Thứ Sáu, 18 tháng 11, 2016

CÁC PHƯƠNG PHÁP GIÚP TĂNG TRÍ NHỚ HIỆU QUẢ

Trí nhớ song hành cùng ta suốt cả cuộc đời, được con người sử dụng thường xuyên nhưng lại ít được chăm sóc đến. Dưới đây là một số phương pháp giúp tăng cường trí nhớ hiệu quả.
Tập thể dục
Các nhà khoa học cho biết tập thể dục thường xuyên sẽ thúc đẩy quá trình sản sinh các nơron thần kinh mới tại vùng não trung tâm, là vùng não kiểm soát chức năng ghi nhớ và chức năng nhận thức của con người; giúp cải thiện quá trình máu lưu thông lên não, phục hồi đáng kể chức năng ghi nhớ của não bộ.


Tập thể dục giúp cải thiện đáng kể chức năng ghi nhớ của não bộ
Những môn thể dục có thể thực hiện hàng ngày dễ dàng, vừa phải được nhiều người yêu thích là đi bộ nhanh, bơi lội, tập yoga… Mỗi ngày, mỗi người, đặc biệt là người cao tuổi nên dành một thời lượng nhất định, khoảng 30-45 phút để thực hiện các hoạt động thể dục vừa tăng cường sức khỏe vừa khắc phục chứng suy giảm trí nhớ.
Ngoài ra, mỗi người cũng nên có chế độ làm việc, nghỉ ngơi và thư giãn hợp lý, tránh bị rơi vào trạng thái căng thẳng, lo lắng, mất ngủ thường xuyên hoặc phiền muộn sẽ thúc đẩy quá trình suy giảm trí nhớ diễn ra nhanh hơn.
Dùng thực phẩm
Não lợn: Theo thuyết “dĩ tạng bổ tạng” (lấy tạng bổ tạng) của Y học cổ truyền, não lợn vị ngọt, tính bình, có công dụng ích thận bổ não, bổ cốt tủy, được dùng để chữa các chứng tâm căn suy nhược (suy nhược thần kinh), kiện vong (hay quên), huyễn vựng (chóng mặt hoa mắt)... Thường dùng dưới dạng hấp cách thủy ăn đơn thuần hoặc phối hợp với kỷ tử và hoài sơn. Não lợn có giá trị dinh dưỡng cao, đặc biệt chứa rất nhiều cholesterol cho nên những người bị rối loạn lipid máu, xơ vữa động mạch khi dùng cần có sự tư vấn của thầy thuốc.
Trứng chim bồ câu: Vị ngọt, tính bình, có công dụng bổ thận dưỡng tâm, thường được dùng làm thức ăn cho những người mất ngủ hay quên, đầu choáng mắt hoa, tai ù tai điếc, lưng đau gối mỏi... do tâm thận hư yếu. Cổ nhân có câu: “Tâm tri tương lai, thận tàng dĩ vãng”, vậy nên bồi bổ 2 tạng tâm và thận có tác dụng trực tiếp đến việc cải thiện khả năng ghi nhớ. Dân gian thường dùng trứng chim câu 5 quả, long nhãn 15g, kỷ tử 15g và đường phèn 25g hấp cách thủy, ăn mỗi ngày 2 lần để chữa chứng hay quên.
Trứng chim cút: Vị ngọt, tính bình, có công dụng bổ ích khí huyết, kiện não ích trí. Với giá trị dinh dưỡng rất cao vượt xa so với các loại trứng gia cầm khác, đặc biệt có chứa nhiều leucithin, trứng chim cút là một trong những loại thực phẩm rất hữu ích cho não bộ. Thường được dùng dưới dạng luộc ăn mỗi ngày vài quả, kho thịt, nấu canh bóng hoặc làm nhân bánh bao.
Mật ong: Vị ngọt, tính bình, có công dụng bổ hư, nhuận táo, giải độc, được mệnh danh là “tinh của trăm hoa”. Mật ong rất giàu chất dinh dưỡng, trong đó đặc biệt là có chứa nhiều loại men, acid amin, các vitamin và nguyên tố vi lượng rất cần thiết cho hoạt động của hệ thần kinh trung ương, qua đó cải thiện khả năng ghi nhớ. Dược thư cổ Thực vật bản thảo đã viết: “Phong mật, cửu phục cường chí khí, khinh thân, bất cơ bất lão, diên niên thần tiên” (Uống mật ong lâu ngày sẽ làm mạnh mẽ thần trí, thân thể nhẹ nhàng, không đói không già, sống lâu như thần tiên). Có nhiều cách dùng, nhưng đơn giản nhất là đều đặn mỗi tối uống 2 thìa cà phê mật ong trước khi đi ngủ.
Đông trùng hạ thảo : Vị ngọt, tính ấm, có công dụng bổ hư tổn, ích tinh huyết, là một trong những vị thuốc - thực phẩm nổi tiếng của Y học cổ truyền, sánh ngang với nhân sâm và nhung hươu, thường được dùng để chữa chứng “kiện vong” do thận hư.
Tác dụng dược lý của đông trùng hạ thảo hết sức phong phú, trong đó có tác dụng trấn tĩnh, tăng cường sức chú ý và nâng cao năng lực ghi nhớ. Có thể dùng dưới dạng thô hoặc dạng đã bào chế như: viên nang, thuốc nước, thuốc bột... Khi dùng dưới dạng thô, người ta thường chế biến đông trùng hạ thảo thành các món ăn - bài thuốc cùng với thịt vịt, ba ba, tôm nõn, thịt lợn nạc..., tính ấm, có công dụng bổ thận cố tinh, ôn phế chỉ khái, ích khí dưỡng huyết, bổ não ích trí, nhuận tràng thông tiện. Hồ đào nhân có giá trị dinh dưỡng rất cao, cứ mỗi 100g có chứa 58-74g chất béo, chủ yếu là các acid béo không no, 18g chất đạm, 10g chất vô cơ, nhiều loại vitamin như: B1, B2, C, E... và các nguyên tố vi lượng như: Ca, P, Fe, Zn, Mg... một lượng lớn photpholipid và lysine rất cần cho cấu trúc và hoạt động của não bộ. Bởi vậy, hồ đào nhân là một trong những thực phẩm - vị thuốc rất có lợi cho việc cải thiện khả năng ghi nhớ. Cách dùng đơn giản là kiên trì ăn hàng ngày 1-2 trái hồ đào nhân hoặc dùng 30g hồ đào nhân nấu cháo ăn cùng với gạo tẻ.
Long nhãn: Vị ngọt, tính ấm, có công dụng ích tâm tỳ, bổ khí huyết, kiện não ích trí. Y thư cổ Khai bảo bản thảo cho rằng long nhãn có khả năng “quy tỳ nhi ích trí” (bổ tỳ mà có ích cho trí tuệ).
Sách Bản thảo cương mục cũng viết: “Long nhãn khai vị ích tỳ, bổ hư trường trí” (long nhãn kiện tỳ vị, bồi bổ hư nhược và làm khỏe tinh thần). Nghiên cứu hiện đại cho thấy, long nhãn có khả năng điều chỉnh hoạt động của vỏ não và cải thiện khả năng ghi nhớ. Để phòng chống tích cực chứng kiện vong, dân gian thường dùng long nhãn 500g, đường trắng 500g, nấu thành cao đặc, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 10-15 ml.
Nấm linh chi: Vị ngọt, tính bình, có công dụng dưỡng tâm an thần, ích khí bổ huyết, tư bổ cường tráng, kiện não ích trí, được mệnh danh là “tiên thảo” (cỏ tiên). Nghiên cứu lâm sàng hiện đại cho thấy, linh chi có khả năng hỗ trợ trị liệu rất tốt đối với những bệnh nhân tâm căn suy nhược (suy nhược thần kinh), thất miên (mất ngủ), kiện vong (hay quên)... do tâm tỳ hư nhược.
Thường được dùng dưới dạng linh chi thô 3-6g, hãm uống thay trà mỗi ngày 2 lần hoặc các dạng đã được bào chế như: viên nang, trà tan, cao lỏng, thuốc nước theo chỉ định của thầy thuốc.
Nhân sâm: Vị ngọt, tính ấm, có công dụng đại bổ nguyên khí, định tâm ích trí, là vị thuốc - thực phẩm đứng đầu trong nhóm dược liệu có công dụng bổ khí. Nghiên cứu hiện đại cho thấy, nhân sâm có khả năng cải thiện chuyển hóa của tổ chức não, hưng phấn và tăng cường tính linh hoạt của hệ thần kinh, nâng cao khả năng ghi nhớ. Bởi vậy, nhân sâm cũng là một trong những thực phẩm - thuốc rất hữu ích cho việc làm tăng trí nhớ, phòng chống suy nhược thần kinh và chứng hay quên do khí huyết suy nhược. Thường được dùng dưới nhiều dạng như: trà sâm, rượu sâm, viên nang, cao lỏng, món ăn - bài thuốc...
Liên nhục (hạt sen): Vị ngọt, tính bình, có công dụng bổ tỳ chỉ tả, ích thận cố tinh, dưỡng tâm an thần. Y thư cổ Thần nông bản thảo kinh viết: “Liên nhục, bổ trung, dưỡng thần, ích khí lực, trừ bách bệnh, cửu phục khinh thân nãi lão” (hạt sen bổ tỳ vị, có lợi cho thần khí, trừ được trăm bệnh, dùng lâu làm nhẹ người và kéo dài tuổi thọ). Thường được dùng dưới dạng chế biến thành các món ăn - bài thuốc như: mứt sen, chè hạt sen, cháo hạt sen...
Kỷ tử: Vị ngọt, tính bình, có công dụng tư bổ can thận, làm sáng mắt và nhuận tràng. Dân gian thường dùng kỷ tử để phòng chống chứng kiện vong và tăng cường trí nhớ bằng cách lấy kỷ tử 30g, não dê 1 bộ, đem hấp cách thủy ăn; hoặc lấy kỷ tử 10g, hoài sơn 30g, não lợn 1 bộ, hấp cách thủy ăn; hay kỷ tử 20g, hồng táo 6 quả, trứng gà 2 quả, tất cả đem nấu chín, sau đó bóc bỏ vỏ trứng rồi đun thêm 15 phút nữa là được, chế thêm gia vị ăn nóng, mỗi tuần 2 lần.
Ngoài ra, theo dinh dưỡng học cổ truyền, còn nhiều loại thực phẩm khác cũng có công dụng làm tăng trí nhớ như: ngô, bá tử nhân, đại táo, các loại đậu, tổ yến, ngân nhĩ, mộc nhĩ, bách hợp, lạc, khiếm thực, hoàng tinh, hoàng kỳ, nấm hương, nấm rơm, nấm kim châm và các loại nấm ăn khác, trứng gà, các loại cá...
Các phương pháp khác
1. Tạo ra những hình ảnh trong trí não
Khi một thông tin được tiếp nhận, bạn có thể tạo ra một bức tranh trí não về nó, đồng thời ghi âm lại bằng dạng ngôn ngữ nói. Một trong hai dạng phiên bản lưu giữ thông tin này có thể vượt trội hơn, tùy theo kiến thức của bạn về đối tượng. Chẳng hạn như khi nghe đến cái tên Tutankhamen, thì hình ảnh thể hiện qua ngôn ngữ nói mạnh hơn, nếu như bạn có một chút kiến thức về khảo cổ Ai Cập. Mặt khác, hình ảnh của Tổng thống Mỹ Feorge W.Bush sống động hơn là diễn đạt bằng lời nói.
Những hình ảnh trí não có thể được dùng theo chiến thuật sắp đặt có lợi cho trí nhớ, bằng cách tạo ra mối liên hệ giữa một vật thể và nơi chốn để kích hoạt trí nhớ của bạn về chính vật thể đó. Nếu như bạn thường xuyên để quên chìa khóa xe ở nhà, hãy cố liên kết nó với một nơi cố định, để lúc nào bạn cũng có thể thấy nó - chẳng hạn như chiếc bàn kê trong hành lang nhà, hoặc hộc tủ đựng ti vi trong phòng khách. Bạn cũng có thể áp dụng mẹo này để nhớ danh sách vật dụng, thức ăn cần mua sắm.
Hãy thực hiện một cuộc khảo sát bằng trí não khắp nhà, và tại từng nơi khác nhau, hãy cụ thể hóa bằng hình tượng cái mà bạn cần mua. Mối liên hệ càng giàu tính tưởng tượng, thì trí nhớ càng mạnh mẽ. Ví dụ: Để nhớ mua chai nước rửa chén, bạn hãy nghĩ đến chiếc bồn rửa trong nhà bếp.
2. “Chia để trị”
Một cách để áp đặt trật tự lên các thông tin cho dễ nhớ, dễ thuộc là chia thành từng nhóm. Ví dụ: Một số điện thoại di động bao gồm 10 con số: 0919507626 rất khó nhớ. Nhóm các con số thành từng cặp giúp bạn chỉ cần nhớ 5 yếu tố, đó là (0919) – 50 – 76 – 26.
Cũng tương tự như vậy, khi bạn cần nhớ nhiều chuỗi sự kiện, hãy bắt đầu bằng cách thành lập nhóm. Chẳng hạn như khi bạn phải liệt kê tên của các loại xương trong cơ thể, hãy nên bắt đầu từ xương sọ, rồi xương cổ, xương lưng, xương cánh tay v.v… còn hơn là nhớ chúng một cách lộn xộn. Cần phải chọn những tiêu chuẩn logic khi phân loại các thông tin bạn cần nhớ. Để tránh việc quên các món đồ trong danh sách đi mua hàng, bạn hãy chia chúng ra dựa theo vị trí xếp trên kệ ở cửa hàng. Và nhớ đừng để bị quá tải bởi quá nhiều tiêu chí phân loại. Các nghiên cứu về trí nhớ cho thấy: bạn sẽ nhớ nhiều hơn, nếu như bạn xếp các sự vật vào không quá 7 nhóm.
Nếu chỉ đơn giản là chia nhóm các thông tin, thì vẫn chưa hiệu quả, khi mà mỗi nhóm chứa quá nhiều yếu tố khác nhau. Bạn cần một phân lớp tổ chức, sắp xếp thông tin lần hai, chẳng hạn như theo thứ tự chữ cái, theo các tiêu chí phụ nhỏ hơn. Ví dụ: nhóm thực phẩm cần mua gồm có: Bí, Cà chua, Đậ đỏ…; nhóm vật dụng cần mua gồm có: Áo ấm, Bút chì, Com-pa v.v… (chia theo bảng chữ cái).
3. Liên kết các ký ức
Các thông tin mới nhận, muốn được lưu giữ, phải được chuyển hóa thành “ngôn ngữ nãobộ”, so sánh vớinhững thông tin khác trong ký ức, với phương thức vận hành giống như máy vi tính cập nhật các dữ liệu. Tiến trình này cho phép bạn thành lập mối liên kết giữa con người, vật thể, hình ảnh và ý tưởng có những điểm giống nhau, hoặc có cùng tính chất, qua đó mà tăng cường khả năng ghi nhớ tất cả. Ví dụ: để ghi nhớ ngày tháng của các sự kiện lịch sử, bạn có thể liên kết chúng với những ngày tháng có liên hệ với đời sống cá nhân, hoặc so sánh tương ứng với những con số thân thuộc về sức nặng và chiều cao của bạn.
4. Chiến thuật “bò gặm cỏ nhai lại”
Thông thường, chúng ta học thuộc một số thông tin nào đó để phục vụ cho nhu cầu gần trước mắt. Ví dụ: trước khi đi thi, thí sinh nào cũng cố nhồi nhét trong đầu một núi kiến thức. Tuy nhiên, kiểu học như vẹt không phải là cách tốt nhất để lưu trữ kiến thức về lâu về dài. Một khi “thời hạn nguy cấp” đã qua, ta cũng chẳng thèm bận tâm ôn lại những gì mình đã học. Quả vậy, nghiên cứu cho thấy chúng ta bắt đầu “quên ngay sau khi học”! Chỉ trong vòng vài giờ, ta không còn có thể nhắc lại 70-80% dung lượng thông tin một cách thông suốt dễ dàng. Để cài dữ liệu chắc chắn vào bộ nhớ, bạn cần tái khởi động ôn lại ngay. Với những dữ liệup hức tạp, thì nhắc đi nhắc lại vẫn là phương pháp củng cố đáng tin cậy nhất. Thông tin đã được nằm trong não sẽ được lấy ra, trả vào bộ nhớ, tạo cho nó “hạn sử dụng” lâu hơn.
Bạn có thể tăng cường khả năng lưu trữ lâu dài bằng cách học thuộc những dữ liệu đơn giản trước khi đi ngủ. Tuy nhiên, bạn phải nhắc lại thông tin ngay lập tức vào sáng hôm sau, lúc tỉnh dậy.
5. Hãy nói về nó
Điều này có thể xảy ra với bất cứ ai trong chúng ta: chúng ta đã xem một bộ phim, nhưng chỉ vài ngày sau là quên béng mất tên của bộ phim. Nhiều người đâm ra hoảng vì lo sợ mình đã bị “vấn đề” gì đó về trí nhớ rồi. Nhưng thật ra, chúng ta hãy khoan vội phóng đại nỗi lo lắng, mà hãy tự hỏi: liệu chúng ta có thật sự thích bộ phim ấy và thấy nó rất thú vị? Mong muốn luôn nhớ một điều gì là một thành tố co bản của việc lưu trữ thành công các dữ liệu. Nếu bạn xem phim chỉ để thư giãn, “giết” thời gian, thì quên nó là chuyện bình thường.
Kể cho ai đó nghe về một cuốn sách hay, câu chuyện hay là một cách thông minh để nhớ về nó. Việc nói ra miệng sẽ giúp cho các thông tin được “mã hóa” dễ dàng hơn, hoặc liên kết dễ dàng hơn với những thông tin đã có sẵn trong bộ nhớ. Sử dụng khả năng này, trí nhớ của bạn không những truyền đạt đi những thông tin, mà còn chuyển tải những cảm xúc đa dạng, phong phú - thật khác xa với kiểu trí nhớ của máy tính: chất chứa vô số những thông tin, nhưng lại thiếu những cảm xúc mang tính nhân bản.

Thứ Hai, 17 tháng 10, 2016

XEM NGƯỜI MỸ DẠY CON VỀ TIỀN BẠC VÀ LÀM GIÀU


Của cải không tốt bằng lao động, sự giàu có không tốt bằng việc tạo ra sự giàu có. Cả trong công việc và đời sống riêng tư hãy luôn ủng hộ các con chạy theo niềm đam mê của chính mình, cho dù công việc đó có mang lại nhiều tiền hay không.

Steven D. Hayworth, giám đốc điều hành của ngân hàng Gibraltar Private Bank and Trust, rất hạnh phúc khi nghe tin con gái mình sẽ làm việc trong một cửa hàng quần áo của phụ nữ trong kỳ nghỉ hè trước khi phải nhập học vào mùa thu.

Bản chất công việc không phải là điều làm Hayworth cảm thấy tự hào. Thay vào đó, ông muốn con của mình sẽ tìm thấy niềm vui từ lao động. Đặc biệt, Hayworth hy vọng cô con gái bé nhỏ sẽ học được cách “kết nối” giữa số tiền mà cô kiếm được bao nhiêu trong một ngày với cái mà cô dự định mua.

“Mẹ tôi – người có ảnh hưởng đến toàn bộ cuộc sống và sự thành công trong sự nghiệp – đã trao cho tôi một trong những bài học cuộc sống quý báu mà tôi học được từ rất sớm là giá trị của một đồng USD”, Hayworth cho biết.

“Riêng đối với con trẻ được sinh ra tại các gia đình trung lưu và giàu có, họ sẽ ít biết được quan điểm về giá trị đồng tiền. Lái một chiếc xe hạng sang Range Rover trên đường cao tốc là chuyện dễ nhưng cái quan trọng là bạn phải biết được mất bao nhiều giờ làm việc chăm chỉ để có thể sỡ hữu chiếc xe đó”.

Nhất quan hệ, nhì tiền tệ. Giống như thế hệ giàu có thứ hai hay những cậu ấm cô chiêu, con gái của Hayworth sẽ không phải lo lắng nếu không thể tìm được một công việc. Cô có thể đã trải qua mùa hè bên bể bơi bởi cha mẹ cô hoàn toàn có thể lo học phí học đại học.

Nhưng thực tế, điều không chỉ khiến CEO của ngân hàng Bank and Trust lo lắng mà nhiều bậc phụ huynh giàu có khác cũng phải suy nghĩ là làm sao để con cái lao động kiếm tiền. Suy thoái kinh tế và thị trường việc làm đầy cạnh tranh khiến họ bắt buộc phải dạy cho con cái của mình về giá trị từ lao động. Họ lo lắng về điều đó, có vẻ còn hơn bất cứ những vấn đề trong công việc của mình.

Mối quan tâm chung nhất của tất cả các bậc phu huynh trên toàn cầu là như nhau: Làm thế nào để con trẻ hiểu được giá trị của đồng tiền từ lao động?


Quy tắc trong nhà


Brad Klontz, một nhà tâm lý tài chính và đồng tác giả của cuốn “Mind Over Money”, cho biết nguồn gốc để thiết lập nền tảng nhận thức về tài chính cho con trẻ là cha mẹ nên đưa ra những quy tắc cho chúng. Nếu không có quy tắc, con trẻ sẽ có nguy cơ gặp những lỗ hổng về tài chính cá nhân.

“Cha mẹ cần giúp con trẻ nhận thức được ý nghĩa của những khoản chi phí”, Joline Godfrey, CEO của Independent Means, một công ty về giáo dục tài chính cho biết. “Bạn không thể mong đợi con trẻ đi ra ngoài thế giới và có thể tự lập nếu như chúng không biết hóa đơn điện là cái gì”.


Sự giúp đỡ tồi


Cha mẹ thường có ý tốt khi họ cố gắng giúp con cái về mặt tài chính với hi vọng chúng sẽ gặp nhiều điều suôn sẻ hoặc có một cuộc sống tốt hơn so với mình trước kia. Nhưng hỗ trợ tài chính quá nhiều có thể làm hại con trẻ.

Đây không chỉ là vấn đề đối với con trẻ đến tuổi học đại học. “Trước khi là sinh viên, những chương trình có sẵn như việc học hè khiến con trẻ không có thời gian để hòa nhập vào môi trường và cộng đồng mới ngoài nhà trường. Từ đó, con trẻ không có đủ thời gian để có được một công việc”, Debbie Cox, giám đốc quản lý tại J.P.Morgan Private Bank cho biết.

Bên cạnh sự giáo dục từ phía nhà trường, cha mẹ cần trang bị những kiến thức xã hội và giáo dục tài chính cho con trẻ. Những công việc vào mùa hè có thể là điều tốt cho việc cải thiện giáo dục xã hội ở con trẻ.

“Trẻ cần phải tìm hiểu cái mà chúng thích để thức dậy vào mỗi buổi sáng, nhận được công việc đó để ý thức được việc giúp đỡ người khác hoặc cộng đồng”, Cox cho biết.

Một nhược điểm của bậc phụ huynh là cha mẹ thường có xu hướng quyết định, can thiệp và giải quyết vấn đề của con cái. Todd M. Morgan, giám đốc điều hành cấp cao tại quỹ đầu tư Bel Air Investment Advisors có trụ sở ở Los Angeles cho biết, “Đừng can thiệp để sữa chữa hoặc thay đổi cuộc sống và vấn đề của con trẻ trừ khi bạn được mời để làm việc đó”.

Cũng là bậc phụ huynh, Morgan cũng thừa nhận một vài sai lầm mà ông chia sẻ rằng, “Đừng làm cho con trẻ cảm thấy mình bất lực. Thay vào đó, trao quyền cho bọn trẻ để cúng tự quyết định những vấn đề của bản thân”.


Hỗ trợ vừa đủ


Cách đúng nhất để giúp con trẻ đang gặp khó khăn để tìm kiếm một công việc hay nghề nghiệp là gì?

Bà Godfrey, một chuyên viên về giáo dục tài chính cho rằng cha mẹ không cần phải trợ cấp quá nhiều cho con trẻ, thay váo đó đặt niềm tin và ủng hộ những gì chúng làm.

Điều này có nghĩa là cha mẹ và con trẻ cần ngồi xuống thảo luận về những kỳ vọng và mục tiêu. Nếu sự giúp đỡ về tài chính là cần thiết, số tiền chỉ cần vừa đủ và phải được giải thích.

Như tỷ phú giàu thứ 3 thế giới Warren Buffett từng nói rằng “Hãy cho chúng (các con) vừa đủ để chúng có thể làm bất cứ điều gì chúng muốn, nhưng không quá nhiều để chúng chẳng muốn làm gì cả.”

Điều này nghe có vẻ kinh ngạc. Nhưng hãy cổ vũ các con làm theo thần tượng mà chúng ngưỡng mộ và không nên trách cứ trước thất bại của chúng. Cả trong công việc và đời sống riêng tư hãy luôn ủng hộ các con chạy theo niềm đam mê của chính mình, cho dù công vệc đó có mang lại nhiều tiền hay không.

Hãy để con trẻ tìm thấy niềm vui từ sự lao động. “Vào một ngày mà bạn đã đứng rất lâu khiến chân bị đau để bán hàng, bạn sẽ nhận ra rất nhiều điều. Bạn kiếm tổng cộng 80 USD và mang về nhà 60 USD. Sau đó, bạn sẽ tính toán rằng 5 lần của 60 là 300 và một căn hộ cho thuê có giá là 800USD/tháng. Đó là những bước khởi đầu để suy nghĩ thực sự nghiêm túc về năng lực của tài chính”, Godfrey cho biết.

Thứ Tư, 17 tháng 8, 2016

Luật Nhân Quả

Nếu bạn hiểu rõ mọi khía cạnh chi tiết của luật nhân quả thì bạn được gọi là người có trí tuệ thông suốt mọi việc. Kiến thức thông thường của chúng ta không thể thấu triệt đầy đủ về luật nhân quả. Muốn sống đúng theo luật nhân quả mà đức Phật đã dạy, chúng ta cần tin tưởng vào giáo lý của Ngài.

Khi Ngài dạy sát sinh dẫn đến chịu sự đoản mệnh, trộm cắp phải gặp cảnh nghèo túng, thực sự không có cách nào để chứng minh được những lời Ngài nói là đúng với thực tại.

Mục đích cuối cùng của những người thực hành theo Phật giáo là đạt đến quả vị hoàn toàn giác ngộ và thấu suốt mọi sự vật của một đức Phật. Phương tiện chúng ta nương vào để tu tập là cái thân người này với một tâm hồn thanh tịnh.

Hầu hết chúng ta sống một cuộc đời tương đối như những con người lành mạnh. Thật vậy, theo lời đức Phật dạy trong các kinh điển có được thân người hôm nay là một phước duyên thù thắng và vô cùng quí báu. Ðó là kết quả của vô lượng công đức trải qua nhiều kiếp tu hành của chúng ta. Mỗi cá nhân đã nỗ lực tinh tấn tu hành mới có được cái thân người này.

Tại sao nó quý báu như vậy? Bởi lẻ thân người giúp chúng ta có nhiều thuận duyên tu tập phát triển đời sống đạo đức hầu mưu tìm hạnh phúc cho chúng ta và những người khác. Loài vật không có khả năng thực hành đạo đức như con người vì chúng đang sống trong cõi vô minh.

Cho nên chúng ta nên biết quý trọng cái thân người nầy và cố gắng bằng mọi cách tinh tấn tu hành để mong được tái sinh làm thân người ở kiếp sau. Mặc dù chúng ta luôn mong ước đạt được sự giác ngộ hoàn toàn, chúng ta nên biết rằng con đường tu hành để thành Phật là rất dài mà chúng ta muốn thành tựu cần phải trải qua các khoảng thời gian ngắn để chuẩn bị tu tập.

Như chúng ta đã biết để bảo đảm được tái sanh làm người với đầy đủ khả năng có thể theo đuổi con đường tu tập, hành giả trước tiên phải áp dụng thực hành đạo đức. Ðiều này, theo giáo lý đức Phật, có nghĩa là con người cần tránh, không làm mười điều ác. Sự khổ gây ra do mỗi việc làm ác này, có nhiều mức độ khác nhau. Ðể đưa ra những lý do cho chính bản thân mình cần tránh các hành động bất thiện đó, chúng ta phải hiểu rỏ về luật Nhân Quả.

“Nghiệp” hay “Karma” có nghĩa là “hành động” nhằm chỉ một việc làm chúng ta tham dự vào cũng như hậu quả của nó. Khi chúng ta nói hành vi sát hại thì chính tác động đó sẽ dẫn đến việc cướp đi mạng sống của một người. Kết quả tai hại hơn của hành động giết người này là gây đau khổ cho nạn nhân cũng như nhiều người thân yêu của họ.

Nghiệp nhân của việc làm ác đó còn gây ảnh hưởng xấu đến kẻ sát nhân. Những quả báo này không chỉ giới hạn trong cuộc đời hiện tại mà thôi. Thực ra kết quả của một hành vi bất thiện sẽ phát triển theo thời gian, cho nên sự thiếu từ tâm nơi kẻ sát nhân tàn bạo hủy diệt mạng sống con người nói trên được khởi đầu từ cuộc đời quá khứ của hắn đã từng xem nhẹ mạng sống mọi người cũng như loài vật và côn trùng.

Một tên sát nhân không chắc sẽ được tái sinh làm người ở kiếp sau. Những hoàn cảnh dẫn đến việc giết người sẽ quyết định quả báo khốc liệt mà kẻ sát nhân sẽ phải gánh chịu. Một tên giết người man rợ, vui sướng khi phạm tội ác, có lẽ sẽ được tái sinh trong một thế giới mà ta gọi là “Ðịa Ngục”. Một trường hợp kém tàn ác hơn – ví dụ giết người vì tự vệ – có thể sẽ được tái sinh nơi “địa ngục” chịu ít đau khổ hơn. Những hành động thiếu đạo đức với hậu quả không nghiêm trọng lắm có thể khiến cho một người bị tái sinh làm con vật, thiếu khả năng tu tập cải thiện tâm hồn.

Khi một người được tái sinh làm người, các hậu quả của những hành vi bất thiện trong kiếp trước sẽ quyết định hoàn cảnh cuộc sống mới của người đó theo nhiều cách. Sát sinh nhiều trong đời trước thì kiếp này thọ mạng kẻ ấy sẽ ngắn ngủi hoặc thường hay bị ốm đau. Nó cũng hướng dẫn người đó có khuynh hướng giết chóc và chắc chắn họ sẽ chịu quả báo gặp nhiều khổ đau trong những kiếp tương lai.

Tương tự, đời trước hay trộm cắp thì kiếp này bị nghèo khổ hoặc bị trộm cướp. Nó cũng hướng dẫn kẻ ấy tiếp tục có ý tưởng trộm cắp trong nhiều đời sau. Hành động tà dâm hay ngoại tình dẫn đến hậu quả vợ chồng trong kiếp sau sẽ không tin cậy lẫn nhau và gặp cảnh khổ vì cuộc sống không chung thủy hay bị phản bội. Ðây là những quả báo của ba việc làm ác gây ra từ nơi thân của chúng ta.

Trong bốn hành động ác xuất phát từ khẩu nghiệp nơi miệng thì người hay nói dối dẫn đến kết quả là sống ở đời thường hay bị người ta nói xấu. Vọng ngữ cũng khiến kẻ đó có khuynh hướng tiếp tục nói dối ở kiếp sau, cũng như bị người ta lừa gạt hoặc mọi người sẽ không tin dù bạn nói sự thật.

Hậu quả ở kiếp sau của người nói lời gây chia rẽ là cuộc sống cô độc và khuynh hướng tạo mối bất hòa với mọi người. Lời nói cộc cằn thô lỗ dẫn đến sự lăng mạ, ngược đãi người khác và khiến họ sanh tâm giận dữ. Người có tật ngồi lê đôi mách đưa tới hậu quả đời sau khi nói sẽ không có ai nghe và thường hay nói những câu chuyện nhảm nhí.

Cuối cùng, quả báo của ba việc làm ác phát xuất từ ý nghiệp là gì? Sau đây là các tánh xấu bất thiện thông thường nhất của chúng ta. Lòng tham khiến chúng ta không bao giờ biết đủ và luôn luôn bất mãn. Ác tâm và sân giận mang lại cho chúng ta sự sợ hãi và dẫn chúng ta đến hành động làm hại những kẻ khác. Si mê là đặt niềm tin vào điều trái với sự thật, dẫn đến kết quả là chúng ta không thể hiểu biết, chấp nhận lẽ phải và ngoan cố bảo thủ, chấp chặt tà kiến.

Trên đây là một vài ví dụ cho thấy kết quả của các hành động bất thiện. Cuộc sống hiện tại của chúng ta là kết quả của cái Nghiệp (Karma), việc làm quá khứ của chúng ta. Hoàn cảnh tương lai, các điều kiện mà trong đó chúng ta sẽ tái sinh vào, những cơ hội mà chúng ta sẽ có hay không thể có được để tạo dựng một cuộc đời hạnh phúc tốt đẹp hơn sẽ tùy thuộc vào những hành động và việc làm hiện nay của chúng ta.

Mặc dù hoàn cảnh hiện tại của chúng ta được quyết định bởi những hành vi trong quá khứ, nhưng chúng ta vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hành động của chúng ta trong hiện tại. Chúng ta có khả năng và trách nhiệm để chọn lựa phương cách nhằm hướng dẫn mọi việc làm của chúng ta đi theo con đường đạo đức.

Khi chúng ta cân nhắc một hành động nào đó xem xét có hợp với đạo lý hay không, chúng ta nên tìm hiểu động cơ thúc đẩy của hành vi ấy. Một người lấy quyết định không trộm cắp, nếu anh ta chỉ vì sợ bị bắt hay trừng phạt bởi luật pháp, vậy thì hành động không trộm cắp của anh ta không phải là một việc làm đạo đức bởi lẽ những ý tưởng đạo đức không tác động lên quyết định của anh ta.

Một ví dụ khác, một người không dám trộm cắp vì sợ dư luận: “Nếu mình trộm cắp thì bạn bè hay hàng xóm sẽ nghĩ sao về mình? Chắc mọi người sẽ khinh bỉ và mình sẽ bị xã hội ruồng bỏ”. Mặc dù đó được xem như một quyết định tích cực nhưng nó vẫn không phải là một hành vi đạo đức.

Bây giờ, một người cũng có quyết định là sẽ không trộm cắp vì anh ta suy nghĩ rằng: “Nếu ta trộm cắp tức là ta đã hành động chống lại luật của trời đất và trái với đạo làm người:”. Hoặc là: “Trộm cắp là một việc làm ác, nó gây cho nhiều người khác bị tổn thất và đau khổ”. Với những động cơ suy nghĩ như vậy, quyết định của anh ta được xem như một hành vi đạo đức, hợp luân thường đạo lý. Theo giáo lý đức Phật, khi bạn suy nghĩ cân nhắc tránh không làm các hành động ác thì bạn sẽ khắc phục được những phiền não khổ đau. Sự kiềm chế đó của bạn được xem như một việc làm đạo đức.

Nếu bạn hiểu rõ mọi khía cạnh chi tiết của luật nhân quả thì bạn được gọi là người có trí tuệ thông suốt mọi việc. Kiến thức thông thường của chúng ta không thể thấu triệt đầy đủ về luật nhân quả. Muốn sống đúng theo luật nhân quả mà đức Phật đã dạy, chúng ta cần tin tưởng vào giáo lý của Ngài. Khi Ngài dạy sát sinh dẫn đến chịu sự đoản mệnh, trộm cắp phải gặp cảnh nghèo túng, thực sự không có cách nào để chứng minh được những lời Ngài nói là đúng với thực tại. Tuy nhiên, những điều đó chúng ta cũng không nên tin tưởng một cách mù quáng. Trước tiên chúng ta cần phải có một niềm tin mạnh mẽ nơi đức Phật và giáo lý của Ngài. Chúng ta nên dùng lý trí, tìm hiểu thấu đáo trước khi tin những lời dạy của đức Thế Tôn.

Bằng cách nghiên cứu những đề tài của Phật Pháp được thiết lập bởi những suy luận hợp lý – như những lời dạy của đức Phật về tánh không và vô thường của cuộc đời mà chúng ta sẽ khảo sát ở chương mười ba về “Trí Tuệ” – và nhận thấy rằng chúng thật sự là chính xác thì niềm tin của chúng ta nơi giáo lý về luật nhân quả – sẽ tự nhiên tăng lên.

Khi chúng ta muốn tiếp nhận một lời khuyên, chúng ta đi tìm gặp một người nào đó xứng đáng đề hướng dẫn giúp đỡ chúng ta. Lời khuyên của họ càng rõ ràng hợp lý, chúng ta càng quý trọng tin tưởng vào lời chỉ dẫn ấy. Nhằm phát triển: “đức tin sáng suốt”, đối với những lời dạy của đức Phật chúng ta cũng nên có sự tin tưởng như vậy.

Tôi tin rằng chúng ta cần phải có một ít kinh nghiệm và phấn khởi trong sự thực hành để có được một niềm tin sâu xa và thành khẩn trong lòng. Hình như có hai loại kinh nghiệm khác nhau. Với những người sùng đạo họ có những kinh nghiệm mà chúng ta không thể có được. Và có những kinh nghiệm thế tục mà chúng ta đạt được qua sự tu tập hằng ngày.

Chúng ta có thể phát triển nhận thức, hiểu biết về sự ngắn ngủi, tạm bợ và vô thường của cuộc đời. Chúng ta có thể nhận thấy bản chất tàn phá của những cảm xúc khổ đau. Chúng ta có thể có được lòng từ bi quảng đại đối với mọi người hoặc nhiều kiên nhẫn hơn khi chúng ta đứng xếp hàng chờ đợi.

Những kinh nghiệm thực tế như vậy mang lại cho chúng ta cảm giác của nguồn vui và sự mãn nguyện. Hơn nữa, niềm tin của chúng ta vào những lời giảng dạy mà chúng ta đã được nghe cũng tăng lên. Ðức tin của chúng ta vào bậc thầy của mình, người đã truyền cho chúng ta những kinh nghiệm này cũng được phát triển: Lòng tin vào học thuyết mà vị thầy của chúng ta đang theo đuổi sẽ được củng cố.

Từ những kinh nghiệm xác thực đó, chúng ta có thể tiên đoán rằng việc thường xuyên tu tập của chúng ta sẽ giúp chúng ta thành đạt những kết quả phi thường như các Thánh Nhân đã thực hiện lưu danh ngàn đời trong quá khứ.

Niềm tin sáng suốt như vậy có được do tinh thần tu tập của hành giả, sẽ giúp chúng ta củng cố lòng tin vào giáo lý Nhân Quả của đức Phật. Và điều này còn giúp chúng ta quyết tâm chừa bỏ không làm các việc ác mà chúng sẽ gây đau khổ cho chúng ta.

Niềm tin đó cũng hỗ trợ chúng ta cố gắng tập trung thiền định, thấu triệt đề mục chúng ta nghiên cứu, và sau cùng nhận biết rằng chúng ta có được trí tuệ này cũng như hiểu rõ tuệ giác đó xuất phát từ đâu. Sự phản chiếu ấy được xem như một phần trong quá trình tu tập thiền định của chúng ta. Nó giúp chúng ta củng cố đức tin vào ngôi Tam Bảo Phật, Pháp, Tăng và tinh tấn trong việc tu tập. Nó cũng giúp chúng ta có thêm nghị lực để tiếp tục dũng tiến trên đường đạo.



HẾT


*Văn bản này do một Phật tử cúng dường.

Thứ Tư, 10 tháng 8, 2016

Kinh nghiệm đăng bài báo Khoa học trên tạp chí quốc tế uy tín

Hướng dẫn của ĐHQGHN
Nơi đăng bài

Tóm tắt:

Nghiên cứu khoa học là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong trường đại học. Để đánh giá sản phẩm nghiên cứu khoa học của một trường đại học, một tiêu chí rất quan trọng là số lượng và chất lượng các bài báo từ đề tài nghiên cứu khoa học đăng tải trên các tạp chí khoa học quốc tế. Tuy nhiên, khoảng 90-97% số bài báo đăng trên tạp chí của các trường đại học là trên các tạp chí trong nước. Các nhà khoa học, nghiên cứu, đặc biệt là giảng viên các trường Đại học gặp rất nhiều khó khăn trong việc đăng bài trên các tạp chí khoa học quốc tế. Trong phạm vi bài viết này, các tác giả đưa ra một số kinh nghiệm để đăng bài báo khoa học trên tạp chí quốc tế uy tín.
1. Mở đầu
Trong buổi hội nhập toàn cầu, vấn đề thông tin khoa học quốc tế rất thiết thực và quan trọng đối với những nước đang phát triển như Việt Nam. Để tham gia được vào dòng thác nghiên cứu khoa học của thế giới, việc đăng được các bài trong tạp chí khoa học có giá trị của quốc tế là một trong những khía cạnh then chốt, giúp ta bắt được những hướng nghiên cứu đương đại, góp phần vào việc phát triển chung của nhân loại, nếu không "đi tắt đón đầu” được thì ít nhất cũng không bị tụt hậu lại phía sau trong cuộc chạy đua ào ạt của nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ. Vấn đề này cũng được dư luận ở Việt Nam quan tâm đến từ lâu, từ những cơ quan quản lý nghiên cứu khoa học kỹ thuật các cấp đến từng nhà nghiên cứu cụ thể thuộc các ngành. Hơn mười năm trước, tác giả Cao Long Vân cũng dã từng đề cập đến vấn đề này [1]. Việc đăng bài trên các tạp chí khoa học quốc tế uy tín vẫn là điều trăn trở chung của giới nghiên cứu khoa học, trong bài báo này chúng tôi xin được đề cập lại vấn đề này sâu hơn, cùng với những gợi ý chủ quan cụ thể cho các cấp quản lý nói chung và cho các nhà nghiên cứu nói riêng, ngõ hầu có thể một phần nào tìm được câu trả lời cho câu hỏi hóc búa này.
Để giải quyết vấn đề, trước hết cần phải định nghĩa được thế nào là một tạp chí khoa khoa học có uy tín, trên cơ sở đó xác định được phải viết một bài báo như thế nào để có thể được đăng trong một tạp chí như vậy, qua đó đề xuất được một cơ chế đánh giá nghiên cứu khoa học tương đối chính xác, là nhân tố chỉ đạo cho đường lối đầu tư ưu tiên phát triển khoa học đối với các tập thể và cá nhân các nhà nghiên cứu có thành tựu cao. Bài viết dựa trên các kinh nghiệm thu được trong quá trình nghiên cứu khoa học của các tác giả, ở một nước có nền phát triển khoa học cao như Ba Lan, với số lượng công trình được xếp hạng trong khoảng thứ mười lăm đến thứ hai mươi của thế giới, chắc chắn sẽ có nhiều điểm tương đồng đối với hoàn cảnh cụ thể của nước ta, đồng thời cũng là một "điểm hẹn” mà ta có thể vươn tới được.
Bài viết được bố cục như sau: Phần hai điểm qua một khái niệm quan trọng, đó là hệ số ảnh hưởng (Impact factor, được viết tắt là IF), do Viện Thông tin Khoa học mang tên Thomson đề xuất để đánh giá các tạp chí khoa học và các công trình được viết. Do viện này có trụ sở ở Philadelphia (Mỹ), nên danh sách các tạp chí có hệ số ảnh hưởng cao do Viện này đưa ra hàng năm được nhà vật lý lỗi lạc Ba Lan, Viện sỹ Viện hàn lâm Khoa học của nhiều nước, GS TSKH Andrzej Kajetan Wróblewski đặt tên là Danh sách Philadelphia, thuật ngữ đã được giới quản lý và các nhà nghiên cứu khoa học Ba Lan chấp nhận từ nhiều năm nay. Danh sách này đã trở thành cơ sở cho việc đánh giá, quản lý đầu tư trong khoa học của Ba Lan, sẽ là đối tượng bàn luận trong phần ba. Trên cơ sở danh sách này, các tác giả sẽ đưa ra ra trong phần bốn cách viết các công trình khoa học để có thể gửi đăng trong các tạp chí thuộc danh sách đó. Phần năm dành cho tóm tắt và kết luận của bài viết.

2. Hệ số ảnh hưởng IF: chỉ số uy tín và sức tác dụng của các tập san khoa học quốc tế
Chỉ số này được xác định hàng năm trên cơ sở danh sách tính trích dẫn các công trình khoa học (Journal Citation Reports, viết tắt là JCR) do Viện Thomson thực hiện. Như ta thấy trong phần bốn, mỗi công trình khoa học thường kết thúc bằng danh sách trích dẫn các công trình liên quan đến đề tài của bài viết. Nếu một công trình được công bố trước đó có các ý tưởng mới cơ bản, nó sẽ được nhiều tác giả các công trình sau đó trích dẫn nhiều lần. Do vậy số lần trích dẫn sẽ là thước đo cho giá trị của một công trình.
Đối với một tạp chí, số lượng trung bình các trích dẫn của tất cả các công trình được in trong đó là thước đo uy tín và sức ảnh hưởng của tạp chí này, luôn được thời sự hóa bởi Viện kể trên (cũng còn được gọi là Viện Philadelphia). Liệt kê ra một danh sách các trích dẫn cho mọi tập san trên thế giới hầu như là một "mission impossible”, song Danh sách Philadelphia được thực hiện trên cơ sở định luật Bradford nói rằng, trong mỗi lĩnh vực khoa học có một nhóm không nhiều các tập san (khoảng từ 5 đến 30) chứa 99% tất cả các công trình cơ bản trong lĩnh vực đó, các tạp chí chiếm số đông còn lại chỉ đónh vai trò thư yếu. Hiện nay có khoảng trên 10000 công trình nằm trong Danh sách Philadelphia, Danh sách này được thay đổi theo từng năm, một phần sẽ bị loại đi do chỉ số IF xuống thấp, trong khi một số tạp chí lại được bổ sung vào khi IF của chúng lên cao.
Ta hãy xem IF được tính như thế nào. Ký hiệu T là tổng số các trích dẫn của các công trình được in trong một tập san A trong một năm lịch, U là số lượng các công trình trong tập san này được trích dẫn trong vòng hai năm gần nhất trở lại bới các công trình khác đang trong các tập san thuộc Danh sách (không kể các thư gửi đến tòa soạn), lúc đó IF của tập san X được tính theo công thức:
IF = T/U.
Ví dụ khi tính IF cho một tập san A trong năm 2012, ta lấy tổng tất cả các trích dẫn trong năm 2013 của các bài được in trong hai năm 2010-2011, sau đó chia cho số bài được đăng trong hai năm này. Ví dụ nếu số này là 10, mỗi bài báo được đăng trong vòng hai năm gần đây (2010-2011) trung bình được trích dẫn 10 lần bởi các tác giả của các công trình đang trên các tạp chí khác cũng thuộc Danh sách Philadelphia. Trong JCR của Viện Thomson còn có các chỉ số khác nữa như chỉ số thời sự (Imediacy Factor), song không chỉ số nào có tầm quan trọng như IF. Thường các tạp chí trong Danh sách có IF nằm trong khoảng từ 0.004 đến 153.
Do uy tín được xây dựng trong nhiều năm qua của Viện Thomson, IF được Viện liệt kê có ý nghĩa lớn đối với một tạp chí cũng như với các tác giả có bài đăng trong đó. Trước hết, nó có ý nghĩa "sống còn” đối với tạp chí: Nếu IF giảm dần, tạp chí sẽ mất cả các tác giả muốn đăng cũng như người đọc, tiến đến sẽ mất giá trị hoàn toàn. Do vậy các tạp chí có IF càng cao thì sự lựa chọn bài đăng càng gắt gao. Nếu cung cách lựa chọn ẩu, ngay lập tức IF của tạp chí sẽ giảm đi. Đối với các tác giả của các công trình, IF sẽ là một nhân tố căn bản để họ gửi đăng ở đâu. Số lượng công trình được đăng ở các tập san có IF cao sẽ là thước đo chất lượng nghiên cứu khoa học tác giả các công trình đó. Cuối cùng, đối với một cơ quan nghiên cứu, tổng số các công trình công bố trong các tạp chí có IF cao (tức là thuộc Danh sách Philadelphia) của các nhân viên sẽ phản ánh chân thực nhất chất lượng nghiên cứu của cơ quan này.
Trong Danh sách Philadelphia được đưa ra năm ngoái với 10230 tạp chí có chỉ số IF được xếp hạng, Việt Nam chưa có một tạp chí chuyên ngành bất kỳ nào nằm trong Danh sách này. Mong ước của chúng tôi gần mười năm trước [1] nhằm đưa được ít nhất một vài tạp chí vào Danh sách quả là rất khó khăn. Không kể các nước lớn gần Việt Nam như Trung Quốc, Nhật…ngay các nước nhỏ như Xin-ga-po, Đài Loan, Thái Lan…càng ngày càng có nhiều tạp chí được xếp hạng trong Danh sách Philadelphia. Các nhà xuất bản cũng như các cơ quan hữu trách của ta tiếp tục không quan tâm thích đáng đến việc tham gia vào các quy trình giới thiệu (recommending a journal for converage) và đề nghị đánh giá (submiting a journal for evaluation) trong khuôn khổ ISI. Điều này tiếp tục gây thiệt thòi lớn cho các cán bộ khoa học nước ta, khi các kết quả nghiên cứu của mình thường chủ yếu được công bố qua các tạp chí trong nước, nếu công bố ở ngoài nước thì phần lớn lại in trong các tạp chí có IF không cao. Do vậy thành tựu của họ thường được đánh giá rất thấp khi xét học bổng, xin việc làm ở nước ngoài, xét phong học hàm giáo sư, PGS hay các giải thưởng… và đặc biệt quan trọng trong việc xem xét cấp kinh phí cũng như nghiệm thu các đề tài khoa học khi hội nhập quốc tế. Do thiếu cơ sở đánh giá dựa trên Danh sách Philadelphia nên những bàn luận, tranh cãi gần đây của ta trong việc đánh giá các công trình khoa học công bố trong hay ngoài nước không đưa đến kết luận gì căn bản. Trong phần sau ta sẽ thấy Ba Lan (với Bộ Khoa học và Đại Học là cơ quan chủ quản) đã dùng Danh sách Philadelphia như thế nào để xác định thang điểm đánh giá các công trình khoa học đã được công bố. So với họ, thang điểm của ta quá sơ sài, không phản ánh thực chất giá trị của các công trình, dẫn đến việc mất công bằng trong việc xem xét thành tựu khoa học của các cơ sở nghiên cứu cũng như của cá nhân các nhà khoa học.
3. Thang điểm các công trình của Bộ Khoa Học và Đại Học Ba Lan
Như đã đề cập ở trên, Danh sách Philadelphia đã góp phần đắc lực vào việc đánh giá giá trị các công trình trên phạm vi quốc tế. Tuy vậy nó cũng có một số nhược điểm.
Trước hết Danh sách coi trọng những nghiên cứu “mốt” và những khuynh hướng thời sự nhất, do IF chỉ được tính trên cơ sở những trích dẫn trong hai năm gần nhất. Do vậy các công trình không theo mốt, đi trước thời gian thường bị lãng quên, ngay cả khi sau đó được đánh giá cao thì không được tính trong IF nữa. Viện Thomson là một cơ quan mang tính thương mại, nên cũng dễ "lăng xê” ra các "mốt” nghiên cứu, đặc biệt các hướng đặc thù của Mỹ (trong danh sách có trên dưới một nửa các tạp chí phát hành ở Mỹ). Các tạp chí khoa học do cũng thường mang tính lợi nhuận nên có khuynh hướng đăng các công trình theo "mốt” hiện thời. Ngoài ra, khoảng 80% các tạp chí thuộc danh sách được xuất bản bằng tiếng Anh. Điều này gây thiệt thòi cho các nhà nghiên cứu trong các lĩnh vực khoa học kinh tế và xã hội của các nước không dùng Anh ngữ, đặc biệt ở các nước đang phát triển như Việt Nam, một mặt có nhu cầu trao đổi thông tin khoa học lớn, mặt khác lại bị hạn chế do các "lobby” khoa học kiểu Mỹ.
Để tận dụng được những mặt mạnh của Danh sách Philadelphia và hạn chế những điểm yếu của nó trong đánh giá các công trình khoa học, Bộ KH và ĐH Ba Lan (tương ứng với Bộ Đại Học và Trung Học Chuyên Nghiệp của Việt Nam trước đây) hiện dùng thang tính điểm [2] gồm ba phần:
Phần A: Các tạp chí có IF được liệt kê trong danh sách Philadelphia (được thiết lập trên cơ sở JCR) với số điểm tương ứng từ 15 đến 50. Tổng số có 10 230 tạp chí thuộc phần này. Như đã nói đến ở trên, ta không hề có một tạp chí nào trong phần này. Sau đây là một số ví dụ các tạp chí có điểm số cao nhất (50):


Americal Journal of Sports Medicine
Americal Journal of Sociology
Americal Journal of Transplantation
Americal Political Science Review
Annals of Internal Medicine
Annals of Mathematics
Annals of Neurology
Annal Review of Astronomy and Astrophysics


Annal Review of Public Health
Applied and Computational Harmonic Analysis
Biological Reviews
Nature
Physics Reports
Production and operations management
Quarterly Journal of Economics
Reviews of Modern Physics…



Các tạp chí có số điểm thấp hơn như:


Acta Physica Polonica A (15)
Chinese Journal of Physics (15)
Chinese Physics B (30)
Chinese Physics C (15)
Problems of post-communism (20)
Physical Review A (40)
Physical Review B (35)
Physical Review C (40)
Physical Review D (35)
Physical Review E (35)
Physical Review Letters (45)
Physical Therapy (45)
Policy Sciences (30)
Prison Journal (25)
Singapore economic review (15)
Taiwanese journal of Mathematics (25)
Thai Journal of Veterinary Medicine (15)
Tourism Economics (15)
Turkish Journal of Mathematics (15)…



Phần B: giành cho các công trình công bố trong các tạp chí không có IF, nhất là các tạp chí dùng tiếng Ba Lan, gồm 1798 tạp chí cùng với số điểm tương ứng từ 1 đến 10. Mặc dù không có trong danh sách, trong kỳ trước, tập san uy tín về Vật Lý của ta là Communications in Physics chỉ được có 2 điểm, còn tạp chi Acta Mathematica Vietnamica của “Trường phái Toán học Việt Nam” chỉ được có 4 điểm, gần đây mới được cơ sở dữ liệu Scopus thuộc nhà xuất bản Elsever tính đến, và vẫn chưa nằm trong Danh sách Philadelphia! Không biết kỳ này Bộ KH và ĐH Ba Lan sẽ cho các tạp chí này của ta được bao nhiêu điểm.
Phần C: Giành cho các tạp chí xã hội học, được nằm trong danh sách của European Reference Index for the Humanities (viết tắt là ERIH), gồm 4329 tạp chí với số điểm từ 10 đến 14. Sau đây là một số ví dụ:
Youth Theatre Journal (10)
World of Music (12)
World Literature today (14)
Women’s History Review (14)
Women and Music: A Journal of Gender and Culture (12)
Traditional South Asian Medicine (10)…
Qua thang điểm của Ba Lan, ta thấy thành tựu khoa học của các nhà nghiên cứu Việt Nam bị đánh giá rất thấp, nếu chỉ có công bố trong nước hay công bố trong các tạp chí quốc tế có số điểm rất thấp. Vì vậy nhu cầu công bố kết quả nghiên cứu trong các tạp chí nước ngoài có IF cao là rất cấp thiết, nhất là khi ta chưa có một tạp chí nào trong Danh sách Philadelphia. Phần sau sẽ nêu ra một số kinh nghiệm của bản thân và đồng nghiệp khi viết công trình khoa học với mục đích đăng trong một tạp chí quốc tế có chất lượng (chỉ số IF) cao.
4. Một số kinh nghiệm cho việc viết công trình công bố trong các tạp chí quốc tế có chất lượng cao
Một công trình có thể được công bố trong một tạp chí có giá trị phải thỏa mãn các điều kiện cần như sau:
- Công trình phải liên quan đến phạm vi nghiên cứu của tạp chí
- Các kết quả có tầm quan trọng trong lĩnh vực nghiên cứu
- Những bàn luận và kết luận phải dựa trên những dữ liệu được đưa ra
- Công trinh có một nội dung hợp lý
- Các công trình lien quan phải được trích dẫn thích hợp và rõ ràng
- Các phương trình, các hình vẽ, bảng … phải thật sự đóng góp cho việc trình bầy sang sủa các kết quả nghiên cứu
- Bản thảo phải được viết cẩn thận, nhất là về văn phạm tiếng Anh (khi gửi đến các tạp chí trong Danh sách Philadelphia) và có bố cục logic
Một công trình viết tốt có bố cục rõ ràng tạo điều kiện cho các phản biện (reviewer hay referee, người “trọng tài” cho việc công trình được đăng hay không) hiểu được công trình của bạn và đánh giá được tầm quan trọng của nó. Cần phải tham khảo những chỉ dẫn có trên trang web của tạp chí.Thông thường, một công trình có một bố cục chuẩn như sau:
+ Tiêu đề (Title): Là một mô tả ngắn gọn, chính xác với lượng thông tin cao nhất vấn đề mà bài viết đề cập tới.
+ Tóm tắt nội dung (Abstract): gồm vấn đề được đề cập và mục đích nghiên cứu, phương pháp luận được dùng, những kết quả chính và những kết luận, cùng với các hệ quả thu được cho các vấn đề khoa học rộng hơn. Cần lưu ý là các tạp chí thường có các đòi hỏi riêng về độ dài cũng như cách viết phần tóm tắt nội dung này.
+ Mở đầu (Introduction): Đưa ra vấn đề được nghiên cứu, tổng quan các khái niệm cơ sở và các tài liệu tham khảo lien quan. Nêu rõ các phát triển mới và các kết quả chính, mục đích nghiên cứu và phương pháp luận được trình bầy đầy đủ và xúc tích.
+ Phần thân bài chính (Main Body of paper): Vấn đề được nghiên cứu cùng các giả thiết và các giới hạn. Lý thuyết và thực nghiêm giải quyết vấn đề, bao gồm phân tích, dẫn dắt và tìm lời giải. Các kết quả nghiên cứu lý thuyết hoặc thực nghiệm, có lúc cả lý thuyết lẫn thực nghiệm lien quan đến vấn đề đặt ra.
+ Thảo luận (Discussion): Thảo luận các kết quả và nêu rõ chúng được đánh giá thế nào trên quan điểm rộng hơn về vấn đề được nghiên cứu. So sánh các kết quả với các công trình lien quan khác, từ đó vạch rõ tầm quan trọng của các kết quả của mình.
+ Kết luận (Conclusion): Tổng kết thông tin chính của bài viết (không thêm nội dung), phát biểu các kết luận riêng và các vấn đề liên quan đến các nghiên cứu sau này.
+ Cảm ơn (Acknowledgments): Về các giúp đỡ về mặt kỹ thuật cũng như các bàn luận có ích (của các đòng nghiệp, các phản biện…), hộ trợ về tài chính và những đóng góp khác cho việc thực hiện công trình.
+ Các tài liệu tham khảo (References): Được liệt kê theo trình tự xuất hiện trong bài, tuân theo sự chỉ dẫn của tạp chí. Có những chương trình quản lý trích dẫn rất bổ ích như EndNote&Bibtex.
+ Các phụ lục (Appendices): Những nội dung hỗ trợ mà nếu đưa vào bài chính sẽ làm lu mờ mạch trình bày logic của bài báo, nhất là chúng có thể bỏ qua khi theo dõi vấn đề, nhưng lại vẫn bổ ích cho những nhà chuyên môn muốn nghiên cứu sâu hơn.
Cần ghi nhớ không được gửi đồng thời một bài báo đến hai (hay nhiều hơn) tạp chí, không được “cóp” nguyên xi (plagiarism – đạo văn) các đoạn viết của người khác và ngay cả của chính mình trong các công trình trước, trừ khi trích dẫn là cần thiết thì phải nêu rõ nguồn trích dẫn, không được bịa đặt các dữ liệu. Các hình vẽ dùng của người khác phải có sự cho phép của tác giả cũng như Nhà xuất bản. Đây là những nguyên tắc đạo đức mà mỗi nhà khoa học phải tuân thủ. Chỉ cần một lần mắc lỗi, “tội nhân” có thể sẽ bị ghi vào danh sách đen mà mọi tạp chí có tên tuổi đều cập nhất được, là tiền đề cho sự từ chối in các công trình tiếp theo.
5. Kết luận
Nhiều khi ngay cả các kết quả nghiên cứu có giá trị nhất, nếu không đăng đúng chỗ thì có thể bị đánh giá thấp, thậm chí có thể bị lãng quên. Nơi công bố tốt nhất là những tạp chí có hệ số ảnh hưởng IF cao. Để đăng được trong những tạp chí đó, khi viết bài cần phải tuân thủ theo những nguyên tắc không thể thiếu được về đạo lý cũng như văn phạm của nhà nghiên cứu, đặc biệt phải tích cực công bố trong các tạp chí dùng tiếng Anh trong Danh sách Philadelphia. Ở đây ta phải khẳng định vai trò then chốt của tiếng Anh, điều mà gần đây đã được các cấp lãnh đạo nhấn mạnh trong chỉ đạo phát triển nghiên cứu ở các trường đại học, kể cả những trường về lĩnh vực văn hóa- nghệ thuật [3]. Trong một bài tới chúng tôi sẽ trình bày và phân tích cách phân loại các cơ sở nghiên cứu đang được áp dụng tại Ba Lan, với hy vọng rằng những ý kiến của mình sẽ đóng góp một phần nào vào chính sách đầu tư phát triển khoa học và công nghệ của nước nhà.

Thứ Ba, 9 tháng 8, 2016

Question Words



The most common question words in English are the following:

WHO

WHO is only used when referring to people. (= I want to know the person)
  • Who is the best football player in the world?
  • Who are your best friends?
  • Who is that strange guy over there?

WHERE

WHERE is used when referring to a place or location. (= I want to know the place)
  • Where is the library?
  • Where do you live?
  • Where are my shoes?

WHEN

WHEN is used to refer to a time or an occasion. (= I want to know the time)
  • When do the shops open?
  • When is his birthday?
  • When are we going to finish?

WHY

WHY is used to obtain an explanation or a reason. (= I want to know the reason)
  • Why do we need a nanny?
  • Why are they always late?
  • Why does he complain all the time?
Normally the response begins with "Because..."

WHAT

WHAT is used to refer to specific information. (= I want to know the thing)
  • What is your name?
  • What is her favourite colour?
  • What is the time?

WHICH

WHICH is used when a choice needs to be made. (= I want to know the thing between alternatives)
  • Which drink did you order – the rum or the beer?
  • Which day do you prefer for a meeting – today or tomorrow?
  • Which is better - this one or that one?

HOW

HOW is used to describe the manner that something is done. (= I want to know the way)
  • How do you cook paella?
  • How does he know the answer?
  • How can I learn English quickly?
With HOW there are a number of other expressions that are used in questions:
How much – refers to a quantity or a price (uncountable nouns)
  • How much time do you have to finish the test?
  • How much is the jacket on display in the window?
  • How much money will I need?
How many – refers to a quantity (countable nouns)
  • How many days are there in April?
  • How many people live in this city?
  • How many brothers and sister do you have?
Read more about How much vs. How many.
How often – refers to frequency
  • How often do you visit your grandmother?
  • How often does she study?
  • How often are you sick?
How far – refers to distance
  • How far is the university from your house?
  • How far is the bus stop from here? 
More details

Thứ Năm, 12 tháng 5, 2016

50 CÂU NÓI THÔNG DỤNG HẰNG NGÀY CỦA NGƯỜI ANH-MỸ

1. What’s up? – Có chuyện gì vậy?
2. How’s it going? – Dạo này ra sao rồi?
3. What have you been doing? – Dạo này đang làm gì?
4. Nothing much. – Không có gì mới cả.
5. What’s on your mind? – Bạn đang lo lắng gì vậy?
6. I was just thinking. – Tôi chỉ nghĩ linh tinh thôi.
7. I was just day dreaming. – Tôi chỉ đãng trí đôi chút thôi.
8. What a thrill! - Thật là li kì!
9. Is that so? – Vậy hả?
10. How come? – Làm thế nào vậy?
12. Definitely! – Quá đúng!
13. Of course! – Dĩ nhiên!
14. You better believe it! – Chắc chắn mà.
15. I guess so.- Tôi đoán vậy.
16. There’s no way to know. – Làm sao mà biết được.
17. I can’t say for sure. – Tôi không thể nói chắc.
18. This is too good to be true! – Chuyện này khó tin quá!
19. What a pity! - Tiếc quá!
20. I got it. – Tôi hiểu rồi.
21. Right on! (Great!) – Quá đúng!
22. I did it! (I made it!) – Tôi thành công rồi!
23. Got a minute? – Có rảnh không?
24. About when? – Vào khoảng thời gian nào?
25. I won’t take but a minute. – Sẽ không mất nhiều thời gian đâu.
26. Speak up! – Hãy nói lớn lên.
27. Seen A? – Có thấy A không?
28. So we’ve met again, eh? – Thế là ta lại gặp nhau phải không?
29. Come here. – Đến đây.
30. Come over. – Ghé chơi.
31. Don’t go yet. – Đừng đi vội.
32. Please go first. After you. – Xin nhường đi trước. Tôi xin đi sau.
33. Thanks for letting me go first. – Cám ơn đã nhường đường.
34. What a relief. – Thật là nhẹ nhõm.
35. Too bad! - Quá tệ!
36. You’re a life saver. – Bạn đúng là cứu tinh.
37. I know I can count on you. – Tôi biết mình có thể trông cậy vào bạn mà.
38. Hold on, please. - Làm ơn chờ máy (điện thoại).
39. Try your best! / Go for it! - Cố gắng lên.
40. Forget it! (I’ve had enough!) - Quên nó đi! (Đủ rồi đấy!)
41. Let me see. - Để tôi xem đã/ Để tôi suy nghĩ đã
42. Explain to me why. – Hãy giải thích cho tôi tại sao.
43. Enjoy your meal! - Ăn ngon miệng nhé!
44. In the nick of time. – Thật là đúng lúc.
45. Help yourself! - Cứ tự nhiên nhé!
46. Go for it! – Cứ liều thử đi.
47. That’s strange! - Lạ thật
48. It’s over. - Chuyện đã qua rồi.
49. Awesome! - Tuyệt cú mèo!
50. Try your best! / Go for it! - Cố gắng lên.

Thứ Hai, 2 tháng 5, 2016

Mọi cha mẹ nên cho con đọc: Bài phát biểu chấn động Thế giới của người diệt Bin Laden

Ông McRaven, cựu tư lệnh Bộ chỉ huy các lực lượng đặc biệt Mỹ (USSOC), người tổ chức cuộc đột kích tiêu diệt trùm khủng bố Osama bin Laden, đã nêu lên nhiều bài học cuộc sống giá trị, ý nghĩa, thông qua chính trải nghiệm của bản thân.
Bài phát biểu của ông được đăng tải lần đầu trên tờ Military Times, trước khi được tờ Business Insider đăng tải lại. Dưới đây là nội dung bài phát biểu đặc biệt này:
"Tôi đã là một người lính SEAL của Hải quân trong 36 năm. Nhưng cuộc đời binh nghiệp chỉ bắt đầu khi tôi tốt nghiệp trường UT và tham gia khóa huấn luyện cơ bản của SEAL ở Coronado, California.
Đó là 6 tháng chạy khổ nhọc trên cát mềm, bơi giữa đêm trong làn nước lạnh giá ngoài khơi San Diego, các bài vượt chướng ngại, các bài tập thể lực không ngừng nghỉ, nhiều ngày không ngủ, luôn ở trong tình trạng ướt, lạnh và khổ sở.
Đó là 6 tháng thường xuyên bị lăng mạ bởi các thầy huấn luyện chuyên nghiệp, những người luôn tìm các điểm yếu trong tâm hồn và thể xác của học viên rồi loại bỏ chúng, trước khi họ trở thành một người lính SEAL.
Nhưng hoạt động huấn luyện còn là để tìm hiểu xem các học viên có thể hoạt động bình thường trong một môi trường thường xuyên phải chịu áp lực, sự hỗn loạn, thất bại và cả khó khăn hay không.

Toàn bộ bài phát biểu của đô đốc McRaven. (Nguồn: ĐH Texas/YouTube)
Với tôi, huấn luyện SEAL cơ bản giống như các thách thức của cả cuộc đời, được nhét vào trong vỏn vẹn 6 tháng trời.
Vì thế, dưới đây là 10 bài học thu được từ hoạt động huấn luyện SEAL mà tôi hy vọng sẽ có giá trị với bạn, khi bạn tiến lên trong cuộc sống.

Mỗi buổi sáng trong hoạt động huấn luyện SEAL cơ bản, các thầy của tôi, những người đều là cựu binh thời chiến tranh Việt Nam, sẽ xuất hiện trong phòng của tôi ở doanh trại và điều đầu tiên họ làm là kiểm tra giường ngủ.
Nếu bạn dọn giường chuẩn xác thì các góc phải vuông vắn, ga giường phải phẳng phiu, gối được đặt ở vị trí trung tâm, giữa tấm ván đầu giường và chăn phải được gấp gọn gàng, đặt ở chân giường.
Đó là một nhiệm vụ đơn giản, bình thường. Nhưng mỗi buổi sáng, chúng đều được yêu cầu phải dọn giường sao cho đạt tiêu chuẩn hoàn hảo. Lúc ấy chuyện có vẻ kỳ cục, đặc biệt khi tất cả chúng tôi đều đang nóng lòng muốn trở thành các chiến binh thực thụ, những người lính SEAL dạn dày lửa đạn chiến trường. Phải mãi về sau, tôi mới nhận thấy sự thông thái trong hoạt động có vẻ đơn giản này.

Một lính đặc nhiệm Mỹ. (Ảnh: CNN)
Nếu dọn giường vào mỗi buổi sáng, bạn đã hoàn thành công việc đầu tiên trong ngày. Nó sẽ cho bạn chút cảm giác kiêu hãnh và khuyến khích bạn làm thêm việc này hoặc việc khác. Tới cuối ngày, công việc hoàn thành đầu tiên đó sẽ biến thành rất nhiều công việc khác, cũng được thực hiện xong.
Dọn giường còn củng cố sự thực rằng ngay cả những điều nhỏ bé trong cuộc sống cũng có ý nghĩa.
Nếu bạn không thể làm đúng ngay từ những điều nhỏ nhất, bạn sẽ không bao giờ có thể làm đúng những điều lớn hơn.
Và nếu chẳng may bạn có một ngày tồi tệ, bạn sẽ về nhà với một chiếc giường được dọn dẹp ngay ngắn - do bản thân thực hiện. Và chính chiếc giường được dọn dẹp tới hoàn hảo đó sẽ động viên bạn rằng ngày mai có thể sẽ khá hơn.
Vì thế, nếu bạn muốn thay đổi thế giới, hãy bắt đầu bằng việc dọn giường!
Trong hoạt động huấn luyện SEAL, các học viên được chia thành từng nhóm nhỏ 7 người để tham gia chèo thuyền. Cứ 3 người lại ngồi vào một bên của chiếc thuyền cao su nhỏ và một người còn lại sẽ cầm lái.

Đô đốc McRaven từng là một lính đặc nhiệm SEAL. (Ảnh: CNN)
Mỗi ngày, đội chèo thuyền của bạn lại xuất hiện trước bãi biển và được hướng dẫn cách chèo qua vùng sóng vỗ và đi vài cây số dọc theo bãi biển. Mùa Đông, những con sóng ở San Diego có thể cao từ 3 tới 4 mét và rất khó để chèo qua chúng, trừ phi tất cả mọi người cùng tham gia.
Mỗi cú khua chèo phải được thực hiện đồng bộ với nhau. Tất cả đều phải dồn sức lực như nhau, nếu không con thuyền sẽ xoay ngang trong con sóng và bị ném trở lại bãi biển.
Và như vậy, để tới được đích, tất cả mọi người đều phải chèo thuyền.
Bạn không thể một mình thay đổi thế giới - bạn sẽ cần ai đó giúp đỡ. Để đi từ điểm xuất phát tới đích, bạn sẽ thực sự cần bạn bè, đồng nghiệp , thiện chí của người lạ và một người lái thuyền mạnh mẽ để hướng dẫn tất cả.
Nếu muốn thay đổi thế giới, hãy tìm ai đó giúp bạn chèo thuyền.
Chỉ sau vài tuần huấn luyện, lớp SEAL của tôi đã từ 150 người giảm xuống còn 35. Nay mỗi chiếc thuyền chỉ còn lại 6 người thay vì 7 người như ban đầu.

Lính SEAL trong một buổi diễn tập. (Ảnh: WikiCommon)
Tôi từng ở trong một con thuyền với những anh chàng cao to, nhưng đội chèo thuyền giỏi nhất chúng tôi có được lại hợp thành từ những anh chàng nhỏ con - đội chèo thuyền của các chú lùn, như những người khác đã gọi họ - với không ai trong đó cao hơn 1m65.
Đội chú lùn có một người gốc thổ dân, một người gốc Phi, một người gốc Ba Lan, một người gốc Hy Lạp, một người gốc Italy và hai anh chàng nữa tới từ vùng Trung Tây. Nhưng họ đã chèo vượt tất cả các đội thuyền khác.
Những anh chàng to con trong các đội thuyền khác thường trêu chọc đội chú lùn, dựa trên những đôi dép nhỏ họ đi trước mỗi buổi luyện tập. Tuy nhiên những chú lùn đó, tới từ mọi ngóc ngách trên thế giới, rốt cục lại chiến thắng - họ chèo thuyền nhanh hơn bất kỳ ai khác và tới đích trước toàn bộ các nhóm còn lại.
Hoạt động huấn luyện SEAL là một thước đo hoàn hảo. Không thứ gì có thể giúp ích cho bạn, ngoại trừ ý chí thành công. Không phải là màu da, nguồn gốc chủng tộc, trình độ giáo dục hay đẳng cấp xã hội của bạn.
Nếu bạn muốn thay đổi thế giới, hãy đánh giá ai đó theo trái tim của họ, chứ không phải kích cỡ đôi dép họ đi dưới chân.
Mỗi tuần vài lần, các thầy huấn luyện sẽ bắt cả lớp xếp hàng và kiểm tra quân phục. Đó là cuộc kiểm tra vô cùng kỹ càng.
Chiếc mũ và quần áo của bạn phải được gấp nếp rõ ràng, không tì vết. Thắt lưng của bạn phải sáng bóng, không có vết bẩn nào.

Đặc nhiệm SEAL từng tiêu diệt Bin Laden. (Ảnh: Wikimedia)
Nhưng dù bạn dồn bao nhiêu công sức chuẩn bị, dường như các nỗ lực ấy vẫn là không đủ. Các thầy sẽ luôn tìm ra vấn đề nào đó.
Và nếu không đạt trong bài kiểm tra quân phục, học viên sẽ phải chạy nguyên quần áo vào vùng sóng và rồi khi đã ướt như chuột lột từ đầu tới chân, anh ta sẽ phải lăn vòng trên bãi biển, cho tới khi thân thể đầy cát bám.
Hình phạt đó được gọi là "bánh quy bọc đường". Bạn sẽ phải mặc bộ quân phục đó suốt cả ngày, trong điều kiện lạnh run, ướt nhèm và đầy cát bám.
Có rất nhiều học viên không chấp nhận được thực tế rằng nỗ lực của họ rốt cục lại trở thành vô ích. Rằng không cần biết đã chuẩn bị quân phục kỹ tới cỡ nào, họ vẫn chẳng thể thành công. Các học viên đó đã không thể vượt qua đợt huấn luyện.
Các học viên đó không hiểu được mục đích của bài tập. Bạn không bao giờ có thể đạt được sự thành công trong bài đó. Bạn sẽ không bao giờ có được bộ quân phục hoàn hảo cả.
Đôi khi, không cần biết đã chuẩn bị kỹ thế nào, bạn vẫn có thể trở thành một chiếc bánh quy bọc đường. Bởi vì cuộc sống là như thế.
Nếu bạn muốn thay đổi thế giới, hãy chấp nhận việc trở thành bánh quy bọc đường và tiếp tục tiến lên.

Lính SEAL chiến đấu dưới nước. (Ảnh: The Blaze)
Mỗi ngày, trong quá trình huấn luyện, bạn sẽ bị yêu cầu thực hiện nhiều hoạt động tiêu tốn thể lực khác nhau - chạy cự ly dài, bơi trên cự ly dài, vượt chướng ngại vật, nhiều giờ tập thể lực không ngừng - nhằm kiểm tra tinh thần của bạn.
Mọi bài tập đều có các tiêu chuẩn - khung thời gian mà bạn phải đáp ứng. Nếu không đạt chuẩn, tên bạn sẽ được đưa vào một danh sách và vào cuối ngày, những người trong danh sách đó sẽ được mời tới một "rạp xiếc".
Một rạp xiếc chỉ hoạt động thể lực kéo dài thêm 2 giờ nữa. Việc này nhằm khiến bạn mệt mỏi rã rời, đánh quỵ tinh thần của bạn, buộc bạn phải bỏ cuộc.
Không ai muốn vào "rạp xiếc" cả. Một lần vào "rạp xiếc" sẽ gây thêm mỏi mệt và điều này đồng nghĩa với việc hôm sau khó khăn sẽ tăng lên gấp bội, dẫn tới việc bạn nhận thêm nhiều đợt tới "rạp xiếc" khác.
Vào lúc này hay lúc khác trong quá trình huấn luyện SEAL, mọi người - tất cả các học viên - đều đã góp mặt trong danh sách vào "rạp xiếc". Nhưng khi đó, sẽ có điều thú vị xảy ra với những người thường xuyên vào danh sách. Theo thời gian, các học viên đó - những người phải tập luyện thêm 2 giờ mỗi ngày - trở nên khỏe hơn so với kẻ khác.
Nỗi đau khổ của việc phải vào các "rạp xiếc" đã âm thầm tạo ra sức bền về thể lực mà họ không biết.
Cuộc sống luôn đầy các "rạp xiếc" như thế.

Chỉ có những quân nhân Mỹ giỏi nhất mới có thể trở thành đặc nhiệm SEAL. (Ảnh: Semperfimac)

Chủ Nhật, 21 tháng 2, 2016

Education and Discipline -Bertrand Russell

Bản dich tiếng Việt của Bút Lông Kim.
Any serious educational theory must consist of two parts: a conception of the ends of life, and a science of psychological dynamics, i.e. of the laws of mental change. Two men who differ as to the ends of life cannot hope to agree about education. The educational machine, throughout Western civilization, is dominated by two ethical theories: that of Christianity, and that of nationalism. These two, when taken seriously, are incompatible, as is becoming evident in Germany. For my part, I hold that, where they differ, Christianity is preferable, but where they agree, both are mistaken.
Bất cứ lý thuyết giáo dục nghiêm túc nào thì cũng phải bao gồm hai phần: một khái niệm về cứu cánh của cuộc sống, và một khoa học về động lực thuộc tâm lý, nghĩa là về những quy luật của sự thay đổi thuộc tâm trí. Hai người mà khác nhau về cứu cánh của cuộc sống thì không thể hy vọng sẽ đồng thuận về giáo dục. Cỗ máy giáo dục xuyên suốt nền văn minh phương Tây thì bị thống trị bởi hai lý thuyết thuộc đạo đức: một của Kitô giáo, và một của chủ nghĩa dân tộc. Hai lý thuyết này khi được thực hiện nghiêm túc thì không tương thích, như đang trở nên hiển nhiên ở nước Đức. Về phần tôi, tôi cho rằng ở nơi nào mà hai lý thuyết này khác biệt thì Kitô giáo là được ưa chuộng hơn, nhưng ở nơi nào mà hai lý thuyết này đồng thuận thì cả hai đều là sai lầm.
The conception which I should substitute as the purpose of education is civilization, a term which, as I mean it, has a definition which is partly individual, partly social. It consists, in the individual, of both intellectual and moral qualities: intellectually, a certain minimum of general knowledge, technical skill in one’s own profession, and a habit of forming opinions on evidence; morally, of impartiality, kindliness, and a modicum of self-control. I should add a quality which is neither moral nor intellectual, but perhaps physiological: zest and joy of life.
Cái khái niệm mà tôi nên thay thế để làm chủ đích của giáo dục chính là nền văn minh, một thuật ngữ mà, như tôi muốn nói, thì định nghĩa của nó có phần thuộc về cá nhân và có phần thuộc về xã hội. Về cá nhân thì nó bao gồm hai phẩm chất thuộc trí tuệ và thuộc đạo đức: về trí tuệ là một lượng tối thiểu nhất định của kiến thức tổng quát, của kỹ năng kỹ thuật trong nghề nghiệp chuyên môn của mình, và một thói quen hình thành ý kiến trên bằng chứng; về đạo đức là [một lượng tối thiểu nhất định] của tính công bằng, của sự ưu ái, và một chút sự tự kiểm soát. Tôi nên thêm một phẩm chất mà chẳng thuộc về đạo đức cũng chẳng thuộc về trí tuệ, nhưng có lẽ thuộc về sinh lý: đó là niềm say mê và niềm vui của cuộc sống.

In communities, civilization demands respect for law, justice as between man and man, purposes not involving permanent injury to any section of the human race, and intelligent adaptation of means to ends. If these are to be the purpose of education, it is a question for the science of psychology to consider what can be done towards realizing them, and, in particular, what degree of freedom is likely to prove most effective. On the question of freedom in education there are at present three main schools of thought, deriving partly from differences as to ends and partly from differences in psychological theory.
Trong những cộng đồng thì nền văn minh đòi hỏi sự tôn trọng pháp luật, công lý như giữa người và người, những chủ đích không bao hàm sự làm tổn thương lâu dài cho bất cứ thành phần nào của loài người, và sự thích ứng thông minh của phương tiện dẫn đến cứu cánh. Nếu những điều này là chủ đích của giáo dục thì có một câu hỏi cho khoa học tâm lý để xem xét điều gì là có thể được thực hiện hướng tới sự nhận biết chúng, và đặc biệt, mức độ gì của sự tự do là có khuynh hướng chứng minh hiệu quả nhất. Về câu hỏi của sự tự do trong giáo dục thì hiện tại có ba trường phái chính của ý nghĩ, xuất phát một phần từ những sự khác biệt về cứu cánh và một phần từ những sự khác biệt về lý thuyết thuộc tâm lý.
There are those who say that children should be completely free, however bad they may be; there are those who say they should be completely subject to authority, however good they may be; and there are those who say they should be free, but in spite of freedom they should be always good. This last party is larger than it has any logical right to be; children, like adults, will not all be virtuous if they are all free. The belief that liberty will ensure moral perfection is a relic of Rousseauism, and would not survive a study of animals and babies.
Có những người nói rằng trẻ em nên hoàn toàn được tự do bất kể chúng tồi tệ ra sao; có những người nói rằng chúng nên hoàn toàn lệ thuộc vào thẩm quyền bất kể chúng tốt lành ra sao; và có những người nói rằng chúng nên được tự do, nhưng bất chấp sự tự do thì chúng nên luôn luôn tốt. Nhóm sau cuối thì đông hơn so với bất cứ quyền hợp lý nào; trẻ em, giống như người lớn, sẽ không phải tất cả là đức hạnh nếu tất cả chúng được tự do. Niềm tin rằng quyền tự do sẽ đảm bảo sự hoàn hảo về đạo đức là một di tích của chủ nghĩa Rousseau, và sẽ không sống qua khỏi sự nghiên cứu về động vật và trẻ sơ sinh.
Those who hold this belief think that education should have no positive purpose, but should merely offer an environment suitable for spontaneous development. I cannot agree with this school, which seems to me too individualistic, and unduly indifferent to the importance of knowledge. We live in communities which require co-operation, and it would be utopian to expect all the necessary co-operation to result from spontaneous impulse. The existence of a large population on a limited area is only possible owing to science and technique; education must, therefore, hand on the necessary minimum of these.
Những người nắm giữ niềm tin này thì cho rằng giáo dục không nên có chủ đích tích cực, nhưng chỉ nên cung cấp một môi trường thích hợp cho sự phát triển tự phát. Tôi chẳng thể đồng thuận với trường phái này, vì theo tôi thì nó quá cá nhân chủ nghĩa, và nó dửng dung quá đáng đối với tầm quan trọng của kiến thức. Chúng ta sống trong những cộng đồng mà đòi hỏi sự hợp tác, và sẽ là điều không tưởng để mong chờ tất cả sự hợp tác cần thiết để dẫn kết quả từ sự xung động tự phát. Sự tồn tại của một lượng dân số lớn trên một khu vực hạn hẹp thì chỉ có thể có được nhờ vào khoa học và kỹ thuật; do đó giáo dục phải chuyển giao cái lượng tối thiểu cần thiết của những điều này.
The educators who allow most freedom are men whose success depends upon a degree of benevolence, self-control, and trained intelligence which can hardly be generated where every impulse is left unchecked; their merits, therefore, are not likely to be perpetuated if their methods are undiluted. Education, viewed from a social standpoint, must be something more positive than a mere opportunity for growth. It must, of course, provide this, but it must also provide a mental and moral equipment which children cannot acquire entirely for themselves.
Những nhà giáo dục mà cho phép sự tự do nhiều nhất là những người mà sự thành công của họ thì phụ thuộc vào mức độ của lòng nhân đức, của sự tự kiểm soát, và của sự thông minh được đào tạo, cái mà khó có thể được tạo ra ở những nơi mọi sự xung động bị bỏ bê không kiểm soát; do đó những công trạng của họ không có khuynh hướng để được ghi nhớ nếu phương pháp của họ bị cô đặc. Giáo dục, được nhìn từ góc độ xã hội, phải là một cái gì đó tích cực hơn so với chỉ là một cơ hội cho sự tăng trưởng. Tất nhiên nó phải cung ứng điều này, nhưng nó cũng phải cung ứng một thiết bị tinh thần và đạo đức mà trẻ em không thể tiếp thu hoàn toàn cho chính mình.

The arguments in favour of a great degree of freedom in education are derived not from man’s natural goodness, but from the effects of authority, both on those who suffer it and on those who exercise it. Those who are subject to authority become either submissive or rebellious, and each attitude has its drawbacks.
Những cuộc tranh luận ủng hộ mức độ lớn lao của sự tự do trong giáo dục thì được bắt nguồn không phải từ lòng tốt tự nhiên của con người, nhưng từ những tác động của thẩm quyền, cả trên những người chịu đựng nó và trên những người thực thi nó. Những người mà lệ thuộc vào thẩm quyền thì trở nên hoặc phục tùng hoặc nổi loạn, và mỗi thái độ đều có những nhược điểm của nó.
The submissive lose initiative, both in thought and action; moreover, the anger generated by the feeling of being thwarted tends to find an outlet in bullying those who are weaker. That is why tyrannical institutions are self-perpetuating: what a man has suffered from his father he inflicts upon his son, and the humiliations which he remembers having endured at his public school he passes on to “natives” when he becomes an empire-builder.
Những người phục tùng đánh mất óc sáng kiến cả trong ý nghĩ và hành động; hơn nữa, cơn giận dữ được phát sinh bởi cảm giác bị ngăn cản thì có xu hướng tìm một chỗ thoát ra trong việc bắt nạt những người yếu hơn. Đó là lý do tại sao những tổ chức độc tài bạo ngược thì tự luôn tồn tại: một người đàn ông đem những điều mình chịu đau đớn từ người cha của mình để giáng lên con trai của mình; và những sự lăng nhục mà ông nhớ đã phải chịu đựng ở trường công lập của mình thì ông giáng trên “những người bản xứ” khi ông trở thành kẻ xây dựng đế chế.
Thus an unduly authoritative education turns the pupils into timid tyrants, incapable of either claiming or tolerating originality in word or deed. The effect upon the educators is even worse: they tend to become sadistic disciplinarians, glad to inspire terror, and content to inspire nothing else. As these men represent knowledge, the pupils acquire a horror of knowledge, which, among the English upper-class, is supposed to be part of human nature, but is really part of the well-grounded hatred of the authoritarian pedagogue.
Như thế, một sự giáo dục có thẩm quyền quá mức sẽ biến những đứa học sinh thành những kẻ bạo ngược nhút nhát, không có khả năng hoặc là kêu đòi hoặc là chịu đựng tính chất căn nguyên bằng lời nói hoặc hành vi. Tác động lên trên các nhà giáo dục thì thậm chí tồi tệ hơn: họ có xu hướng trở nên những người thực thi kỷ luật khoái ác, vui mừng để truyền hứng cảm sự khủng bố, và chẳng hài lòng để truyền hứng cảm bất cứ gì khác. Khi những con người này tiêu biểu cho kiến thức, thì những học sinh tiếp thu một nỗi kinh hoàng của kiến thức, mà trong lớp cao cấp tiếng Anh thì được coi là một phần của bản chất con người, nhưng thực sự là một phần của sự căm ghét có căn cứ của nhà sư phạm chuyên quyền.
Rebels, on the other hand, though they may be necessary, can hardly be just to what exists. Moreover, there are many ways of rebelling, and only a small minority of these are wise. Galileo was a rebel and was wise; believers in the flat-earth theory are equally rebels, but are foolish. There is a great danger in the tendency to suppose that opposition to authority is essentially meritorious and that unconventional opinions are bound to be correct: no useful purpose is served by smashing lamp-posts or maintaining Shakespeare to be no poet. Yet this excessive rebelliousness is often the effect that too much authority has on spirited pupils. And when rebels become educators, they sometimes encourage defiance in their pupils, for whom at the same time they are trying to produce a perfect environment, although these two aims are scarcely compatible.
Mặt khác, những người nổi loạn, mặc dù họ có thể là cần thiết, nhưng khó lòng là hợp lẽ phải với những gì hiện hữu. Hơn nữa, có rất nhiều lối nổi loạn, và chỉ có một thiểu số nhỏ trong số này là khôn ngoan. Galileo đã là một kẻ nổi loạn và đã là khôn ngoan; những tín hữu trong học thuyết trái đất phẳng cũng là những người nổi loạn, nhưng là những người ngu ngốc. Có một nguy cơ lớn trong xu hướng cho rằng sự chống đối với thẩm quyền là cách thiết yếu đáng khen và rằng những ý kiến không theo quy ước thì ắt buộc đúng đắn: người ta chẳng phục vụ một chủ đích hữu ích nào bằng cách đập vỡ những trụ đèn hoặc khăng khăng Shakespeare không phải là nhà thơ. Tuy nhiên, sự phản kháng quá mức thì thường là cái tác động mà quá nhiều thẩm quyền đã có trên những học sinh linh hoạt. Và khi những người nổi loạn trở trên những nhà giáo dục thì họ đôi khi khuyến khích sự bất chấp ở những học sinh của mình, những người mà cùng lúc họ đang cố gắng để tạo ra một môi trường hoàn hảo, mặc dù hai mục tiêu này là khó lòng tương thích.
What is wanted is neither submissiveness nor rebellion, but good nature, and general friendliness both to people and to new ideas. These qualities are due in part to physical causes, to which old-fashioned educators paid too little attention; but they are due still more to freedom from the feeling of baffled impotence which arises when vital impulses are thwarted. If the young are to grow into friendly adults, it is necessary, in most cases, that they should feel their environment friendly.
Những gì được ưa muốn thì không phải là sự phục tùng cũng không phải sự nổi loạn, nhưng là bản chất tốt đẹp, và sự thân thiện chung đối với cả con người và cả những ý tưởng mới. Những phẩm chất này là nhờ vào phần nào những nguyên nhân thực thể, mà những nhà giáo dục lỗi thời đã chú ý quá ít; nhưng họ là vẫn còn nhờ nhiều hơn vào sự tự do khỏi cái cảm giác bất lực bối rối mà phát sinh khi những sự xung động sinh động bị cản trở. Nếu những người trẻ tuổi ắt phát triển thành người lớn thân thiện thì trong hầu hết các trường hợp nó là cần thiết rằng chúng nên cảm thấy môi trường của chúng đầy thân thiện.
This requires that there should be a certain sympathy with the child’s important desires, and not merely an attempt to use him for some abstract end such as the glory of God or the greatness of one’s country. And, in teaching, every attempt should be made to cause the pupil to feel that it is worth his while to know what is being taught – at least when this is true. When the pupil co-operates willingly, he learns twice as fast and with half the fatigue. All these are valid reasons for a very great degree of freedom.
Điều này đòi hỏi phải có một sự đồng cảm nhất định với những khát khao quan trọng của đứa trẻ, và không chỉ đơn thuần là một nỗ lực để sử dụng nó cho cứu cánh trừu tượng nào đó như là vinh quang của Thiên Chúa hoặc sự vĩ đại của đất nước mình. Và trong giảng dạy thì nên làm mọi nỗ lực để khiến đứa học sinh ấy cảm thấy rằng thật đáng bỏ công cho nó để biết điều gì đang được dạy – ít nhất khi nào điều này là đúng. Khi đứa học sinh sẵn lòng cộng tác thì nó học biết nhanh gấp hai lần và chỉ nửa phần mệt mỏi. Tất cả những này là những lý do hợp lý cho một mức độ rất lớn của sự tự do.
It is easy, however, to carry the argument too far. It is not desirable that children, in avoiding the vices of the slave, should acquire those of the aristocrat. Consideration for others, not only in great matters, but also in little everyday things, is an essential element in civilization, without which social life would be intolerable. I am not thinking of mere forms of politeness, such as saying “please” and “thank you”: formal manners are most fully developed among barbarians, and diminish with every advance in culture.
Tuy nhiên rất dễ dàng để mang cuộc tranh luận quá xa. Nó không phải là đáng mong muốn rằng trẻ em khi tránh những nết của kẻ nô lệ thì phải tiếp thu những nết của kẻ quý tộc. Sự quan tâm đến những người khác, không chỉ trong các vấn đề lớn nhưng cũng trong những điều nhỏ nhặt hàng ngày, chính là một yếu tố thiết yếu trong nền văn minh, mà không có nó thì cuộc sống xã hội sẽ không thể chịu đựng nỗi. Tôi không nghĩ đến hình thức đơn thuần của phép lịch sự, như là nói “xin vui lòng” và “cảm ơn”: những cung cách đầy hình thức thì được phát triển đầy đủ nhất giữa những người man rợ, và giảm bớt với mỗi tiến bộ trong văn hóa.
I am thinking rather of willingness to take a fair share of necessary work, to be obliging in small ways that save trouble on the balance. Sanity itself is a form of politeness and it is not desirable to give a child a sense of omnipotence, or a belief that adults exist only to minister to the pleasures of the young. And those who disapprove of the existence of the idle rich are hardly consistent if they bring up their children without any sense that work is necessary, and without the habits that make continuous application possible.
Tôi đang suy nghĩ hơn về sự sẵn lòng để nhận lấy phần chia sẻ công bằng của công việc cần thiết, để sốt sắng trong những lối nhỏ mà cứu khỏi sự rắc rối trên sự cân bằng. Sự đúng mực chính nó là một hình thức của sự lịch sự, và nó không là điều đáng mong muốn khi trao cho một đứa trẻ một cảm thức của sự toàn năng, hoặc một niềm tin rằng người lớn tồn tại chỉ để chăm chút đến những niềm vui thú của người trẻ. Và những người bất tán thành sự tồn tại của những người giàu nhàn rỗi thì khó lòng thích hợp nếu họ nuôi nấng con cái của họ mà không hề cảm thức được rằng công việc là cần thiết, và mà không có những thói quen tạo điều kiện cho sự ứng dụng liên tục.
There is another consideration to which some advocates of freedom attach too little importance. In a community of children which is left without adult interference there is a tyranny of the stronger, which is likely to be far more brutal than most adult tyranny. If two children of two or three years old are left to play together, they will, after a few fights, discover which is bound to be the victor, and the other will then become a slave. Where the number of children is larger, one or two acquire complete mastery, and the others have far less liberty than they would have if the adults interfered to protect the weaker and less pugnacious. Consideration for others does not, with most children, arise spontaneously, but has to be taught, and can hardly be taught except by the exercise of authority. This is perhaps the most important argument against the abdication of the adults.
Có một sự quan tâm khác mà một số người ủng hộ sự tự do đã rất ít coi trọng. Trong một cộng đồng của những đứa trẻ mà không có sự can thiệp của người lớn thì có sự bạo ngược của những đứa mạnh hơn, mà có khuynh hướng tàn bạo hơn xa so với hầu hết sự bạo ngược của người lớn. Nếu hai đứa trẻ hai hoặc ba tuổi được bỏ lại chơi với nhau thì sau một vài giằng co chúng sẽ khám phá đứa nào nhất định để là kẻ thắng, và đứa kia khi ấy sẽ trở thành nô lệ. Ở nơi nào mà có số lượng lớn hơn của những đứa trẻ thì một hoặc hai đứa sẽ nắm quyền làm chủ hoàn toàn, và những đứa khác có ít quyền tự do hơn so với chúng đáng có nếu người lớn can thiệp để bảo vệ những đứa yếu hơn và ít thích gây gổ hơn. Đối với hầu hết những đứa trẻ thì sự quan tâm đến người khác chẳng phát sinh một cách tự phát, nhưng phải được dạy, và khó lòng dạy chúng nếu không thực thi thẩm quyền. Đây có lẽ là cuộc tranh luận quan trọng nhất chống lại sự từ bỏ vai trò của người lớn.
I do not think that educators have yet solved the problem of combining the desirable forms of freedom with the necessary minimum of moral training. The right solution, it must be admitted, is often made impossible by parents before the child is brought to an enlightened school. Just as psychoanalysts, from their clinical experience, conclude that we are all mad, so the authorities in modern schools, from their contact with pupils whose parents have made them unmanageable, are disposed to conclude that all children are “difficult” and all parents utterly foolish.
Tôi không nghĩ rằng các nhà giáo dục đã giải quyết rồi nan đề của sự kết hợp những hình thức đáng mong muốn của sự tự do với sự tối thiểu cần thiết của sự đào tạo đạo đức. Người ta phải thú nhận rằng những bậc cha mẹ thường làm cho giải pháp đúng đắn thành khó thực hiện trước khi đứa trẻ được đưa đến trường để được khai trí. Vừa như những nhà phân tâm học kết luận từ kinh nghiệm lâm sàng của họ thì chúng ta tất cả đều khùng, vì thế những bậc thẩm quyền trong những trường học hiện đại, từ sự liên lạc của họ với những học sinh mà cha mẹ của chúng đã làm chúng thành khó dạy, thì có ý kết luận rằng tất cả những đứa trẻ là “khó khăn” và tất cả những bậc cha mẹ là hoàn toàn ngu ngốc.
Children who have been driven wild by parental tyranny (which often takes the form of solicitous affection) may require a longer or shorter period of complete liberty before they can view any adult without suspicion. But children who have been sensibly handled at home can bear to be checked in minor ways, so long as they feel that they are being helped in the ways that they themselves regard as important. Adults who like children, and are not reduced to a condition of nervous exhaustion by their company, can achieve a great deal in the way of discipline without ceasing to be regarded with friendly feelings by their pupils.
Những đứa trẻ mà đã bị lái đẩy thành lêu lổng bởi sự bạo ngược của cha mẹ (mà thường có dạng của tình cảm ân cần) thì có thể cần đến một khoảng thời gian dài hơn hoặc ngắn hơn của quyền tự do hoàn toàn trước khi chúng có thể quan sát bất cứ người lớn nào mà không có sự nghi ngờ. Nhưng những đứa trẻ mà được đối xử cách hợp lý tại nhà thì có thể chịu được sự kiểm tra trong những lối nhỏ, miễn là chúng cảm thấy rằng chúng đang được giúp đỡ trong những lối mà chính chúng xem là quan trọng. Người lớn mà thích trẻ em và không bị rơi vào tình trạng kiệt quệ thần kinh qua việc bầu bạn với chúng thì có thể thành tựu nhiều trong cái lối của kỷ luật mà không hề ngừng được lưu tâm với cảm giác thân thiện bởi học sinh của họ.
I think modern educational theorists are inclined to attach too much importance to the negative virtue of not interfering with children, and too little to the positive merit of enjoying their company. If you have the sort of liking for children that many people have for horses or dogs, they will be apt to respond to your suggestions, and to accept prohibitions, perhaps with some good-humoured grumbling, but without resentment. It is no use to have the sort of liking that consists in regarding them as a field for valuable social endeavour, or – what amounts to the same thing – as an outlet for power-impulses.
Tôi nghĩ những nhà lý luận giáo dục hiện đại thì có xu hướng coi trọng quá nhiều tới đức tính tiêu cực của việc không can thiệp vào những đứa trẻ, và quá ít tới công trạng tích cực của việc bầu bạn với chúng. Nếu bạn có loại kiểu thích trẻ con như kiểu người ta thích ngựa hoặc chó thì chúng sẽ dễ chịu để đáp ứng những đề xuất của bạn và để chấp nhận những sự cấm đoán, có lẽ với chút càu nhàu vui tính nhưng không oán giận. Thật là vô ích để có loại kiểu thích mà bao gồm việc xem chúng như một lĩnh vực cho nỗ lực xã hội đầy giá trị, hoặc – cùng một kiểu ấy – như một chỗ thoát ra cho điện xung.
No child will be grateful for an interest in him that springs from the thought that he will have a vote to be secured for your party or a body to be sacrificed to king and country. The desirable sort of interest is that which consists in spontaneous pleasure in the presence of children, without any ulterior purpose. Teachers who have this quality will seldom need to interfere with children’s freedom, but will be able to do so, when necessary, without causing psychological damage.
Không một đứa trẻ nào sẽ biết ơn cho một niềm hứng thú trong nó mà nẩy ra từ ý nghĩ rằng nó sẽ có một lá phiếu để được bảo đảm cho phe phái của bạn hoặc một thân thể để bị hy sinh cho vua và đất nước. Cái loại hứng thú đáng mong muốn là cái mà cốt ở trong niềm vui thú tự phát trong sự hiện diện của những đứa trẻ, mà không hề cần bất cứ chủ đích thầm kín nào. Những giáo viên mà có phẩm chất này sẽ hiếm khi cần để can thiệp vào sự tự do của những đứa trẻ, nhưng sẽ có khả năng để làm như thế, khi cần thiết, mà không hề gây ra mối hại thuộc tâm lý.
Unfortunately, it is utterly impossible for over-worked teachers to preserve an instinctive liking for children; they are bound to come to feel towards them as the proverbial confectioner’s apprentice does towards macaroons. I do not think that education ought to be anyone’s whole profession: it should be undertaken for at most two hours a day by people whose remaining hours are spent away from children.
Thật không may, những giáo viên làm việc quá sức thì không có khả năng để duy trì kiểu thích thuộc bản năng dành cho những đứa trẻ; họ buộc để đến để cảm xúc hướng tới chúng như những người học nghề kẹo mức theo tục ngữ hướng tới bánh hạnh nhân. Tôi không nghĩ rằng giáo dục đáng nên là nghề chuyên môn trọn vẹn của bất cứ ai: nó nên được đảm nhận nhiều nhất là hai giờ một ngày bởi những con người mà những giờ giấc còn lại của họ thì được tiêu phí xa khỏi những đứa trẻ.
The society of the young is fatiguing, especially when strict discipline is avoided. Fatigue, in the end, produces irritation, which is likely to express itself somehow, whatever theories the harassed teacher may have taught himself or herself to believe. The necessary friendliness cannot be preserved by self-control alone. But where it exists, it should be unnecessary to have rules in advance as to how “naughty” children are to be treated, since impulse is likely to lead to the right decision, and almost any decision will be right if the child feels that you like him. No rules, however wise, are a substitute for affection and tact.
Cái xã hội của người trẻ thì dễ gây mệt mỏi, đặc biệt khi mà kỷ luật nghiêm khắc bị tránh né. Cuối cùng thì sự mệt mỏi sản sinh sự cáu gắt, mà có khuynh hướng diễn tả chính nó bằng cách nào đó, bất cứ lý thuyết gì mà người giáo viên ưu phiền có thể đã dạy chính mình để tin tưởng. Sự thân thiện cần thiết thì không thể được duy trì bằng sự tự kiểm soát đơn độc. Nhưng nơi nào nó tồn tại thì không cần thiết để có những quy định trước về thế nào những đứa trẻ “nghịch ngợm” được xử lí, bởi vì sự xung động thì có khuynh hướng dẫn tới quyết định đúng đắn, và hầu như bất cứ quyết định nào cũng đúng đắn nếu đứa trẻ cảm thấy rằng bạn thích nó. Bất chấp khôn ngoan ra sao thì không luật lệ nào là điều thay thế cho sự yêu mến và sự khéo xử.
Nguồn tiếng Anh: http://www.zona-pellucida.com/essay-russel.html

Chủ Nhật, 14 tháng 2, 2016

Xác nhận sóng hấp dẫn có thật: Tiên đoán cuối cùng của Einstein thành hiện thực

Sóng Hấp Dẫn là gì?
Theo thuyết tương đối tổng quát, hấp dẫn (gravity) không phải là lực kéo hút nhau giữa các vật thể, mà là hiện tượng không-thời gian bị biến dạng, khiến các vật thể như hành tinh, vệ tinh vv. chuyển động theo hướng hay quỹ đạo mà chúng ta quan sát được. Như vậy, không gian không phải là một cái gì hoàn toàn trống trơn, không có đặc tính gì khác ngoài nhiệt độ thật thấp ra, mà nó có thể co giãn nữa. Thuyết này còn tiên đoán là nếu không gian bị chấn động hay vặn vẹo bởi những vật thể thật nặng, nó có thể phát sinh ra những sóng hấp dẫn; các sóng này, trong lúc lan truyền đi, làm bầu không gian co giãn một cách nhịp nhàng (nếu chiều dọc co lại thì chiều ngang giãn ra).
Tuy nhiên, Einstein đã không tin là kỹ thuật vào lúc ấy, hay là trong tương lai, có thể phát hiện được sóng hấp dẫn, vì nó rất yếu. Dĩ nhiên, nếu vật thể gây chấn động trong không gian mà càng nặng thì tín hiệu sóng càng mạnh, chẳng hạn như trong trường hợp của các hố đen (black hole). Tuy vậy, Einstein cũng không tin là hố đen - một tiên đoán khác của thuyết TĐTQ - có thật.
Nhưng ngày nay chúng ta đã có cơ hội thuận lợi để quan sát được sóng hấp dẫn
Thứ nhất, khoa học đã phát hiện được các hố đen và nghiên cứu nhiều đặc tính cũng như hiệu ứng của chúng từ 40 năm nay.
Thứ nhì, chúng ta có dụng cụ đo lường tinh vi. Tinh vi đến cỡ nào? Rất khó tin (nhưng có thật, và tốn kém lắm).
Nếu một vùng không-thời gian lớn như núi Everest mà co rút lại chỉ 1 mm thôi, đài quan sát Advanced LIGO tại Mỹ sẽ phát hiện tín hiệu ấy ngay... không cần nghĩ ngợi gì cả. Giả sử chúng ta nới rộng khoảng trống ấy ra, cho nó lớn che phủ khắp mặt trời (mặt trời lớn bằng 1,3 triệu lần trái đất) rồi co rút nó lại 1 mm, LIGO vẫn "thấy" ngay sự thay đổi đó. Bây giờ hãy tưởng tượng một vùng không gian lớn bằng trọn vẹn dải Ngân Hà (bao gồm 300-400 tỷ ngôi sao) bị co rút lại một khoảng ngắn cỡ đường kính của trái bóng đá thôi: LIGO có thể phát hiện được biến đổi ấy (1)!
Các khoa học gia tại MIT và Caltech đã thiết kế cho dựng lên một đài quan sát ở tiểu bang Washington, và một cái nữa ở Louisiana, với chi phí tổng cộng là $620 triệu, mỗi đài bắn đi hai tia laser trên một lộ trình dài 4 km vừa theo chiều ngang lẫn chiều dọc (như vậy mới tóm được dạng co và giãn của sóng hấp dẫn). Phải dùng hai đài quan sát để kiểm tra và loại trừ các tín hiệu giả do các chấn động địa phương như cơn gió mạnh, sự rung động của mặt đất khi xe lửa chạy ngang qua gần đấy vv.
Đài quan sát Advanced LIGO vừa thông báo là ngày hôm nay là họ đã phát hiện được sóng hấp dẫn xuất phát từ các chấn động trong không-thời gian, khi hai cái hố đen, ở xa khoảng 1.3 tỷ năm ánh sáng, mỗi cái nặng bằng cả chục lần mặt trời đang xoay quần và từ từ hợp chung lại thành một cái duy nhất (2). Trong quá trình sát nhập ấy, hai hố đen bị mất đi một phần khối lượng, tương đương với cân nặng của 3 cái mặt trời. Phần khối lượng thất thoát ấy bị chuyển đổi thành năng lượng, và được phóng thích đi dưới dạng sóng hấp dẫn mà LIGO đã phát hiện. Các dữ kiện dựa trên tín hiệu về độ giãn nở của không-thời gian đã đáp ứng và ăn khớp hoàn toàn với phương trình của Einstein.
Ý nghĩa của việc phát hiện
Như vậy, "lý thuyết tuyệt đẹp" của Einstein đã vượt qua cuộc thử lửa cuối cùng và đã chứng tỏ được đấy là "vàng thật". Đây là một dự án tinh vi, có tầm quan trọng lớn lao, và sự thành công của nó sẽ đem lại giải Nobel vật lý cho nhóm nghiên cứu.
Kỹ thuật và độ nhậy cảm của thiết bị phát hiện LIGO mở ra một kỷ nguyên mới trong thiên văn học, giúp chúng ta nghiên cứu cấu trúc của vũ trụ qua sóng hấp dẫn, thay vì dùng sóng điện từ như ánh sáng, sóng radio, hay tia X trước đây. Sóng hấp dẫn mang những tín hiệu rất chuyên biệt về nguồn gốc và sự vận hành của các vật thể không thể thấy bằng ánh sáng điện từ được như là hố đen.

Ngày Tết nên ăn nhiều chuối

(GDVN) - Trong những ngày Tết, chế độ ăn uống của mọi người đều có sự xáo trộn, làm ảnh hưởng đến sức khỏe. Mọi người nên ăn chuối để hỗ trợ sức khỏe.
Dưới đây là những lý do bạn nên ăn chuối thường xuyên đặc biệt trong dịp Tết:

Đốt cháy chất béo
Chuối rất giàu choline và vitamin B ngăn chặn sự tích mỡ ở bụng và cơ thể bằng cách tăng cường đốt cháy mỡ thừa. Những vitamin này tác động trực tiếp vào các gen gây tích trữ chất béo trong cơ thể.

Ngăn ngừa đầy hơi
Nghiên cứu đã chỉ ra rằng ăn 1-2 quả chuối mỗi ngày trước bữa ăn sẽ làm giảm lượng khí và đầy hơi ít nhất 50%. Chuối làm tăng lượng vi khuẩn tốt trong đường ruột có tác dụng chống lại các vi khuẩn xấu gây ra khí khó chịu.

Ngăn chặn tiểu đường
Chuối làm chậm sự hấp thu của đường trong thức ăn từ dạ dày và ruột vào máu. Protein và chất béo tốt có trong chuối rất có hiệu quả trong việc ngăn ngừa bệnh tiểu đường.

Giảm mỡ bụng
Chuối rất giàu kali giúp ngăn chặn tình trạng giữ nước trong cơ thể, do đó làm giảm sưng hoặc viêm trong cơ thể. Chuối còn ngăn ngừa đầy hơi giúp bụng phẳng lì, thon thả.

Mang lại hạnh phúc
Sau khi ăn chuối, bạn sẽ có cảm giác hạnh phúc hơn bởi chuối chứa folate có tác dụng chống lo âu và trầm cảm. Chất dinh dưỡng có trong loại quả này làm tăng hóa chất hạnh phúc có tên gọi serotonin giúp cải thiện tâm trạng.

Xây dựng cơ bắp
Chuối giàu magiê giúp đỡ xây dựng cơ bắp bằng cách giúp tổng hợp protein trong cơ thể nhiều hơn.

Giảm đau cơ bắp
Sau khi tập luyện, bạn nên ăn chuối để giảm đau cơ bắp. Chuối chứa kali giúp cho cơ bắp phục hồi nhanh chóng sau buổi tập.

Cải thiện tâm trạng
Nếu bạn thường xuyên nóng tính và dễ dàng bị kích động thì nên ăn chuối. Chuối chứa norepinephrine giúp bạn thư giãn và bình tĩnh lại.

Ngủ tốt hơn
Chuối cũng chứa một acid amin được gọi là tryptophan giúp hình thành melatonin, một hormone liên quan đến giấc ngủ. Hormone này giúp bạn bình tĩnh và thư giãn, thúc đẩy giấc ngủ tốt hơn.

Ngăn ngừa thèm ăn
Nếu luôn thèm ăn thức ăn ngọt, bạn phải ăn chuối để ngăn chặn sự thèm ăn này.

Giảm cholesterol xấu
Lượng cholesterol xấu trong cơ thể sẽ giảm đáng kể nếu bạn ăn chuối thường xuyên. Chuối chứa phytosterol giúp loại bỏ cholesterol xấu khỏi cơ thể, ngăn cản nguy cơ của một cơn đau tim và đột quỵ.

Hỗ trợ tiêu hóa
Chuối rất giàu prebiotic thúc đẩy sự phát triển của các vi khuẩn tốt trong ruột, do đó hỗ trợ tiêu hóa. Thường xuyên ăn chuối nếu bạn khó tiêu.

Chắc xương
Chuối giúp việc hấp thu canxi trong cơ thể tốt hơn vì chúng chứa prebiotics làm tăng khả năng hấp thụ canxi của cơ thể . Nếu bạn đang ăn thực phẩm giàu canxi, nên ăn chuối cùng để hấp thu canxi tốt hơn.