).
[7] Xin coi: Bé 9 tuổi vẽ tranh người lớn giật mình
http://www.baomoi.com/Be-9-tuoi-ve-tranh-nguoi-lon-giat-minh/52/8279413.epi
và : Trò chuyện với bố nuôi cậu bé 9 tuổi không đến trường
http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/70684/tro-chuyen-voi-bo-nuoi-cau-be-9-tuoi-khong-den-truong.html
[8] Coi: Gaston Bachelard, La formation de l’esprit scientifique (Sự hình thành tư duy khoa học), xuất bản lần thứ tư, Nhà xuất bản triết học J. Vrin, Paris, 1960, trang7, trang 8.
G. Bachelard chia các trạng thái phát triển tư duy cá thể người thành:
a/ trạng thái cụ thể, qua đó tư duy con người vui đùa với những hình ảnh đầu tiên thu nhận được của hiện tượng, tụng ca sự đẹp đẽ và thống nhất của Thiên nhiên phong phú; tiếp đó là
b/ trạng thái cụ thể-trừu tượng, lúc này kinh nghiệm sẵn có đã có thêm những sơ đồ hình học và một triết học về sự giản đơn của sự vật. Tư duy con người cá thể vào lúc này vẫn còn đầy nghịch lí, nó vừa tin vào sự trừu tượng hóa mà nó đã nhận thức ra, và nó cũng vừa hoài nghi và muốn dựa vào trục giác có tính chất an toàn hơn; tiếp đó nữa là
c/ trạng thái trừu tượng qua đó tư duy tiến hành thu thập thông tin mà không cần dựa vào trực giác nữa.
[9] Nhiều tiếng nói đang cất lên tập trung ca ngợi nền giáo dục Phần Lan – cũng như trước đây từng ca ngợi Giáo dục Cộng hòa dân chr Đức. Mấy thí dụ:
- Giải mã kỳ tích giáo dục Phần Lan – vietnamnet.vn
- Huyền thoại Giáo dục Phần Lan – reds.vn
- Phần Lan có nền giáo dục tốt nhất thế giới – http://www.baomoi.com
- Câu chuyện về nền giáo dục tuyệt vời ở Phần Lan – giadinh.net.vn
- Nền giáo dục tại Phần Lan – kenhtuyensinh.vn
- Học gì ở nền giáo dục Phần Lan - tuoitre.vn
- Bảy yếu tố giúp Giáo dục Phần Lan thành công – bantingiaoduc.hoasen.edu.vn.
- Phần Lan – Nền Giáo Dục Bậc Nhất Thế giới. – osc.edu.vn-
[10] Blog Hai Lúa giới thiệu khá kỹ về nền giáo dục Việt Nam cộng hòa, tập trung vào triết lý giáo dục và cách thực thi triết lý đó.
[11] Gần như là mỗi trường tư thục và mỗi tổ chức kinh doanh đều có khẩu hiệu của mình làm thành bộ “tam bình” (triptych), kiểu như “Dân chủ, Khoa học, Khai sáng”, hoặc “Tiên tiến, Dân tộc, Khai minh”, hoặc “Hội nhập, Tiên tiến, Khai phóng”, vv…
[12] Văn hóa hiện đại biểu hiện ở lối sống mới: kỷ luật lao động theo bản thiết kế, kỷ luật hợp tác như một lẽ sống để có sản phẩm hoàn chỉnh, kỷ luật bảo đảm chất lượng sản phẩm như một thói quen.
[13] Ta nên nghi ngờ những kế hoạch, những chỉ thị và những cam kết đến một thời hạn nhất định (năm 2020, năm 2030… chẳng hạn) nước Việt Nam sẽ thành một nước hiện đại! Một xã hội hiện đại hóa sẽ không diễn ra theo lối ăn xổi như vậy.
[14] Ta có quyền nghi ngờ những lời mời chào “trang thiết bị hiện đại” của nhiều trường học “hiện đại” do đó học sinh có thể rơi vào nguy cơ chỉ thụ động ngồi nhìn giáo viên biểu diễn “kỹ thuật hiện đại”, trái ngược với tiêu chuẩn “hiện đại” là làm, làm thì học, làm mà học (cách thức nhóm Cánh BUồm dịch khái niệm learning by doing).
[15] Thí dụ để tìm ra các nguyên âm, thì nguyên âm [a] là vật thật làm mẫu.
[16] Những giải pháp triển khai cụ thể trong thực tiễn dạy học các thao tác học, do Hồ Ngọc Đại tạo ra và ứng dụng có hiệu quả trong hệ thống trường thực nghiệm Công nghệ Giáo dục.
[17] Nhiều cách ghi bài để học sinh tự chọn theo cái “trí khôn” mạnh nhất của các em, được gợi ra từ công trình của nhà tâm lý học đương thời Mỹ Howard Gardner. Coi: Howard Gardner, Cơ cấu trí khôn – Lý thuyết trí khôn nhiều thành phần, Phạm Toàn dịch, Giáo dục, 1997, 1998, Tri thức tái bản có bổ sung 2012.
[18] Tác giả báo cáo hết sức biết ơn Giáo sư Tiến sĩ khoa học Hồ Ngọc Đại, nhà sáng lập ngạch Công nghệ Giáo dục ở Việt Nam về những ý tưởng trong mục Đối tượng này. Mấu chốt của khoa sư phạm hiện đại nằm trong việc phân biệt đối tượng chiếm lĩnh nhờ đó mà tổ chức được những việc làm và thao tác thích hợp cho học sinh thực hiện. Các thành viên nhóm Cánh Buồm nhờ nghiên cứu kỹ khái niệm đối tượng đã có thể trình ra trước xã hội bộ sách tiểu học. Một lần nữa, cám ơn giáo sư Hồ Ngọc Đại.
[19] May mắn cho dân tộc Việt Nam là chữ Nôm đã không trở thành chữ viết chính thức! Vì muốn nắm được chữ Nôm, người học phải biết chữ Nho và phải biết luật cấu tạo chữ Nôm về đại thể gồm một ký hiệu cả tiếng bằng chữ Nho ghi “nghĩa” và một ký hiệu cả tiếng cũng bằng chữ Nho ghi “âm”. Chính cái ký hiệu ghi âm này gây rắc rồi nhất, khiến cho chữ Nôm mang tiếng không hoàn toàn oan ức Nôm na (tức na ná) là cham ách qué.
[20] Theo tài liệu của linh mục Đỗ Quang Chính “Lịch sử chữ quốc ngữ” (Dũng Lạc, Sài Gòn, 1950), ban đầu các nhà ngữ âm học phương Tây còn cho rằng tiếng Việt là tiếng đa âm tiết. Do coi tiếng Việt là đa âm tiết, các vị đó cũng coi nhẹ các thanh của tiếng Việt cho tới khi gặp rắc rối với thanh [ (đòi ăn cá được ăn cà, ra lệnh chặt tre về làm rạp thì người nghe hiểu là chặt (đầu) trẻ (nhỏ) ] thì các vị mới vỡ nhẽ.
[21] Hồ Ngọc Đại đã tạo ra một quy trình học ngữ âm tiếng Việt lớp Một hết sức hào hoa với các bước chính như sau: (1) tách lời thành tiếng (2) tiếng giống nhau, tiếng khác nhau (3) tiếng tách làm hai phần (4) tiếng có vần là âm chính (5) tiếng có vần là âm đệm và âm chính (6) tiếng có vần là âm chính và âm cuối (7) tiếng có vần là âm đệm, âm chính và âm cuối … Sách tiếng Việt lớp Một của Hồ Ngọc Đại sau một vài năm bị “phân biệt đối xử”, đã trở lại với các tỉnh khó khăn (miền núi, dân tộc thiểu số), năm học 2012-2013 đã thực hiện ở 16 tỉnh với nhiều chục nghìn học sinh.
[22] Nổi bật là những công trình từ điển của học giả Tây phương như A. de Rhodes, của Taberd, … và của các học giả người Việt như Paulus Huỳnh Tịnh Của, của Petrus Trương Vĩnh Ký … Bên cạnh đó, những công trình nghiên cứu và sư tầm của Huỳnh Tịnh Của và Petrus Trương Vĩnh Ký về truyện nôm khuyết danh, về cách nói năng cư xử của người Việt Nam … đều có thể tính vào kho tàng từ vựng Việt.
Có lẽ cũng cần lưu ý rằng các công trình nghiên cứu từ điển sẽ còn nối tiếp đến tận thời Đào Duy Anh, Hoàng Phê sau này… Và bên cạnh đó là những công trình thực tiễn (các nhà xuất bản và các tòa báo do Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Vũ Đình Long, Vũ Đình Hòe … chủ trương đã buộc việc nghiên cứu cú pháp tiếng Việt phải được xúc tiến (với Phạm Duy Khiêm, Nguyễn Lân, và sau này với Nguyễn Tài Cẩn, Cao Xuân Hạo, Nguyễn Kim Thản, Hoàng Tuệ, … .
[23] Những người lớn tốt bụng và nhiều quyền lực luôn luôn có ý thức duy trì trẻ em ở trạng thái trẻ em như chính các vị người lớn đạo cao đức trọng đó.
[24] Xin nhấn mạnh yếu tố làm ra cái đẹp ẩn dụ khác với sự tán róc về nghệ thuật nơi phòng trà.
Xin vui lòng tham khảo: Quyết định 2493-GD-ĐT ngày 25-7-1995, và các tài liệu ban hành kèm và Quyết định 3049-GD-ĐT ngày 1-9-1995, liên quan đến mục tiêu, kế hoạch, chương trình Cao đẳng Sư phạm đào tạo giáo viên tiểu học và mục tiêu, kế hoạch, khung chương trình đào tạo giáo viên tiểu học lên trình độ Cao đẳng Sư phạm kèm theo một số bộ sách gốc đã được Hội đồng thẩm định sách của Bộ Giáo dục và Đào tạo giới thiệu làm sách dùng chung cho các trường Cao đẳng sư phạm toàn quốc, (trong đó có các nội dung giáo dục âm nhạc và hội họa – chúng tôi nhấn mạnh).
Các tài liệu sư phạm đó đề ra việc cho giáo sinh học “khái quát nghệ thuật âm nhạc thế giới”, “giới thiệu và nghe tác phẩm một số nhạc sĩ tiêu biểu như J. S. Bach, Mô-da, Bê-hô-ven, Su-be, Sô-panh, Tsai-cốp-xki”…, học các “khuynh hướng âm nhạc hiện đại (Jazz, Pop, Rock)”, và “nhạc phi điệu tính”! Các tài liệu này thiếu hẳn phần đào tạo giáo sinh tự tay làm ra âm nhạc để có tư duy âm nhạc đích thực. Phần chương trình Mỹ thuật dự kiến cho học Lịch sử Mỹ thuật Việt Nam và thế giới, “đi sâu vào giới thiệu danh hoạ và tác phẩm tiêu biểu của một số khuynh hướng nghệ thuật”, “phân tích tác phẩm hội hoạ và điêu khắc”, v.v…
[25] Piaget Jean, Khái niệm đạo đức ở trẻ em. Từ năm 2012, nhóm Cánh Buồm tiếp nhận sáng kiến của thành viên mới, nhà giáo, nhà thơ Hoàng Hưng, tổ chức dịch các sách tâm lý học cơ bản của Jean Piaget và của Howard Gardner. Các thành viên Cánh Buồm mới Dương Tường, Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Viết Dũng … cùng tham gia dịch. Sẽ ra mắt sớm: Sự hình thành trí khôn trẻ em, Trẻ em tái cấu trúc hiện thực như thế nào trong tâm lý mình, Khái niệm đạo đức ở trẻ em …
[26] “… giao tiếp không phải là phương pháp, cũng chẳng phải “đường lối”. Nó là cách tiếp cận trong việc giảng dạy ngoại ngữ.” [ … ] “giao tiếp là cách tiếp cận hợp lý nhất, được thừa nhận và áp dụng rộng rãi nhất khi dạy và học một ngoại ngữ.” “Gọi là cách tiếp cận bởi người ta xem giao tiếp vừa là mục tiêu vừa là biện pháp để đạt đến mục tiêu này. Còn không xem nó là phương pháp bởi có thể sử dụng nhiều thủ thuật khác nhau của các phương pháp trước đó, miễn sao đạt tới mục tiêu sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp.” (Báo Tuổi trẻcuối tuần, số ra ngày 25-9-2010).
[27] Người Mỹ nói rõ: “đi vào vùng Trung Phi nói hơn 500 thổ ngữ, bạn không thể bỏ ra quá một tuần chỉ ngồi học tiếng…” Còn làn sóng di dân đã thúc đẩy tiến trình học ngoại ngữ theo “cách tiếp cận giao tiếp” vì “người di dân không thể chờ lâu hơn ba tháng để có một việc làm”.
[28] Thêm một ý cần nói: sách tiếng Anh của nhóm Cánh Buồm không đả kích các chủ trương dạy tiếng nước ngoài khác. Ai muốn cho con em học “giao tiếp” nhanh và thực sự có điều kiện làm việc đó, xin cứ tùy nghi. Chỉ xin các nhà mô phạm hãy ngừng dùng những thống kê để kêu ca những yếu kém của giáo viên, coi giáo viên kém cỏi là trở lực cho công cuộc giao tiếp! Nhóm Cánh Buồm tuyên bố xin “bao thầu” tất cả giáo viên tiếng Anh như hiện có và cùng các giáo viên đó thay đổi tình trạng học tiếng Anh trong cuộc giáo dục cải cách theo hướng hiện đại hóa.
[29] Nhân dịp này, cần nói lời cám ơn tới đạo diễn Phạm Quốc Trọng đã vô tư, nhiệt tình, không một chút do dự tính toán, dù rất bận nhưng vẫn bỏ rất nhiều thời gian giúp các em học sinh Nguyễn Văn Huyên diễn vởChuyện Dế Mèn.
[30] Gồm các lớp tiểu học. Trong qua trình soạn sách, nhóm Cánh Buồm cũng được trường Nguyễn Văn Huyên cho phép dùng sách mới soạn của mình để thử nghiệm việc bồi bổ kiến thức nhằm “lấp lỗ hổng” cho học sinh lớp 6 và lớp 10.
[31] Chúng tôi có “bằng chứng” về niềm hạnh phúc mẹ dùng sách Cánh Buồm chơi với con bằng những bài luyện tập buổi tối qua trường hợp cô Đỗ Thị Minh Nguyệt, cán bộ làm việc tại Trung tâm L’Espace, Hà Nội.
[32] Xin coi trong trang hiendai.edu.vn bài viết sau “Giáo dục phải đưa hạnh phúc đến từng gia đình”,http://hiendai.edu.vn/danhmuc.php?cat=3&post=330
Thứ Tư, 3 tháng 4, 2013
Thực phẩm giúp vượt qua cơn say rượu hiệu quả
Trà Dawn808 giúp đào thải mọi độc tố của rượu ra khỏi cơ thể; Bảo vệ niêm mạc, Giúp chống ngộ độc rượu, Giảm các triệu chứng sau uống rượu như: đau đầu, khát nước, choáng váng, mất thăng bằng, nôn mửa...Bảo vệ gan; Thúc đẩy chức năng làm lợi tiểu; Bảo vệ dạ dày;…
Công dụng tuyệt vời của trà Dawn808 còn nằm ở chỗ nó là loại trà cung cấp năng lượng giúp bồi bổ cơ thể. Điều đó có nghĩa là, dẫu bạn không uống rượu. Thế nhưng cơ thể bạn vẫn mệt mỏi rã rời mỗi sáng thức dậy. Bạn chỉ cần sử dụng một lon tràDawn808, bạn sẽ tìm lại được cảm giác sảng khoái, tràn đầy năng lượng tức thì.
Với Dawn808, bạn hoàn toàn tự tin nói câu: “Tạm biệt say rượu”. Bạn sẽ được chào đón buổi sáng tươi đẹp với cơ thể khỏe khoắn và tinh thần sảng khoái. Chỉ những khoảnh khắc vui vẻ với ly rượu cùng đối tác, bạn bè trong buổi tối hôm trước còn lưu lại trong tâm trí bạn. Một ngày làm việc thực sự hiệu quả sẽ đến với bạn.
Các thành phần tạo nên Dawn808 được chiết xuất 100% tự nhiên, không có chất bảo quản và hoàn toàn không có tác dụng phụ. Thành phần của Dawn808 gồm các loại dược phẩm tự nhiên: cây dương tía, cây lương trà, bí đao, cam thảo, mật ong.
Ở nước ta, trà Dawn 808 đã được cấp số hiệu tiêu chuẩn: 3488/2012/YT-CNTC. Bạn có thể hoàn toàn yên tâm sử dụng loại trà hữu ích cho sức khỏe này vào mỗi ngày nha.
Trà Dawn808 có xuất xứ từ Hàn Quốc. Nó đã vươn tầm ra nhiều nước trên thế giới và được người tiêu dùng khắp nơi ưa chuộng.
Công dụng tuyệt vời của trà Dawn808 còn nằm ở chỗ nó là loại trà cung cấp năng lượng giúp bồi bổ cơ thể. Điều đó có nghĩa là, dẫu bạn không uống rượu. Thế nhưng cơ thể bạn vẫn mệt mỏi rã rời mỗi sáng thức dậy. Bạn chỉ cần sử dụng một lon tràDawn808, bạn sẽ tìm lại được cảm giác sảng khoái, tràn đầy năng lượng tức thì.
Với Dawn808, bạn hoàn toàn tự tin nói câu: “Tạm biệt say rượu”. Bạn sẽ được chào đón buổi sáng tươi đẹp với cơ thể khỏe khoắn và tinh thần sảng khoái. Chỉ những khoảnh khắc vui vẻ với ly rượu cùng đối tác, bạn bè trong buổi tối hôm trước còn lưu lại trong tâm trí bạn. Một ngày làm việc thực sự hiệu quả sẽ đến với bạn.
Các thành phần tạo nên Dawn808 được chiết xuất 100% tự nhiên, không có chất bảo quản và hoàn toàn không có tác dụng phụ. Thành phần của Dawn808 gồm các loại dược phẩm tự nhiên: cây dương tía, cây lương trà, bí đao, cam thảo, mật ong.
Ở nước ta, trà Dawn 808 đã được cấp số hiệu tiêu chuẩn: 3488/2012/YT-CNTC. Bạn có thể hoàn toàn yên tâm sử dụng loại trà hữu ích cho sức khỏe này vào mỗi ngày nha.
Trà Dawn808 có xuất xứ từ Hàn Quốc. Nó đã vươn tầm ra nhiều nước trên thế giới và được người tiêu dùng khắp nơi ưa chuộng.
Chủ Nhật, 24 tháng 3, 2013
Ngô Bảo Châu - Sợ hãi chính là căn bệnh
Trích từ quyển Alain nói về hạnh phúc, bản dịch của Cao Việt Dũng, Nguyễn Vũ Hưng và Hồ Thanh Vân.
——-
Tôi còn nhớ một tay pháo thủ biết xem chỉ tay. Anh ta từng làm nghề tiều phu và nhờ cuộc sống cô độc ấy mà biết xem tướng. Tôi đoán anh bắt chước một thầy tướng số nào đó và bắt đầu tập quan sát lòng bàn tay, đọc ý nghĩ ở đó, như chúng ta đọc trong ánh mắt và nếp nhăn trên mặt. Dưới ánh nến trong khu rừng Sồi Rạng (1), anh ta tìm lại được ngôi đền (2) trong tất cả sự uy nghi, nói những gì thường rất đúng về tính nết con người một cách có chừng mực, dự đoán tương lai gần và tương lai xa của từng người, những gì mà không ai cười được cả. Sau đó tôi đã có dịp nhận thấy rằng một trong những lời tiên đoán của anh đã trở thành sự thật, có thể tôi đã thêm thắt gì đó vào ký ức của mình chỉ vì tôi cảm thấy dễ chịu khi lời tiên đoán đó xảy ra. Trò chơi của trí tưởng tượng đã một lần nữa cảnh báo tôi, nhắc nhở tôi rằng mình phải thật thận trọng, bởi vì tôi chưa từng cho anh ta cũng như bất kỳ ai khác xem chỉ tay của mình. Toàn bộ sức mạnh của sự hoài nghi nằm ở chỗ ta không muốn hỏi nhà tiên tri, bởi vì khi ta đã hỏi, tức là ta đã phải tin một chút. Vậy nên sự cáo chung của những nhà tiên tri, dấu vết của cuộc cách mạng Ki-tô giáo, không hề là một sự kiện nhỏ.
Thalès, Bias, Démocrite (3) và những vị bô lão nổi danh khác của thời Cổ đại chắc chắn đều mắc bênh huyết áp vào lúc họ bắt đầu rụng tóc, nhưng họ không hề biết gì về chuyện ấy. Đó là một lợi thế không nhỏ. Những con người cô độc ở Thébaïde (4) lại còn có một lợi thế lớn hơn nữa, nhờ biết trông mong cái chết chứ không hề e sợ nó, vậy mà họ lại sống rất lâu. Nếu nghiên cứu sự lo lắng và nỗi sợ hãi một cách thật cặn kẽ cả về khía cạnh sinh lý học, ta sẽ thấy rằng lo lắng và sợ hãi là những căn bệnh làm cho các căn bệnh khác trầm trọng hơn, tiến triển nhanh hơn, thành thử ra người nào biết mình bị ốm mà lại biết được điều ấy bằng lời sấm của bác sĩ, anh ta sẽ bị ốm đến hai lần. Tôi thấy rất rõ rằng nỗi sợ khiến chúng ta chiến đấu chống lại bệnh tật bằng các chế độ ăn uống và các phương thuốc, nhưng chế độ ăn uống nào và phương thuốc nào có thể chữa cho chúng ta khỏi được nỗi sợ hãi?
Cơn chóng mặt có khi chúng ta đứng ở trên độ cao là một căn bệnh thật, nó bắt nguồn từ việc chúng ta hình dung ra cú rơi và những động tác tuyệt vọng của một người đang rơi. Cú ngã này hoàn toàn nằm trong tưởng tượng. Cơn quặn ruột của thí sinh cũng giống thế, nỗi sợ trả lời sai cũng có tác động mạnh mẽ như dầu thầu dầu (5). Hãy thử căn cứ vào đó mà đoán định những kết quả của một nỗi sợ liên tục. Nhưng để biết thận trọng đối với sự thận trọng thì còn cần nhận ra điều này nữa: cơn sợ hãi tự nhiên sẽ làm trầm trọng thêm nỗi đau. Ai sợ mất ngủ thì sẽ thao thức trằn trọc, và ai sợ đau dạ dày thì sẽ có vấn đề về tiêu hóa. Vậy nên cần bắt chước người khỏe chứ đừng có bắt chước người ốm. Môn thể dục này chưa được nghiên cứu một cách chi tiết, nhưng ta có thể cược rằng những cử chỉ lịch sự và thiện tâm đều là biểu hiện của sức khỏe, theo đúng cái định luật khẳng định rằng các dấu hiệu của sức khỏe không là gì khác ngoài chính những cử động phù hợp với sức khỏe. Bác sĩ tồi chính là người mà ta quý mến và làm cho họ quan tâm đến bệnh tật của ta. Ngược lại bác sĩ giỏi là người hỏi bạn: “Anh có khỏe không?” nhưng sau đó thì chẳng buồn để ý đến câu trả lời.
5 tháng ba 1922
(1) Khu rừng thuộc tỉnh Namur, bang Wallonie miền Nam Vương quốc Bỉ, vùng này chủ yếu nói tiếng Pháp.
(2) Theo Kinh Thánh (Corintho 1, 6:19 Thân xác của anh em là đền thờ của Thánh Thần), anh này cho rằng anh đã gặp Thiên Chúa và Người ban cho anh khả năng tiên tri.
(3) Các triết gia lớn của Hy Lạp thời tiền Socrate.
(4) Tên một vùng đất ở Ai Cập cổ đại, có thủ phủ là thành phố Thèbes. Đây là một vùng đất có sa mạc vây quanh nên được mệnh danh là “chốn biệt lập và hoang dã”.
(5) Dầu thầu dầu khi được dùng như một vị thuốc đông y thì nó có tác dụng nhuận tràng rất cao. Liều lượng cao (1-2 hạt) có thể gây tử vong.
Theo thichhoctoan.net
——-
Tôi còn nhớ một tay pháo thủ biết xem chỉ tay. Anh ta từng làm nghề tiều phu và nhờ cuộc sống cô độc ấy mà biết xem tướng. Tôi đoán anh bắt chước một thầy tướng số nào đó và bắt đầu tập quan sát lòng bàn tay, đọc ý nghĩ ở đó, như chúng ta đọc trong ánh mắt và nếp nhăn trên mặt. Dưới ánh nến trong khu rừng Sồi Rạng (1), anh ta tìm lại được ngôi đền (2) trong tất cả sự uy nghi, nói những gì thường rất đúng về tính nết con người một cách có chừng mực, dự đoán tương lai gần và tương lai xa của từng người, những gì mà không ai cười được cả. Sau đó tôi đã có dịp nhận thấy rằng một trong những lời tiên đoán của anh đã trở thành sự thật, có thể tôi đã thêm thắt gì đó vào ký ức của mình chỉ vì tôi cảm thấy dễ chịu khi lời tiên đoán đó xảy ra. Trò chơi của trí tưởng tượng đã một lần nữa cảnh báo tôi, nhắc nhở tôi rằng mình phải thật thận trọng, bởi vì tôi chưa từng cho anh ta cũng như bất kỳ ai khác xem chỉ tay của mình. Toàn bộ sức mạnh của sự hoài nghi nằm ở chỗ ta không muốn hỏi nhà tiên tri, bởi vì khi ta đã hỏi, tức là ta đã phải tin một chút. Vậy nên sự cáo chung của những nhà tiên tri, dấu vết của cuộc cách mạng Ki-tô giáo, không hề là một sự kiện nhỏ.
Thalès, Bias, Démocrite (3) và những vị bô lão nổi danh khác của thời Cổ đại chắc chắn đều mắc bênh huyết áp vào lúc họ bắt đầu rụng tóc, nhưng họ không hề biết gì về chuyện ấy. Đó là một lợi thế không nhỏ. Những con người cô độc ở Thébaïde (4) lại còn có một lợi thế lớn hơn nữa, nhờ biết trông mong cái chết chứ không hề e sợ nó, vậy mà họ lại sống rất lâu. Nếu nghiên cứu sự lo lắng và nỗi sợ hãi một cách thật cặn kẽ cả về khía cạnh sinh lý học, ta sẽ thấy rằng lo lắng và sợ hãi là những căn bệnh làm cho các căn bệnh khác trầm trọng hơn, tiến triển nhanh hơn, thành thử ra người nào biết mình bị ốm mà lại biết được điều ấy bằng lời sấm của bác sĩ, anh ta sẽ bị ốm đến hai lần. Tôi thấy rất rõ rằng nỗi sợ khiến chúng ta chiến đấu chống lại bệnh tật bằng các chế độ ăn uống và các phương thuốc, nhưng chế độ ăn uống nào và phương thuốc nào có thể chữa cho chúng ta khỏi được nỗi sợ hãi?
Cơn chóng mặt có khi chúng ta đứng ở trên độ cao là một căn bệnh thật, nó bắt nguồn từ việc chúng ta hình dung ra cú rơi và những động tác tuyệt vọng của một người đang rơi. Cú ngã này hoàn toàn nằm trong tưởng tượng. Cơn quặn ruột của thí sinh cũng giống thế, nỗi sợ trả lời sai cũng có tác động mạnh mẽ như dầu thầu dầu (5). Hãy thử căn cứ vào đó mà đoán định những kết quả của một nỗi sợ liên tục. Nhưng để biết thận trọng đối với sự thận trọng thì còn cần nhận ra điều này nữa: cơn sợ hãi tự nhiên sẽ làm trầm trọng thêm nỗi đau. Ai sợ mất ngủ thì sẽ thao thức trằn trọc, và ai sợ đau dạ dày thì sẽ có vấn đề về tiêu hóa. Vậy nên cần bắt chước người khỏe chứ đừng có bắt chước người ốm. Môn thể dục này chưa được nghiên cứu một cách chi tiết, nhưng ta có thể cược rằng những cử chỉ lịch sự và thiện tâm đều là biểu hiện của sức khỏe, theo đúng cái định luật khẳng định rằng các dấu hiệu của sức khỏe không là gì khác ngoài chính những cử động phù hợp với sức khỏe. Bác sĩ tồi chính là người mà ta quý mến và làm cho họ quan tâm đến bệnh tật của ta. Ngược lại bác sĩ giỏi là người hỏi bạn: “Anh có khỏe không?” nhưng sau đó thì chẳng buồn để ý đến câu trả lời.
5 tháng ba 1922
(1) Khu rừng thuộc tỉnh Namur, bang Wallonie miền Nam Vương quốc Bỉ, vùng này chủ yếu nói tiếng Pháp.
(2) Theo Kinh Thánh (Corintho 1, 6:19 Thân xác của anh em là đền thờ của Thánh Thần), anh này cho rằng anh đã gặp Thiên Chúa và Người ban cho anh khả năng tiên tri.
(3) Các triết gia lớn của Hy Lạp thời tiền Socrate.
(4) Tên một vùng đất ở Ai Cập cổ đại, có thủ phủ là thành phố Thèbes. Đây là một vùng đất có sa mạc vây quanh nên được mệnh danh là “chốn biệt lập và hoang dã”.
(5) Dầu thầu dầu khi được dùng như một vị thuốc đông y thì nó có tác dụng nhuận tràng rất cao. Liều lượng cao (1-2 hạt) có thể gây tử vong.
Theo thichhoctoan.net
Thứ Bảy, 16 tháng 3, 2013
Ngô Bảo Châu - Học như thế nào?
Tôi rất hay được các em học sinh, sinh viên và các bậc phụ huynh hỏi về “bí quyết học tập”. Tôi thường trả lời “Không có bí quyết gì cả. Quan trọng là niềm say mê.” Trả lời như vậy là một cách né tránh. Không sai nhưng cũng không đầy đủ. Tôi bắt buộc phải trả lời như thế khi mình chưa bao giờ suy nghĩ về vấn đề này một cách thấu đáo. Nhưng không thể nào né tránh được mãi câu hỏi này. Cũng không thể nào trút hết trách nhiệm lên đầu người khác bằng cách nói: “đây là chuyện chuyên môn của những người làm công tác nghiên cứu khoa học giáo dục”.
Điểm lại cuộc đời mình, tôi thấy cho đến thời điểm này mình không làm gì khác ngoài việc đi học, sau đó dạy học và nghiên cứu khoa học. Trong quá trình ấy, chắc tôi cũng đã từng có những suy nghĩ riêng. Chỉ có điều những suy nghĩ đó chưa bao giờ được được sắp xếp lại một cách hệ thống và được diễn đạt một cách mạch lạc. Chuẩn bị cho buổi nói chuyện này là cơ hội rất tốt để tôi làm việc này, cái việc mà phải thú thật là rất vất vả nhưng hy vọng là có ích.
Tôi xin cảm ơn International Peace Foundation và trường Đại học bách khoa đã cùng tổ chức sự kiện này. Cảm ơn tất cả các quí vị, các bạn sinh viên, học sinh đã đến dự buổi nói chuyện ngày hôm nay. Sự quan tâm của quí vị là động cơ mạnh để tôi hoàn thành bài trao đổi này.
Dàn bài của tôi dựa vào ba câu hỏi. Thứ nhất: cái gì là động cơ căn bản cho việc học tập. Thứ hai: học chữ hay học làm người? Thú thực là tôi không thích câu hỏi này, vì nó rất mập mờ và đa nghĩa. Nhưng tôi sử dụng chính tính đa nghĩa của nó để triển khai thành các câu hỏi nhỏ xung quanh việc học cái gì? Câu hỏi cuối cùnglàm thành nhan đề của bài nói chuyện này: học như thế nào? Tôi không có tham vọng đưa ra câu trả lời thấu đáo, đầy đủ cho cả ba câu hỏi trên, mà chỉ có ý định sắp xếp lại những suy nghĩ tản mạn của mình thành những câu trả lời không cầu toàn. Tôi hy vọng rằng vào cuối buổi nói chuyện, chúng ta sẽ còn thời gian để trao đổi thêm.
Thứ Hai, 21 tháng 1, 2013
Thư giãn
Ông lão và con lừa
Ông lão nhà quê và đứa cháu bàn nhau đem con lừa ra hội chợ bán. Để con lừa khỏi mệt mỏi hầu có thể bán được giá cao, họ buộc chân lừa lại và hai ông cháu khệ nệ gánh con lừa đi.
Đi được một đoạn, người đi đường thấy thế phá ra cười và bảo: "Có con lừa mà không chịu cỡi lại khiêng nó. Sao mà ngu thế!" Ông lão nhận thấy mình ngu thật, vội để con lừa xuống, cởi trói cho nó, và để đứa cháu cỡi lên lưng lừa, còn ông thì đi theo sau.
Một lúc sau, khách bộ hành trông thấy thế, mắng thằng cháu: "Mày là đồ bất hiếu bất mục! Sao lại để Ông mày già yếu thế mà đi bộ Chính mày phải đi bộ mới phải!" Một lần nữa, nghe theo ý khách bộ hành, Ông già leo lên lưng con lừa, đứa cháu bước theo sau.
Đến một đoạn đường khác, ba cô gái đi qua thấy vậy, một cô bảo: "Tội nghiệp thằng bé, phải đi khập khễnh theo sau, trong khi ông già tưởng mình khôn ngoan lại ngồi chễm chệ trên lưng lừa!" Ông già nhận thấy ý kiến đúng, bảo thằng cháu cùng lên ngồi trên lưng lừa.
Rồi một toán người khác đi ngang qua lại phê bình: "Sao lại bắt con lừa đáng thương ấy chở nặng như vậy? Họ không biết thương hại con vật già nua của họ tí nào cả. Ra đến hội chợ thì họ chỉ còn mảnh da lừa để bán!" Một lần nữa, hai ông cháu xuống đi bộ, để con lừa đi thong dong đằng trước.
Vẫn chưa hết, một khách qua đường thấy vậy than rằng: "Sao họ không để con lừa vào lồng kính mà thờ! Họ đi mòn giầy của họ để bảo vệ con lừa. Đúng là ba con lừa!"
Bấy giờ Ông lão mới trả lời: "Vâng, chính tôi là con lừa! Nhưng từ nay về sau, dù người ta khen hay chê tôi, dù người ta nói điều gì hay không nói điều gì, tôi chỉ làm theo đầu óc của tôi mà thôi!"
Ông lão nhà quê và đứa cháu bàn nhau đem con lừa ra hội chợ bán. Để con lừa khỏi mệt mỏi hầu có thể bán được giá cao, họ buộc chân lừa lại và hai ông cháu khệ nệ gánh con lừa đi.
Đi được một đoạn, người đi đường thấy thế phá ra cười và bảo: "Có con lừa mà không chịu cỡi lại khiêng nó. Sao mà ngu thế!" Ông lão nhận thấy mình ngu thật, vội để con lừa xuống, cởi trói cho nó, và để đứa cháu cỡi lên lưng lừa, còn ông thì đi theo sau.
Một lúc sau, khách bộ hành trông thấy thế, mắng thằng cháu: "Mày là đồ bất hiếu bất mục! Sao lại để Ông mày già yếu thế mà đi bộ Chính mày phải đi bộ mới phải!" Một lần nữa, nghe theo ý khách bộ hành, Ông già leo lên lưng con lừa, đứa cháu bước theo sau.
Đến một đoạn đường khác, ba cô gái đi qua thấy vậy, một cô bảo: "Tội nghiệp thằng bé, phải đi khập khễnh theo sau, trong khi ông già tưởng mình khôn ngoan lại ngồi chễm chệ trên lưng lừa!" Ông già nhận thấy ý kiến đúng, bảo thằng cháu cùng lên ngồi trên lưng lừa.
Rồi một toán người khác đi ngang qua lại phê bình: "Sao lại bắt con lừa đáng thương ấy chở nặng như vậy? Họ không biết thương hại con vật già nua của họ tí nào cả. Ra đến hội chợ thì họ chỉ còn mảnh da lừa để bán!" Một lần nữa, hai ông cháu xuống đi bộ, để con lừa đi thong dong đằng trước.
Vẫn chưa hết, một khách qua đường thấy vậy than rằng: "Sao họ không để con lừa vào lồng kính mà thờ! Họ đi mòn giầy của họ để bảo vệ con lừa. Đúng là ba con lừa!"
Bấy giờ Ông lão mới trả lời: "Vâng, chính tôi là con lừa! Nhưng từ nay về sau, dù người ta khen hay chê tôi, dù người ta nói điều gì hay không nói điều gì, tôi chỉ làm theo đầu óc của tôi mà thôi!"
Thứ Ba, 8 tháng 1, 2013
QUẢ DỤC 寡 欲 – NHU NHƯỢC 柔 弱
238. Tội mạc đại vu khả dục, họa mạc đại vu bất tri túc, cữu mạc đại vu dục đắc. Cố tri túc chi túc thường túc hĩ. [Đạo Đức Kinh, chương 46]
罪莫大于可欲,禍莫大于不知足,咎莫大于欲得。故知足之足常足矣。《道德經 • 第四十六章》
【Dịch】Không tội nào lớn bằng có dục vọng; không họa nào lớn bằng không biết đủ; không hại nào lớn bằng mong có. Cho nên biết mình có đủ, thì luôn đủ.
239. Kiến tố bão phác, thiểu tư quả dục, tuyệt học vô ưu. [Đạo Đức Kinh, chương 19]
見素抱朴,少私寡欲,絕學無憂。《道德經 • 第十九章》
【Dịch】Hãy thể hiện sự trinh nguyên và ôm giữ sự chất phác; hãy bớt sự tư lợi và giảm ham muốn; hãy dứt tuyệt học vấn và chớ lo âu.
240. Danh dã giả, tương yết dã; tri dã giả, tranh chi khí dã. Nhị giả, hung khí, phi sở dĩ tận hành dã. [Trang Tử, Nhân Gian Thế]
名也者,相軋也;知也者,爭之器也。二者,凶器,非所以盡行也。《莊子 • 人間世》
【Dịch】Do cầu danh mà người ta chèn ép nhau; mưu trí trở thành vũ khí để tương tranh; danh và mưu trí đều là khí cụ không tốt vì làm hại phẩm hạnh.
241. Kỳ thị dục thâm giả, kỳ thiên cơ thiển. [Trang Tử, Đại Tông Sư]
其嗜欲深者,其天機淺。《莊子 • 大宗師》
【Dịch】Ai thị dục sâu đậm thì bản chất tự nhiên của hắn nông nổi.
242. Doanh thị dục, trưởng háo ố, tắc tính mệnh chi tình bệnh hĩ. [Trang Tử, Từ Vô Quỷ]
盈嗜欲,長好惡,則性命之情病矣。《莊子 • 徐無鬼》
【Dịch】Thị dục càng tràn đầy, yêu ghét càng gia tăng, thì tính mệnh sẽ lâm nguy.
243. Đa dục khuy nghĩa, đa ưu hại trí, đa cụ hại dũng. [Hoài Nam Tử, Mậu Xưng Huấn]
多欲虧義,多憂害智,多懼害勇。《淮南子 • 繆稱訓》
【Dịch】Dục vọng nhiều làm hại nghĩa, âu lo nhiều làm hại trí, sợ hãi nhiều làm hại dũng khí.
244. Tỉnh sự chi bản tại tiết dục. [Hoài Nam Tử, Thuyên Ngôn Huấn]
省事之本在節欲。《淮南子 • 詮言訓》
【Dịch】Căn bản của sự xem xét sự vật là ở việc hạn chế dục vọng.
245. Giám minh giả, trần cấu phất năng mai; thần thanh giả, thị dục phất năng loạn. [Hoài Nam Tử, Xúc Chân Huấn]
鑒明者,塵垢弗能薶;神清者,嗜欲弗能亂。《淮南子 • 俶真訓》
【Dịch】Gương sáng, bụi bặm không làm dơ bẩn được; thần thanh trong, thị dục không làm cho rối loạn được.
246. Mục vọng thị tắc dâm, nhĩ vọng thính tắc hoặc, khẩu vọng ngôn tắc loạn. [Hoài Nam Tử, Chủ Thuật Huấn]
目妄視則淫,耳妄聽則惑,口妄言則亂。《淮南子 • 主術訓》
【Dịch】Mắt thấy điều quấy ắt dâm, tai nghe điều quấy ắt nghi hoặc, miệng nói điều quấy ắt loạn.
247. Nhật nguyệt dục minh, phù vân cái chi; hà thủy dục thanh, sa thạch uế chi; nhân tính dục bình, thị dục hại chi. [Hoài Nam Tử, Tề Tục Huấn]
日月欲明,浮雲蓋之;河水欲清,沙石穢之; 人性欲平,嗜欲害之。《淮南子 • 齊俗訓》
【Dịch】Mặt trời và mặt trăng muốn sáng nhưng bị mây che khuất; sông ngòi muốn trong vắt nhưng bị cát đá làm ô uế; nhân tính muốn an bình nhưng bị thị dục làm hại.
248. Thiểu tư tắc bất thác hoặc dĩ trước vật, quả dục tắc bất đạo túng nhi táng kỷ, tư giả nhược phi khử loạn tính chi bản hà dĩ tai. [Đạo Tạng, Đạo Đức Chân Kinh giải]
少思則不錯惑以著物,寡欲則不盜縱而喪己,斯者若非去亂性之本何以哉。《道藏 • 道德真經解》
【Dịch】Giảm bớt tư lự thì sẽ không bị lỗi lầm và nghi hoặc mà chấp trước ngoại vật; giảm bớt dục vọng thì sẽ không phóng túng và trộm cắp để bị vong mạng; hai thứ đó (tức tư lự và dục vọng) nếu không trừ khử, thì cái gốc của sự rối loạn chân tính làm sao hết?
249. Tự doanh vi tư, nhi dưỡng tâm mạc thiện vu quả dục. Thiểu tư quả dục, tắc định hồ nội ngoại chi phân, biện hồ chân ngụy chi quy, đức toàn nhi phục. Tế vu nhất kỷ tắc thất kỳ đại đồng, cố tự doanh vi tư. Khiên vu lợi dục tắc cốt kỳ thanh tĩnh, cố dưỡng tâm mạc thiện vu quả dục dã. Tư dã dục dã, giai ngoại du thị vụ, nhi phi nội quán; giai nhân ngụy thị tư, nhi phi tính chân. Duy thiểu tư quả dục nhi hậu năng định hồ nội ngoại chi phân, nhi tri sở khinh trọng; biện hồ chân ngụy chi quy, nhi minh vu bản mạt. Bất thiên kỳ đức nhi đức toàn, bất dâm kỳ tính nhi tính phục. [Đạo Tạng, Đạo Đức Chân Kinh giải]
自營為私,而養心莫善于寡欲。少思寡欲,則定乎內外之分,辨乎真偽之歸,德全而復。蔽于一己則失其大同,故自營為私。牽于利欲則汩其清靜,故養心莫善于寡欲也。私也欲也,皆外游是務,而非內觀;皆人偽是滋,而非性真。惟少思寡欲而後能定乎內外之分,而知所輕重;辨乎真偽之歸,而明于本末。不遷其德而德全,不淫其性而性復。《道藏 • 道德真經疏義》
【Dịch】Mưu cầu cho mình vì tư lợi; nhưng dưỡng tâm thì không gì tốt bằng bớt dục vọng. Giảm suy tư và bớt dục vọng tức là xác định sự phân cách giữa nội tâm với ngoại giới, là phân biệt được chỗ quay về của thật với giả; đức sẽ toàn vẹn và phục hồi. Che đậy bản ngã tức là đánh mất sự đại đồng, tức là mưu cầu cho mình vì tư lợi. Bị cái lợi và dục vọng lôi kéo thì làm rối loạn sự thanh tĩnh, nên dưỡng tâm không gì tốt bằng bớt dục vọng. Hễ tư lợi thì ham muốn, đều là hướng ra ngoại giới chứ không phải là nhìn vào bên trong; đều là cái giả dối và bẩn đục của con người chứ không phải là sự chân thật của thiên tính. Chỉ có thiểu tư quả dục mới xác định sự phân cách giữa nội tâm với ngoại giới, và biết nặng với nhẹ; chỉ có phân biệt được chỗ quay về của thật với giả, và hiểu rõ gốc với ngọn. Không dời chuyển đức của mình thì đức toàn vẹn; không sử dụng quá mức thiên tính của mình thì thiên tính phục hồi.
250. Chúng nhân kiến vật bất kiến đạo, cố sở kiến vô phi dục giả; thánh nhân kiến đạo bất kiến vật, cố sở kiến vô khả dục giả. Sở kiến vô khả dục giả, tắc dĩ sở kiến thắng sở đổ giả dã, thị dĩ linh đài hữu trì nhi cốt cử tiêu; sở kiến vô phi dục giả, tắc dĩ sở đổ thắng sở kiến dã, thị dĩ trục vật vong phản, thất chân trạm ngụy. Cái mục chi vu sắc, nhĩ chi vu thanh, khẩu chi vu vị, tỵ chi vu xú, thị chi sở dục dã. Vọng dung chi nhân, bất tri ngũ sắc loạn mục, ngũ thanh loạn nhĩ, ngũ vị trọc khẩu, ngũ xú huân tỵ, quyết tính mệnh chi tình dĩ tranh chi, nhương kỳ đản man, vô sở bất chí, lụy vu hậu lợi giả, dĩ thân tuẫn lợi; lụy vu danh cao giả, dĩ thân tuẫn danh. Nhược Bá Di dữ Đạo Chích, nhất tắc tử danh, nhất tắc tử lợi, phàm dĩ kiến danh lợi chi khả dục cố nhĩ. Kỳ nhiệt tiêu hỏa, đắc chi tắc hỉ; kỳ hàn ngưng băng, thất chi tắc cụ, bất năng tháo chi nhi tồn kỳ tâm, chí vu quán loạn phẫn kiêu nhi bất khả hệ, thị do dĩ Tùy Hầu chi châu đạn thiên nhận chi tước dã, khởi bất hoặc tai! Thánh nhân dị hồ thử, bất tựu lợi, bất tỵ hại, tri lợi hại chi đồng nguyên; bất vinh thông, bất sửu cùng, dĩ cùng thông nhất trí. Dục lự bất manh, nhất hào bất anh, ngô tâm trạm nhiên, vật mạc năng dao, cảm nhi toại thông. Năng định năng ứng, chỉ nhi vô sở ngại, bất giao vu tĩnh; động nhi vô sở trục, bất lưu vu động. Phúc khước vạn phương, trần hồ tiền bất đắc dĩ nhập kỳ xá, thục năng loạn chi. [Đạo Tạng, Đạo Đức Chân Kinh Sớ Nghĩa]
眾人見物不見道,故所見無非欲者;聖人見道不見物,故所見無可欲者。所見無可欲者,則以所見勝所睹者也,是以靈台有持而滑舉消;所見無非欲者,則以所睹勝所見也,是以逐物忘返,失真湛偽。蓋目之于色,耳之于聲,口之于味,鼻之于臭,是之所欲也。妄庸之人,不知五色亂目,五聲亂耳,五味濁口,五臭薰鼻,訣性命之情以爭之,攘奇誕謾,無所不至,累于厚利者,以身徇利;累于名高者,以身徇名。若伯夷與盜跖,一則死名,一則死利,凡以見名利之可欲故爾。其熱焦火,得之則喜;其寒凝冰,失之則懼,不能操之而存其心。至于摜亂僨驕而不可系,是猶以隋侯之珠彈千仞之雀也,豈不惑哉!聖人異乎此,不就利,不避害,知利害同源;不榮通,不丑窮,以窮通為一致。欲慮不萌,一毫不攖,吾心湛然,物莫能搖,感而遂通。能定能應,指而無所礙,不膠于靜;動而無所逐,不流于動。覆卻萬方,陳乎前得以入其舍,孰能亂之。《道藏 • 道德真經疏義》
【Dịch】Mọi người chỉ thấy vật chất chứ không thấy đạo, nên cái thấy đó có dục vọng; thánh nhân chỉ thấy đạo chứ không thấy vật chất, nên cái thấy đó vô dục. Cái thấy mà vô dục thì tri kiến vượt trội cái được thấy, do đó linh đài (tâm linh) được gìn giữ và các sự nhiễu loạn bị tiêu trừ. Cái thấy mà có dục vọng thì cái được thấy vượt trội tri kiến, nên người ta chỉ truy đuổi ngoại vật mà quên mất đường trở về, đánh mất cái chân thực mà ham mê cái giả dối. Mắt người vụ sắc đẹp, tai người vụ âm thanh, miệng người vụ vị ngon, mũi người vụ mùi thơm, đó là ham muốn. Người tầm thường và mê lầm thì không biết rằng 5 sắc loạn mắt, 5 thanh loạn tai, 5 vị làm dơ miệng, 5 mùi làm ngạt mũi; nên họ bất chấp tính mệnh mà trành giành các thứ đó, lừa dối nhau, không chỗ nào không tới. Kẻ lụy vì lợi dày sẽ đem thân chết vì lợi; kẻ lụy vì danh cao sẽ đem thân chết vì danh; giống như Bá Di và Đạo Chích – người chết vì danh, kẻ chết vì lợi – tức đều là vì danh và lợi mà nảy sinh dục vọng. Danh lợi như cái nóng sinh ra lửa, được chúng thì vui; danh lợi như cái lạnh làm đóng băng, mất chúng thì lo buồn; họ không thể làm chủ được tâm, đến nỗi rối tâm loạn trí, kiêu căng phóng túng, không kiềm chế được; giống như lấy viên ngọc châu cực quý làm đạn bắn con chim sẻ bay cao mấy ngàn thước. Đó chẳng phải là sai lầm sao! Thánh nhân thì khác. Ngài không vụ lợi, không tránh hại, biết lợi và hại cùng nguồn gốc; không lấy sự thông đạt làm vinh, không lấy sự khốn cùng làm nhục, xem khốn cùng và thông đạt như nhau. Ngài không khởi tâm vì dục vọng và tư lự, một tí xíu cũng không bị rối loạn; nội tâm luôn thanh tĩnh sáng láng, không dao động vì ngoại vật; cảm ứng mà thông đạt. Tâm ngài an định và đáp ứng được, tĩnh mà không có chỗ trở ngại, không kết dính vào tĩnh; động mà không có chỗ truy đuổi, không trôi theo động. Vạn vật trước mắt thánh nhân dù biến hoá muôn phương cũng không thể xâm nhập vào nội tâm (linh đài) của ngài, như vậy chẳng có gì nhiễu loạn ngài được.
251. Manh vu tâm giả, danh viết hành nghiệp, hành nghiệp sở tháo, danh viết thiện ác, cố túng dục vi ác, tức tham vi thiện. Thiện giả, năng vi tế tục xuất trần chi ích; ác giả, tất tác bại đức nhiễm uế chi tư. Cố thánh nhân tri vô hình nhi dụng giả, tâm dã; hình bất tự vận giả, thân dã. Nhiên tâm bất ký vu thân tắc bất năng hiển năng bị dụng, thân bất tạ vu tâm tắc vong diệt bất khởi. Cố thân tâm thể dị nhi lý phù, trí dụng vạn thiện nhi thú nhất. Cố năng biểu lý vi dụng, động tĩnh tương trì. Thân vô độc tại, vi tâm sở sử, tâm bất thị tĩnh, duy dục phan duyên. Thân lượng vô nhai, nạp hành bất tức. Cố tâm vi phàm thánh chi căn, thân vi khổ lạc chi tụ. Thánh nhân tri hoạn sin vu tâm, khiên tất do kỷ, thị dĩ thanh tâm trừ hoạn, khiết chí tiêu khiên. Phàm dục chi lưu, kỳ tức bất nhiên, tứ tình túng dục, bất tri dục xuất vu tâm; vũ mạn căng xa, bất tri mạn sinh vu kỷ. [Vân Cấp Thất Thiêm, Chúng Chân Ngữ Lục]
萌于心者,名曰行業,行業所操,名曰善惡,故縱欲為惡,息貪為善。善者,能為濟俗出塵之益;惡者,必作敗德染穢之資。故聖人知無形用者,心也;形不自運者,身也。然心不記于身則不能顯能備用,身不藉于心則亡滅不起。故身心体異而理符,致用萬善而趣一。故能表里為用,動靜相持。身無獨在,為心所使,心不示靜,惟欲攀緣。身量無涯,納行不息。故心為凡聖之根,身為苦樂之聚。聖人知患生于心,愆必由己,是以清心除患,潔志消愆。凡欲之流,其即不然,肆情縱欲,不知欲出于心;侮慢矜奢,不知慢生于己。《雲笈七簽眾真語錄》
【Dịch】Cái từ trong tâm manh động phát ra thì gọi là tạo nghiệp, cái chi phối sự tạo nghiệp gọi là thiện ác. Cho nên phóng túng dục vọng là ác, đình chỉ tham lam là thiện. Điều thiện là ích lợi cứu giúp người đời và siêu thoát thế tục. Điều ác là tạo tác bại hoại đức hạnh và tiêm nhiễm cái xấu. Cho nên thánh nhân hiểu rõ một thứ tuy vô hình nhưng công dụng rất lớn, đó là tâm; và cũng hiểu rõ một thứ hữu hình nhưng không tự vận động được, đó là thân. Tất nhiên nếu tâm không gởi vào thân thì không thể hiện mọi công dụng; và thân nếu không nương nhờ tâm thì sẽdiệt vong, không khởi động được. Cho nên tâm và thân tuy thể khác nhau nhưng lý thì phù hợp, có thể tận dụng mọi điều tốt để hướng đến một mục tiêu. Do đó ngoài và trong hỗ tương tác dụng, động và tĩnh cùng phối hợp nhau. Thân không thể độc lập tồn tại, mà nó do tâm sai khiến. Tâm không an tĩnh là do dục vọng gây ra. Sức chịu đựng của thân thì vô hạn mà hành vi tạo tác thì không ngưng. Cho nên tâm là căn bản của phàm và thánh. Thân là chỗ hội tụ của khổ và sướng. Thánh nhân hiểu hoạ hoạn do tâm mà phát sinh, lỗi lầm là do bản thân tạo tác. Do đó thanh trừng tâm thì trừ được họa hoạn; làm thuần khiết ý chí thì hết lỗi lầm. Bọn người tầm thường thì không thế; họ phóng túng tình dục, không biết dục vọng phát sinh do tâm; họ kiêu căng ngạo mạn, không biết sự ngạo mạn là do bản thân tạo tác.
252. Tương dục hấp chi, tất cố trương chi. Tương dục nhược chi, tất cố cường chi. Tương dục phế chi, tất cố hưng chi. Tương dục đoạt chi, tất cố dữ chi. Thị vị vi minh, nhu nhược thắng cương cường. [Đạo Đức Kinh, chương 36]
將欲歙之,必固張之﹔將欲弱之,必固強之﹔將欲廢之,必固興之﹔將欲奪之,必固與之。是謂微明。柔弱勝剛強。《道德經 • 第三十六章》
【Dịch】Muốn nó co lại, tất phải giương nó thẳng. Muốn nó yếu, tất phải làm nó mạnh lên. Muốn phế bỏ nó đi, tất phải làm cho hưng vượng. Muốn đoạt nó cái gì, tất phải cho nó cái khác. Thế gọi là «làm cho cái sáng trở nên tế vi».
253. Phản giả Đạo chi động. Nhược giả Đạo chi dụng. [Đạo Đức Kinh, chương 40]
反者道之動﹔弱者道之用。《道德經 • 第四十章》
【Dịch】Trở lại là cái động của đạo. Yếu đuối là cái dụng của đạo.
254. Nhân chi sinh dã nhu nhược, kỳ tử dã kiên cường. Vạn vật thảo mộc chi sinh dã nhu thúy kỳ tử dã khô cảo. Cố kiên cường giả, tử chi đồ, nhu nhược giả sinh chi đồ. Thị dĩ binh cường tắc bất thắng, mộc cường tắc chiết. Cố kiên cường xử hạ, nhu nhược xử thượng. [Đạo Đức Kinh, chương 76]
人之生也柔弱,其死也堅強。萬物草木之生也柔脆,其死也枯槁。故堅強者死之徒,柔弱者生之徒。是以兵強則不勝,木強則折,強大處下,柔弱處上。《道德經 • 第七十六章》
【Dịch】Khi sống [thể chất] người ta mềm yếu; lúc chết thì [thi thể] cứng đơ. Vạn vật và thảo mộc khi sống thì mềm yếu; lúc chết thì khô héo. Cho nên cứng mạnh cùng một bọn với chết; mềm yếu cùng một bọn với sống. Thế nên, quân đội mạnh thì không thể thủ thắng; cây khoẻ thì phải bị búa rìu đốn; cái cứng mạnh chiếm địa vị thấp hơn; cái nhu nhược chiếm địa vị cao hơn.
255. Thiên hạ mạc nhu nhược ư thủy, nhi công kiên cường giả mạc chi năng thắng, dĩ kỳ vô dĩ dịch chi. Nhu thắng cương, nhược thắng cường. Thiên hạ mạc bất tri, mạc năng hành. [Đạo Đức Kinh, chương 78]
天下莫柔弱於水,而功堅強者莫之能勝,以其無以易之。柔勝剛,弱勝強,天下莫不知 ,莫能行。《道德經 • 第七十八章》
【Dịch】Trên đời chẳng có gì mềm yếu bằng nước. Để công phá cái cứng mạnh thì chẳng gì hơn nước. Đó là vì không có cái gì thay thế nó được. Ai cũng biết yếu thắng mạnh, mềm thắng cứng; nhưng chẳng ai biết thi hành điều đó.
256. Chuyên khí trí nhu, năng anh nhi hồ? [Đạo Đức Kinh, chương 10]
專氣致柔,能如嬰兒乎?《道德經 • 第十章》
【Dịch】Luyện khí một cách chuyên nhất thân hình sẽ mềm mại. Ngươi có thể [tập luyện để thân xác và tinh thần] giống như trẻ thơ không?
257. Thiên hạ hữu thường thắng chi đạo, hữu thường bất thắng chi đạo. Thường thắng chi đạo viết nhu; thường bất thắng chi đạo viết cường. Nhị giả dị tri, nhi nhân vị chi tri. Cố thượng cổ chi ngôn: Cường, tiên bất kỷ nhược giả; nhu, tiên xuất vu kỷ giả. Tiên bất kỷ nhược giả, chí vu nhược kỷ, tắc đãi hĩ. Tiên xuất vu kỷ giả, vong sở đãi hĩ. Dĩ thử thắng nhất thân nhược đồ, dĩ thử nhậm thiên hạ nhược đồ, vị bất thắng nhi tự thắng, bất nhậm nhi tự nhậm dã. [Liệt Tử, Hoàng Đế]
天下有常勝之道,有常不勝之道。常勝之道曰柔;常不勝之道曰強。二者易知,而人未之知。故上古﹕強,先不己若者;柔,先出于己者。先不己若者,至于若己,則殆矣。先出于己者,亡所殆矣。以此勝一身若徒,以此任天下若徒,謂不勝而自勝,不任而自任也。《列子 • 黃帝》
【Dịch】Thiên hạ có cách thức luôn chiến thắng và cách thức luôn chiến bại. Hai cách thức này rất dễ biết thế mà người ta không hề biết. Cho nên lời xưa có nói: mạnh là kẻ chiến thắng người không bằng mình; yếu là kẻ tự thắng mình. Kẻ chiến thắng người không bằng mình, đến khi gặp đối thủ hơn mình, ắt sẽ bị nguy hiểm. Kẻ tự thắng mình, không bị nguy hiểm gì; lấy lý lẽ đó để tự thắng bản thân và ứng phó với thiên hạ. Thế gọi là không cố ý thắng mà tự nhiên thắng; không cố ý ứng phó mà tự nhiên ứng phó được.
258. Thiên hạ hữu thường thắng chi đạo, hữu bất thường thắng chi đạo. Thường thắng chi đạo tại nhu, bất thường thắng chi đạo tại cương. Duy phù thường thắng chi đạo tại nhu, thử cổ chi bác đại chân nhân tất dĩ nọa nhược khiêm hạ vi biểu dã. Dĩ nọa nhược khiêm hạ vi biểu, tắc dĩ thâm vi căn, tất sự bất kiên, dĩ kiên tắc hủy cố dã. [Đạo Tạng, Đạo Đức Chân Kinh Sớ Nghĩa]
天下有常勝之道,有不常勝之道。常勝之道在柔,不常勝之道在剛。惟夫常勝之道在柔,此古之博大真人必以懦弱謙下為表也。以懦弱為表,則以深為根,必事不堅,以堅則毀故也。《道藏道德真經疏義》
【Dịch】Thiên hạ có cách thức luôn chiến thắng và cách thức luôn chiến bại. Cách thức luôn chiến thắng nằm ở sự mềm mại; cách thức luôn chiến bại nằm ở sự mạnh mẽ. Chính vì cách thức luôn chiến thắng nằm ở sự mềm mại, cho nên các bậc chân nhân minh triết thuở xưa luôn tỏ ra dáng vẻ mềm yếu và khiêm hạ. Tỏ ra dáng vẻ mềm yếu và khiêm hạ là lấy sự thâm sâu làm gốc, tức là sự việc không nên kiên cường vì kiên cường dẫn đến hủy diệt.
259. Tự sự ngôn chi, cương cường túc dĩ thắng nhu nhược; tự đạo ngôn chi, nhu nhược túc dĩ thắng cương cường. Tích vu nhu tắc cương; tích vu nhược tắc cường. Dục cương tất dĩ nhu thủ chi, dục cường tất dĩ nhược bảo chi. Nhu chi thắng cương, nhược chi thắng cường, kỳ đắc thường thắng chi đạo dư! [Đạo Tạng, Đạo Đức Chân Kinh Sớ Nghĩa]
自事言之,剛強足以勝柔弱;自道言之,柔弱足以勝剛強。積于柔則剛;積于弱則強。欲剛必以柔守之,欲強必以弱保之。柔勝之剛,弱之勝強,其得常勝之道歟?《道藏道德真經疏義》
【Dịch】Về phương diện sự việc, cứng mạnh thắng mềm yếu; về phương diện đạo, mềm yếu thắng cứng mạnh. Mềm được chất chứa lâu ngày sẽ thành cứng; yếu được chất chứa lâu ngày sẽ thành mạnh. Muốn cứng, tất phải giữ lấy mềm; muốn mạnh tất phải bảo hộ yếu. Mềm thắng cứng và yếu thắng mạnh, đó là cái đạo để luôn đắc thắng vậy.
260. Tính chi hư dã, hữu dĩ nạp thiên hạ chi chí biến; hình chi vô dã, hữu dĩ địch thiên hạ chi chí đại, đạm túc vạn vật bất dĩ vi hữu, sung tắc tứ hải bất dĩ vi doanh, cơ chất tuy tiểu nhi thiên hạ mạc năng thần, vạn vật quy chi nhi bất vi kỳ chủ. Thử đạo chi nhu nhược, thục khả thắng tai? Sĩ đạo giả ninh bất ty dĩ tự xử, hoà nhi tự nhược, hựu doanh dĩ đãi kỷ, thường khiêm dĩ phụng nhân, hữu công nhi bất hữu, hữu năng nhi bất thị, bất tranh yên nhi thiên hạ dĩ vi tiên, bất căng yên nhi thiên hạ dĩ vi năng, thử sĩ đạo chi nhu nhược diệc bất khả thắng hĩ. Phản dĩ đại nhi khuất tiểu, cao nhi nhục ty, cầu vi cương cường dĩ thắng nhu nhược, thử cái bất tri đạo dã. [Đạo Tạng, Đạo Đức Chân Kinh Giải]
性之虛也,有以納天下之至變;形之無也,有以敵天下之至大,澹足萬物不以為有,充塞四海不以為盈,基質雖小而天下莫能臣,萬物歸之而不為其主,道之柔弱,孰可勝哉?仕道者寧不卑以自處,和而自弱,又盈以待己,常謙以奉人,有功而不有,有能而不恃,不爭焉而天下以為先,不矜焉而天下以為能,此仕道之柔弱亦不可勝矣。反以大而屈小,高而辱卑,求為剛強以勝柔弱,此蓋不知道也。《道藏 • 道德真經解》
【Dịch】Sự không hư của bản tính có thể dung chứa được mọi biến hoá kịch liệt của thiên hạ. Cái vô hình đó có thể đương đầu với cái cực đại của thiên hạ; nó làm cho vạn vật sung túc nhưng không xem là mình có được; lấp đầy bốn biển nhưng không xem là mình đã làm đầy. Bản chất tuy nhỏ nhưng nó không lệ thuộc thiên hạ; vạn vật quy tụ về nó nhưng nó không xem mình là chủ. Đó là sự mềm yếu của đạo. Ai có thể thắng được nào? Kẻ học đạo thà lấy cái không thấp thỏi để tự xử mình, nhưng đối với người thì tỏ ra hoà ái nhu nhược; lấy cái tràn đầy để tự đòi hỏi nơi mình, nhưng đối đãi kẻ khác thì tỏ ra khiêm hạ; có công lao nhưng không tự cho là có; có tài năng nhưng không ỷ mình tài; không tranh với ai nên được thiên hạ tôn kính là bậc trên; không kiêu căng nên được thiên hạ xem trọng là nhân tài. Cái nhu nhược của kẻ học đạo không ai có thể thắng được. Trái lại, ai ỷ lớn hiếp nhỏ, cậy cao khinh thấp, mong cầu cứng mạnh để thắng người, đều là những kẻ không hiểu đạo.
261. Thánh nhân chi khuất giả, dĩ cầu thân dã, uổng giả, dĩ cầu trực dã. Cố tuy xử tà tịch chi đạo, hành u muội chi đồ, tương dục hưng đại đạo, thành đại công. [Hoài Nam Tử, Thái Tộc]
聖人之屈者,以求伸也,枉者,以求直也。故雖處邪辟之道,行幽昧之途,將欲以興大道,成大功。《淮南子 • 泰族》
【Dịch】Thánh nhân co lại là mong duỗi ra; gấp cong lại là mong thẳng ra. Cho nên tuy ở chỗ ngược ngạo không chính đáng và đi trên đường tối tăm mà lòng vẫn hằng mong chấn hưng đại đạo và hoàn thành đại công.
罪莫大于可欲,禍莫大于不知足,咎莫大于欲得。故知足之足常足矣。《道德經 • 第四十六章》
【Dịch】Không tội nào lớn bằng có dục vọng; không họa nào lớn bằng không biết đủ; không hại nào lớn bằng mong có. Cho nên biết mình có đủ, thì luôn đủ.
239. Kiến tố bão phác, thiểu tư quả dục, tuyệt học vô ưu. [Đạo Đức Kinh, chương 19]
見素抱朴,少私寡欲,絕學無憂。《道德經 • 第十九章》
【Dịch】Hãy thể hiện sự trinh nguyên và ôm giữ sự chất phác; hãy bớt sự tư lợi và giảm ham muốn; hãy dứt tuyệt học vấn và chớ lo âu.
240. Danh dã giả, tương yết dã; tri dã giả, tranh chi khí dã. Nhị giả, hung khí, phi sở dĩ tận hành dã. [Trang Tử, Nhân Gian Thế]
名也者,相軋也;知也者,爭之器也。二者,凶器,非所以盡行也。《莊子 • 人間世》
【Dịch】Do cầu danh mà người ta chèn ép nhau; mưu trí trở thành vũ khí để tương tranh; danh và mưu trí đều là khí cụ không tốt vì làm hại phẩm hạnh.
241. Kỳ thị dục thâm giả, kỳ thiên cơ thiển. [Trang Tử, Đại Tông Sư]
其嗜欲深者,其天機淺。《莊子 • 大宗師》
【Dịch】Ai thị dục sâu đậm thì bản chất tự nhiên của hắn nông nổi.
242. Doanh thị dục, trưởng háo ố, tắc tính mệnh chi tình bệnh hĩ. [Trang Tử, Từ Vô Quỷ]
盈嗜欲,長好惡,則性命之情病矣。《莊子 • 徐無鬼》
【Dịch】Thị dục càng tràn đầy, yêu ghét càng gia tăng, thì tính mệnh sẽ lâm nguy.
243. Đa dục khuy nghĩa, đa ưu hại trí, đa cụ hại dũng. [Hoài Nam Tử, Mậu Xưng Huấn]
多欲虧義,多憂害智,多懼害勇。《淮南子 • 繆稱訓》
【Dịch】Dục vọng nhiều làm hại nghĩa, âu lo nhiều làm hại trí, sợ hãi nhiều làm hại dũng khí.
244. Tỉnh sự chi bản tại tiết dục. [Hoài Nam Tử, Thuyên Ngôn Huấn]
省事之本在節欲。《淮南子 • 詮言訓》
【Dịch】Căn bản của sự xem xét sự vật là ở việc hạn chế dục vọng.
245. Giám minh giả, trần cấu phất năng mai; thần thanh giả, thị dục phất năng loạn. [Hoài Nam Tử, Xúc Chân Huấn]
鑒明者,塵垢弗能薶;神清者,嗜欲弗能亂。《淮南子 • 俶真訓》
【Dịch】Gương sáng, bụi bặm không làm dơ bẩn được; thần thanh trong, thị dục không làm cho rối loạn được.
246. Mục vọng thị tắc dâm, nhĩ vọng thính tắc hoặc, khẩu vọng ngôn tắc loạn. [Hoài Nam Tử, Chủ Thuật Huấn]
目妄視則淫,耳妄聽則惑,口妄言則亂。《淮南子 • 主術訓》
【Dịch】Mắt thấy điều quấy ắt dâm, tai nghe điều quấy ắt nghi hoặc, miệng nói điều quấy ắt loạn.
247. Nhật nguyệt dục minh, phù vân cái chi; hà thủy dục thanh, sa thạch uế chi; nhân tính dục bình, thị dục hại chi. [Hoài Nam Tử, Tề Tục Huấn]
日月欲明,浮雲蓋之;河水欲清,沙石穢之; 人性欲平,嗜欲害之。《淮南子 • 齊俗訓》
【Dịch】Mặt trời và mặt trăng muốn sáng nhưng bị mây che khuất; sông ngòi muốn trong vắt nhưng bị cát đá làm ô uế; nhân tính muốn an bình nhưng bị thị dục làm hại.
248. Thiểu tư tắc bất thác hoặc dĩ trước vật, quả dục tắc bất đạo túng nhi táng kỷ, tư giả nhược phi khử loạn tính chi bản hà dĩ tai. [Đạo Tạng, Đạo Đức Chân Kinh giải]
少思則不錯惑以著物,寡欲則不盜縱而喪己,斯者若非去亂性之本何以哉。《道藏 • 道德真經解》
【Dịch】Giảm bớt tư lự thì sẽ không bị lỗi lầm và nghi hoặc mà chấp trước ngoại vật; giảm bớt dục vọng thì sẽ không phóng túng và trộm cắp để bị vong mạng; hai thứ đó (tức tư lự và dục vọng) nếu không trừ khử, thì cái gốc của sự rối loạn chân tính làm sao hết?
249. Tự doanh vi tư, nhi dưỡng tâm mạc thiện vu quả dục. Thiểu tư quả dục, tắc định hồ nội ngoại chi phân, biện hồ chân ngụy chi quy, đức toàn nhi phục. Tế vu nhất kỷ tắc thất kỳ đại đồng, cố tự doanh vi tư. Khiên vu lợi dục tắc cốt kỳ thanh tĩnh, cố dưỡng tâm mạc thiện vu quả dục dã. Tư dã dục dã, giai ngoại du thị vụ, nhi phi nội quán; giai nhân ngụy thị tư, nhi phi tính chân. Duy thiểu tư quả dục nhi hậu năng định hồ nội ngoại chi phân, nhi tri sở khinh trọng; biện hồ chân ngụy chi quy, nhi minh vu bản mạt. Bất thiên kỳ đức nhi đức toàn, bất dâm kỳ tính nhi tính phục. [Đạo Tạng, Đạo Đức Chân Kinh giải]
自營為私,而養心莫善于寡欲。少思寡欲,則定乎內外之分,辨乎真偽之歸,德全而復。蔽于一己則失其大同,故自營為私。牽于利欲則汩其清靜,故養心莫善于寡欲也。私也欲也,皆外游是務,而非內觀;皆人偽是滋,而非性真。惟少思寡欲而後能定乎內外之分,而知所輕重;辨乎真偽之歸,而明于本末。不遷其德而德全,不淫其性而性復。《道藏 • 道德真經疏義》
【Dịch】Mưu cầu cho mình vì tư lợi; nhưng dưỡng tâm thì không gì tốt bằng bớt dục vọng. Giảm suy tư và bớt dục vọng tức là xác định sự phân cách giữa nội tâm với ngoại giới, là phân biệt được chỗ quay về của thật với giả; đức sẽ toàn vẹn và phục hồi. Che đậy bản ngã tức là đánh mất sự đại đồng, tức là mưu cầu cho mình vì tư lợi. Bị cái lợi và dục vọng lôi kéo thì làm rối loạn sự thanh tĩnh, nên dưỡng tâm không gì tốt bằng bớt dục vọng. Hễ tư lợi thì ham muốn, đều là hướng ra ngoại giới chứ không phải là nhìn vào bên trong; đều là cái giả dối và bẩn đục của con người chứ không phải là sự chân thật của thiên tính. Chỉ có thiểu tư quả dục mới xác định sự phân cách giữa nội tâm với ngoại giới, và biết nặng với nhẹ; chỉ có phân biệt được chỗ quay về của thật với giả, và hiểu rõ gốc với ngọn. Không dời chuyển đức của mình thì đức toàn vẹn; không sử dụng quá mức thiên tính của mình thì thiên tính phục hồi.
250. Chúng nhân kiến vật bất kiến đạo, cố sở kiến vô phi dục giả; thánh nhân kiến đạo bất kiến vật, cố sở kiến vô khả dục giả. Sở kiến vô khả dục giả, tắc dĩ sở kiến thắng sở đổ giả dã, thị dĩ linh đài hữu trì nhi cốt cử tiêu; sở kiến vô phi dục giả, tắc dĩ sở đổ thắng sở kiến dã, thị dĩ trục vật vong phản, thất chân trạm ngụy. Cái mục chi vu sắc, nhĩ chi vu thanh, khẩu chi vu vị, tỵ chi vu xú, thị chi sở dục dã. Vọng dung chi nhân, bất tri ngũ sắc loạn mục, ngũ thanh loạn nhĩ, ngũ vị trọc khẩu, ngũ xú huân tỵ, quyết tính mệnh chi tình dĩ tranh chi, nhương kỳ đản man, vô sở bất chí, lụy vu hậu lợi giả, dĩ thân tuẫn lợi; lụy vu danh cao giả, dĩ thân tuẫn danh. Nhược Bá Di dữ Đạo Chích, nhất tắc tử danh, nhất tắc tử lợi, phàm dĩ kiến danh lợi chi khả dục cố nhĩ. Kỳ nhiệt tiêu hỏa, đắc chi tắc hỉ; kỳ hàn ngưng băng, thất chi tắc cụ, bất năng tháo chi nhi tồn kỳ tâm, chí vu quán loạn phẫn kiêu nhi bất khả hệ, thị do dĩ Tùy Hầu chi châu đạn thiên nhận chi tước dã, khởi bất hoặc tai! Thánh nhân dị hồ thử, bất tựu lợi, bất tỵ hại, tri lợi hại chi đồng nguyên; bất vinh thông, bất sửu cùng, dĩ cùng thông nhất trí. Dục lự bất manh, nhất hào bất anh, ngô tâm trạm nhiên, vật mạc năng dao, cảm nhi toại thông. Năng định năng ứng, chỉ nhi vô sở ngại, bất giao vu tĩnh; động nhi vô sở trục, bất lưu vu động. Phúc khước vạn phương, trần hồ tiền bất đắc dĩ nhập kỳ xá, thục năng loạn chi. [Đạo Tạng, Đạo Đức Chân Kinh Sớ Nghĩa]
眾人見物不見道,故所見無非欲者;聖人見道不見物,故所見無可欲者。所見無可欲者,則以所見勝所睹者也,是以靈台有持而滑舉消;所見無非欲者,則以所睹勝所見也,是以逐物忘返,失真湛偽。蓋目之于色,耳之于聲,口之于味,鼻之于臭,是之所欲也。妄庸之人,不知五色亂目,五聲亂耳,五味濁口,五臭薰鼻,訣性命之情以爭之,攘奇誕謾,無所不至,累于厚利者,以身徇利;累于名高者,以身徇名。若伯夷與盜跖,一則死名,一則死利,凡以見名利之可欲故爾。其熱焦火,得之則喜;其寒凝冰,失之則懼,不能操之而存其心。至于摜亂僨驕而不可系,是猶以隋侯之珠彈千仞之雀也,豈不惑哉!聖人異乎此,不就利,不避害,知利害同源;不榮通,不丑窮,以窮通為一致。欲慮不萌,一毫不攖,吾心湛然,物莫能搖,感而遂通。能定能應,指而無所礙,不膠于靜;動而無所逐,不流于動。覆卻萬方,陳乎前得以入其舍,孰能亂之。《道藏 • 道德真經疏義》
【Dịch】Mọi người chỉ thấy vật chất chứ không thấy đạo, nên cái thấy đó có dục vọng; thánh nhân chỉ thấy đạo chứ không thấy vật chất, nên cái thấy đó vô dục. Cái thấy mà vô dục thì tri kiến vượt trội cái được thấy, do đó linh đài (tâm linh) được gìn giữ và các sự nhiễu loạn bị tiêu trừ. Cái thấy mà có dục vọng thì cái được thấy vượt trội tri kiến, nên người ta chỉ truy đuổi ngoại vật mà quên mất đường trở về, đánh mất cái chân thực mà ham mê cái giả dối. Mắt người vụ sắc đẹp, tai người vụ âm thanh, miệng người vụ vị ngon, mũi người vụ mùi thơm, đó là ham muốn. Người tầm thường và mê lầm thì không biết rằng 5 sắc loạn mắt, 5 thanh loạn tai, 5 vị làm dơ miệng, 5 mùi làm ngạt mũi; nên họ bất chấp tính mệnh mà trành giành các thứ đó, lừa dối nhau, không chỗ nào không tới. Kẻ lụy vì lợi dày sẽ đem thân chết vì lợi; kẻ lụy vì danh cao sẽ đem thân chết vì danh; giống như Bá Di và Đạo Chích – người chết vì danh, kẻ chết vì lợi – tức đều là vì danh và lợi mà nảy sinh dục vọng. Danh lợi như cái nóng sinh ra lửa, được chúng thì vui; danh lợi như cái lạnh làm đóng băng, mất chúng thì lo buồn; họ không thể làm chủ được tâm, đến nỗi rối tâm loạn trí, kiêu căng phóng túng, không kiềm chế được; giống như lấy viên ngọc châu cực quý làm đạn bắn con chim sẻ bay cao mấy ngàn thước. Đó chẳng phải là sai lầm sao! Thánh nhân thì khác. Ngài không vụ lợi, không tránh hại, biết lợi và hại cùng nguồn gốc; không lấy sự thông đạt làm vinh, không lấy sự khốn cùng làm nhục, xem khốn cùng và thông đạt như nhau. Ngài không khởi tâm vì dục vọng và tư lự, một tí xíu cũng không bị rối loạn; nội tâm luôn thanh tĩnh sáng láng, không dao động vì ngoại vật; cảm ứng mà thông đạt. Tâm ngài an định và đáp ứng được, tĩnh mà không có chỗ trở ngại, không kết dính vào tĩnh; động mà không có chỗ truy đuổi, không trôi theo động. Vạn vật trước mắt thánh nhân dù biến hoá muôn phương cũng không thể xâm nhập vào nội tâm (linh đài) của ngài, như vậy chẳng có gì nhiễu loạn ngài được.
251. Manh vu tâm giả, danh viết hành nghiệp, hành nghiệp sở tháo, danh viết thiện ác, cố túng dục vi ác, tức tham vi thiện. Thiện giả, năng vi tế tục xuất trần chi ích; ác giả, tất tác bại đức nhiễm uế chi tư. Cố thánh nhân tri vô hình nhi dụng giả, tâm dã; hình bất tự vận giả, thân dã. Nhiên tâm bất ký vu thân tắc bất năng hiển năng bị dụng, thân bất tạ vu tâm tắc vong diệt bất khởi. Cố thân tâm thể dị nhi lý phù, trí dụng vạn thiện nhi thú nhất. Cố năng biểu lý vi dụng, động tĩnh tương trì. Thân vô độc tại, vi tâm sở sử, tâm bất thị tĩnh, duy dục phan duyên. Thân lượng vô nhai, nạp hành bất tức. Cố tâm vi phàm thánh chi căn, thân vi khổ lạc chi tụ. Thánh nhân tri hoạn sin vu tâm, khiên tất do kỷ, thị dĩ thanh tâm trừ hoạn, khiết chí tiêu khiên. Phàm dục chi lưu, kỳ tức bất nhiên, tứ tình túng dục, bất tri dục xuất vu tâm; vũ mạn căng xa, bất tri mạn sinh vu kỷ. [Vân Cấp Thất Thiêm, Chúng Chân Ngữ Lục]
萌于心者,名曰行業,行業所操,名曰善惡,故縱欲為惡,息貪為善。善者,能為濟俗出塵之益;惡者,必作敗德染穢之資。故聖人知無形用者,心也;形不自運者,身也。然心不記于身則不能顯能備用,身不藉于心則亡滅不起。故身心体異而理符,致用萬善而趣一。故能表里為用,動靜相持。身無獨在,為心所使,心不示靜,惟欲攀緣。身量無涯,納行不息。故心為凡聖之根,身為苦樂之聚。聖人知患生于心,愆必由己,是以清心除患,潔志消愆。凡欲之流,其即不然,肆情縱欲,不知欲出于心;侮慢矜奢,不知慢生于己。《雲笈七簽眾真語錄》
【Dịch】Cái từ trong tâm manh động phát ra thì gọi là tạo nghiệp, cái chi phối sự tạo nghiệp gọi là thiện ác. Cho nên phóng túng dục vọng là ác, đình chỉ tham lam là thiện. Điều thiện là ích lợi cứu giúp người đời và siêu thoát thế tục. Điều ác là tạo tác bại hoại đức hạnh và tiêm nhiễm cái xấu. Cho nên thánh nhân hiểu rõ một thứ tuy vô hình nhưng công dụng rất lớn, đó là tâm; và cũng hiểu rõ một thứ hữu hình nhưng không tự vận động được, đó là thân. Tất nhiên nếu tâm không gởi vào thân thì không thể hiện mọi công dụng; và thân nếu không nương nhờ tâm thì sẽdiệt vong, không khởi động được. Cho nên tâm và thân tuy thể khác nhau nhưng lý thì phù hợp, có thể tận dụng mọi điều tốt để hướng đến một mục tiêu. Do đó ngoài và trong hỗ tương tác dụng, động và tĩnh cùng phối hợp nhau. Thân không thể độc lập tồn tại, mà nó do tâm sai khiến. Tâm không an tĩnh là do dục vọng gây ra. Sức chịu đựng của thân thì vô hạn mà hành vi tạo tác thì không ngưng. Cho nên tâm là căn bản của phàm và thánh. Thân là chỗ hội tụ của khổ và sướng. Thánh nhân hiểu hoạ hoạn do tâm mà phát sinh, lỗi lầm là do bản thân tạo tác. Do đó thanh trừng tâm thì trừ được họa hoạn; làm thuần khiết ý chí thì hết lỗi lầm. Bọn người tầm thường thì không thế; họ phóng túng tình dục, không biết dục vọng phát sinh do tâm; họ kiêu căng ngạo mạn, không biết sự ngạo mạn là do bản thân tạo tác.
252. Tương dục hấp chi, tất cố trương chi. Tương dục nhược chi, tất cố cường chi. Tương dục phế chi, tất cố hưng chi. Tương dục đoạt chi, tất cố dữ chi. Thị vị vi minh, nhu nhược thắng cương cường. [Đạo Đức Kinh, chương 36]
將欲歙之,必固張之﹔將欲弱之,必固強之﹔將欲廢之,必固興之﹔將欲奪之,必固與之。是謂微明。柔弱勝剛強。《道德經 • 第三十六章》
【Dịch】Muốn nó co lại, tất phải giương nó thẳng. Muốn nó yếu, tất phải làm nó mạnh lên. Muốn phế bỏ nó đi, tất phải làm cho hưng vượng. Muốn đoạt nó cái gì, tất phải cho nó cái khác. Thế gọi là «làm cho cái sáng trở nên tế vi».
253. Phản giả Đạo chi động. Nhược giả Đạo chi dụng. [Đạo Đức Kinh, chương 40]
反者道之動﹔弱者道之用。《道德經 • 第四十章》
【Dịch】Trở lại là cái động của đạo. Yếu đuối là cái dụng của đạo.
254. Nhân chi sinh dã nhu nhược, kỳ tử dã kiên cường. Vạn vật thảo mộc chi sinh dã nhu thúy kỳ tử dã khô cảo. Cố kiên cường giả, tử chi đồ, nhu nhược giả sinh chi đồ. Thị dĩ binh cường tắc bất thắng, mộc cường tắc chiết. Cố kiên cường xử hạ, nhu nhược xử thượng. [Đạo Đức Kinh, chương 76]
人之生也柔弱,其死也堅強。萬物草木之生也柔脆,其死也枯槁。故堅強者死之徒,柔弱者生之徒。是以兵強則不勝,木強則折,強大處下,柔弱處上。《道德經 • 第七十六章》
【Dịch】Khi sống [thể chất] người ta mềm yếu; lúc chết thì [thi thể] cứng đơ. Vạn vật và thảo mộc khi sống thì mềm yếu; lúc chết thì khô héo. Cho nên cứng mạnh cùng một bọn với chết; mềm yếu cùng một bọn với sống. Thế nên, quân đội mạnh thì không thể thủ thắng; cây khoẻ thì phải bị búa rìu đốn; cái cứng mạnh chiếm địa vị thấp hơn; cái nhu nhược chiếm địa vị cao hơn.
255. Thiên hạ mạc nhu nhược ư thủy, nhi công kiên cường giả mạc chi năng thắng, dĩ kỳ vô dĩ dịch chi. Nhu thắng cương, nhược thắng cường. Thiên hạ mạc bất tri, mạc năng hành. [Đạo Đức Kinh, chương 78]
天下莫柔弱於水,而功堅強者莫之能勝,以其無以易之。柔勝剛,弱勝強,天下莫不知 ,莫能行。《道德經 • 第七十八章》
【Dịch】Trên đời chẳng có gì mềm yếu bằng nước. Để công phá cái cứng mạnh thì chẳng gì hơn nước. Đó là vì không có cái gì thay thế nó được. Ai cũng biết yếu thắng mạnh, mềm thắng cứng; nhưng chẳng ai biết thi hành điều đó.
256. Chuyên khí trí nhu, năng anh nhi hồ? [Đạo Đức Kinh, chương 10]
專氣致柔,能如嬰兒乎?《道德經 • 第十章》
【Dịch】Luyện khí một cách chuyên nhất thân hình sẽ mềm mại. Ngươi có thể [tập luyện để thân xác và tinh thần] giống như trẻ thơ không?
257. Thiên hạ hữu thường thắng chi đạo, hữu thường bất thắng chi đạo. Thường thắng chi đạo viết nhu; thường bất thắng chi đạo viết cường. Nhị giả dị tri, nhi nhân vị chi tri. Cố thượng cổ chi ngôn: Cường, tiên bất kỷ nhược giả; nhu, tiên xuất vu kỷ giả. Tiên bất kỷ nhược giả, chí vu nhược kỷ, tắc đãi hĩ. Tiên xuất vu kỷ giả, vong sở đãi hĩ. Dĩ thử thắng nhất thân nhược đồ, dĩ thử nhậm thiên hạ nhược đồ, vị bất thắng nhi tự thắng, bất nhậm nhi tự nhậm dã. [Liệt Tử, Hoàng Đế]
天下有常勝之道,有常不勝之道。常勝之道曰柔;常不勝之道曰強。二者易知,而人未之知。故上古﹕強,先不己若者;柔,先出于己者。先不己若者,至于若己,則殆矣。先出于己者,亡所殆矣。以此勝一身若徒,以此任天下若徒,謂不勝而自勝,不任而自任也。《列子 • 黃帝》
【Dịch】Thiên hạ có cách thức luôn chiến thắng và cách thức luôn chiến bại. Hai cách thức này rất dễ biết thế mà người ta không hề biết. Cho nên lời xưa có nói: mạnh là kẻ chiến thắng người không bằng mình; yếu là kẻ tự thắng mình. Kẻ chiến thắng người không bằng mình, đến khi gặp đối thủ hơn mình, ắt sẽ bị nguy hiểm. Kẻ tự thắng mình, không bị nguy hiểm gì; lấy lý lẽ đó để tự thắng bản thân và ứng phó với thiên hạ. Thế gọi là không cố ý thắng mà tự nhiên thắng; không cố ý ứng phó mà tự nhiên ứng phó được.
258. Thiên hạ hữu thường thắng chi đạo, hữu bất thường thắng chi đạo. Thường thắng chi đạo tại nhu, bất thường thắng chi đạo tại cương. Duy phù thường thắng chi đạo tại nhu, thử cổ chi bác đại chân nhân tất dĩ nọa nhược khiêm hạ vi biểu dã. Dĩ nọa nhược khiêm hạ vi biểu, tắc dĩ thâm vi căn, tất sự bất kiên, dĩ kiên tắc hủy cố dã. [Đạo Tạng, Đạo Đức Chân Kinh Sớ Nghĩa]
天下有常勝之道,有不常勝之道。常勝之道在柔,不常勝之道在剛。惟夫常勝之道在柔,此古之博大真人必以懦弱謙下為表也。以懦弱為表,則以深為根,必事不堅,以堅則毀故也。《道藏道德真經疏義》
【Dịch】Thiên hạ có cách thức luôn chiến thắng và cách thức luôn chiến bại. Cách thức luôn chiến thắng nằm ở sự mềm mại; cách thức luôn chiến bại nằm ở sự mạnh mẽ. Chính vì cách thức luôn chiến thắng nằm ở sự mềm mại, cho nên các bậc chân nhân minh triết thuở xưa luôn tỏ ra dáng vẻ mềm yếu và khiêm hạ. Tỏ ra dáng vẻ mềm yếu và khiêm hạ là lấy sự thâm sâu làm gốc, tức là sự việc không nên kiên cường vì kiên cường dẫn đến hủy diệt.
259. Tự sự ngôn chi, cương cường túc dĩ thắng nhu nhược; tự đạo ngôn chi, nhu nhược túc dĩ thắng cương cường. Tích vu nhu tắc cương; tích vu nhược tắc cường. Dục cương tất dĩ nhu thủ chi, dục cường tất dĩ nhược bảo chi. Nhu chi thắng cương, nhược chi thắng cường, kỳ đắc thường thắng chi đạo dư! [Đạo Tạng, Đạo Đức Chân Kinh Sớ Nghĩa]
自事言之,剛強足以勝柔弱;自道言之,柔弱足以勝剛強。積于柔則剛;積于弱則強。欲剛必以柔守之,欲強必以弱保之。柔勝之剛,弱之勝強,其得常勝之道歟?《道藏道德真經疏義》
【Dịch】Về phương diện sự việc, cứng mạnh thắng mềm yếu; về phương diện đạo, mềm yếu thắng cứng mạnh. Mềm được chất chứa lâu ngày sẽ thành cứng; yếu được chất chứa lâu ngày sẽ thành mạnh. Muốn cứng, tất phải giữ lấy mềm; muốn mạnh tất phải bảo hộ yếu. Mềm thắng cứng và yếu thắng mạnh, đó là cái đạo để luôn đắc thắng vậy.
260. Tính chi hư dã, hữu dĩ nạp thiên hạ chi chí biến; hình chi vô dã, hữu dĩ địch thiên hạ chi chí đại, đạm túc vạn vật bất dĩ vi hữu, sung tắc tứ hải bất dĩ vi doanh, cơ chất tuy tiểu nhi thiên hạ mạc năng thần, vạn vật quy chi nhi bất vi kỳ chủ. Thử đạo chi nhu nhược, thục khả thắng tai? Sĩ đạo giả ninh bất ty dĩ tự xử, hoà nhi tự nhược, hựu doanh dĩ đãi kỷ, thường khiêm dĩ phụng nhân, hữu công nhi bất hữu, hữu năng nhi bất thị, bất tranh yên nhi thiên hạ dĩ vi tiên, bất căng yên nhi thiên hạ dĩ vi năng, thử sĩ đạo chi nhu nhược diệc bất khả thắng hĩ. Phản dĩ đại nhi khuất tiểu, cao nhi nhục ty, cầu vi cương cường dĩ thắng nhu nhược, thử cái bất tri đạo dã. [Đạo Tạng, Đạo Đức Chân Kinh Giải]
性之虛也,有以納天下之至變;形之無也,有以敵天下之至大,澹足萬物不以為有,充塞四海不以為盈,基質雖小而天下莫能臣,萬物歸之而不為其主,道之柔弱,孰可勝哉?仕道者寧不卑以自處,和而自弱,又盈以待己,常謙以奉人,有功而不有,有能而不恃,不爭焉而天下以為先,不矜焉而天下以為能,此仕道之柔弱亦不可勝矣。反以大而屈小,高而辱卑,求為剛強以勝柔弱,此蓋不知道也。《道藏 • 道德真經解》
【Dịch】Sự không hư của bản tính có thể dung chứa được mọi biến hoá kịch liệt của thiên hạ. Cái vô hình đó có thể đương đầu với cái cực đại của thiên hạ; nó làm cho vạn vật sung túc nhưng không xem là mình có được; lấp đầy bốn biển nhưng không xem là mình đã làm đầy. Bản chất tuy nhỏ nhưng nó không lệ thuộc thiên hạ; vạn vật quy tụ về nó nhưng nó không xem mình là chủ. Đó là sự mềm yếu của đạo. Ai có thể thắng được nào? Kẻ học đạo thà lấy cái không thấp thỏi để tự xử mình, nhưng đối với người thì tỏ ra hoà ái nhu nhược; lấy cái tràn đầy để tự đòi hỏi nơi mình, nhưng đối đãi kẻ khác thì tỏ ra khiêm hạ; có công lao nhưng không tự cho là có; có tài năng nhưng không ỷ mình tài; không tranh với ai nên được thiên hạ tôn kính là bậc trên; không kiêu căng nên được thiên hạ xem trọng là nhân tài. Cái nhu nhược của kẻ học đạo không ai có thể thắng được. Trái lại, ai ỷ lớn hiếp nhỏ, cậy cao khinh thấp, mong cầu cứng mạnh để thắng người, đều là những kẻ không hiểu đạo.
261. Thánh nhân chi khuất giả, dĩ cầu thân dã, uổng giả, dĩ cầu trực dã. Cố tuy xử tà tịch chi đạo, hành u muội chi đồ, tương dục hưng đại đạo, thành đại công. [Hoài Nam Tử, Thái Tộc]
聖人之屈者,以求伸也,枉者,以求直也。故雖處邪辟之道,行幽昧之途,將欲以興大道,成大功。《淮南子 • 泰族》
【Dịch】Thánh nhân co lại là mong duỗi ra; gấp cong lại là mong thẳng ra. Cho nên tuy ở chỗ ngược ngạo không chính đáng và đi trên đường tối tăm mà lòng vẫn hằng mong chấn hưng đại đạo và hoàn thành đại công.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)