Thứ Bảy, 9 tháng 6, 2012

Hai Mắt là Ngọc…

Ðôi mắt đã được gọi bằng nhiều tên rất biểu tượng như là đôi mắt huyền, mắt nhung, mắt biếc, mắt buồn tênh, mắt nai tơ, mắt tình nhân, mắt thù hận, mắt bạc tình, mắt dao cau, mắt sắc như dao, mắt bơ vơ, mắt xanh, mắt lá dăm, mắt toét....

Ciceron có nói: “ Khuôn mặt là chân dung của tâm hồn mà đôi mắt là để diễn tả”
Cùng nhận xét này, Mạnh Tử góp ý “ Bụng ngay thẳng thì con ngươi trông sáng tỏ. Bụng đầy tà khúc thì con ngươi mờ đục, tối tăm”.
Rừng thơ có cả nhiều ngàn câu nói đến đôi mắt.


Xin ghi lại
“Mắt Biếc” của Bích Khê diễn tả nhiều khả năng đáng yêu của mắt:
“Ôi! cặp mắt của người trong tơ ngoc
Sáng như gươm và chấp chóa kim cương
Mỗi cái ngó là một vì sao mọc!
Mỗi liếc yêu lá phảng phất nùi hương.
Hai mắt ấy chói hòa quang sáng ngợp
Dẫn hồn ta vào thế giới thiêng liêng.
Hớp nhiều trăng cho niềm trinh rất ngớp
Say nhạc hường nổi bồng giữa đào nguyên”
và của Trịnh Công Sơn với “ Những con mắt trần gian” :
“Những con mắt tình nhân, Nuôi ta biết nồng nàn
Những con mắt thù hận, Cho ta đời lạnh câm
Những con mắt cỏ non, Xanh cây trái địa đàng
Những con mắt bạc tình, Cháy tan ngày thần tiên...”

Một cách thực tế, Addison nhận xét: “Trong tất cả các giác quan, thị giác toàn hảo và thích thú nhất”.
Người mình vẫn so sánh: “Hai mắt là ngọc, hai tay là vàng”.
Thực vậy, mắt là vật sở hữu quý giá nhất của con người mà cho tới nay chưa có cách nào để thay thế toàn bộ được. Người ta có thể thay tim, thay thận, thay gan nhưng mắt chỉ mới thay được giác mạc, thủy tinh thể mà thôi.
Mắt là cơ quan để thu hình ảnh và nhìn sự vật, như một chiếc máy ảnh, nhưng với một cấu trúc tinh vi và những khả năng hoàn hảo gấp bội.



Ðôi mắt
a-Nhãn cầu là bộ phận phần chính của mắt nằm trong ổ mắt và được mi mắt bảo vệ ở phía trước. Ổ mắt do các xương gò má, xương trán, xương sống mũi họp thành. Ðây là một khối hình cầu mà kích thước do di truyền quyết định. Khi mới sinh ra, trẻ nhìn xa rõ hơn vì nhãn cầu nhỏ. Tới giai đoạn tăng trưởng, trẻ nào có nhãn cầu to do di truyền sẽ nhìn gần rõ ràng hơn. Tuổi tăng trưởng lại trùng vào thời gian bắt đầu đi học, nên các em này thường hay bị cận thị. Vì vậy, cận thị thị được “cho là” do đọc sách nhiều, ngồi gần màn hình tivi, đọc sách thiếu ánh sáng...
Phía ngoài của mắt là 6 bắp thịt nhỏ, dài để di động nhãn cầu nhìn về nhiều phía.
b-Mi mắt là một lớp da với nhiều cơ và mô liên kết lót bằng kết mạc. Mi mắt nhắm lại khi giác mạc bị kích thích, đe dọa hiểm nguy. Viền quanh mi mắt là hai hàng lông mi để ngăn vật lạ bay vào mắt và chớp chớp khi bẽn lẽn tình yêu. Một hàng lông mày nằm phía trên mắt ngăn mồi hội, chất lỏng chấy vào mắt.
Nằm dưới mi mắt trên là những tuyến, tiết ra nước mằn mặn để mắt khỏi khô. Mắt thông với miệng bằng một cái ống nhỏ nằm ở góc trong mi mắt. Cạnh mi có nhiều tuyến tiết ra chất nhờn, mồ hôi...
Mi mắt chớp mở mỗi vài giây, có tác dụng như cặp gạt nước kính xe hơi, để loại bỏ bụi bặm bám trên giác mạc. Ðêm ngủ, mi mắt khép kín để giác mạc khỏi bị khô.
Lâu lâu nhiều người hay nháy mi mắt và e ngại đó là triệu chứng của bệnh tật. Thực ra, đây chỉ là sự co giựt của cơ trên mi mắt và thường thường xẩy ra khi cơ thể mệt mỏi, căng thẳng. Nháy mắt kéo dài trong vài giây, không nguy hại, chỉ cần thoa nhẹ lên mi một chút là hết. Ðôi khi nháy mắt liên tục cũng thấy trong bệnh đa xơ cứng (multiple sclerosis), co giựt cơ mặt (facial tic).
c- Giác mạc (cornea), phần trước của nhãn cầu, không vẩn đục, không mạch máu và rất nhậy cảm với với sự đau đớn. Phủ lên giác mạc là kết mạc (conjunctiva) trong suốt, có rất ít mạch máu.
d-Thủy tinh thể (lens) là bộ phận quan trọng tiếp nhận và hội tụ ánh sáng hình ảnh lên võng mạc (retina). Ðây là một cấu trúc hai mặt lồi, trong suốt, gồm có nước và chất đạm, nằm sau đồng tử và có thể thay đổi đô cong để mắt có thể thấy rõ sự vật.
Tinh thể dẹp xuống khi tập trung vào vật ở xa và vật nhìn nhỏ. Tinh thể dầy lên để tập trung vào vật ở gần, vật nhìn thấy to. Ðó là sự điều tiết của mắt. Khả năng này hoàn toàn tự động, con người không điều khiển được.
đ-Ánh sáng lọt qua đồng tử (pupil), một lỗ nhỏ nẳm giữa mống mắt.
e-Mống mắt (iris)là cái màng che trước thủy tinh thể. Một cơ vòng bao quanh bờ mống mắt điều khiển đồng tử thu nhỏ khi ánh sáng mạnh hoặc mở rộng khi ánh sáng yếu. Ðồng tử cũng mở rộng khi ta có cảm xúc kinh ngạc, sợ hãi hoặc hớn hở, vui mừng.
Tùy theo mống mắt có nhiều hay ít chất mầu mà có người có mắt đen, mắt xanh, mắt nâu...
g-Võng mạc (retina) là lớp tế bào nhậy cảm với ánh sáng, lót phía trong mắt. Ðây là cấu trúc căn bản của cặp mắt, có công dụng như tấm phim của máy ảnh để thu nhận và ghi lại cả ngàn hình ảnh, tĩnh cũng như động, suốt ngày này qua tháng khác mà không cần thay phim như trong máy ảnh..
Trên võng mạc có những tế bào hình nón, hình que chuyển ánh sáng ra những tín hiệu điện năng, được dây thần kinh thị giác chuyển lên não bộ. Tế bào não phân tích, tổng hợp các tín hiệu và tạo ra hình ảnh của sự vật.
Mắt còn chứa hai dung dịch lỏng rất quan trọng:
h-Thể mi (ciliary body) với nhiều cơ bắp để thay đổi độ cong của tinh thể đồng thời cũng tiết ra một chất lỏng như nước gọi là thủy dịch nằm giữa tinh thể và giác mạc. Thủy dịch có đủ các thành phần cấu tạo của máu, ngoại trừ tế bào máu.
Dung dịch thứ hai, dịch pha lê, trong suốt, nẳm giữa võng mạc và tinh thể.
Chăm sóc mắt
Nhiều người hơi lơ là trong việc giữ gìn “đôi mắt ngọc” của mình. Ðây là một thiếu sót lớn, vì một tổn thương dù nhỏ của mắt cũng có thể dần dần đưa tới khiếm khuyết thị giác.
Sau đây là một số điều nên lưu ý:
1. Ðừng bao giờ dụi mắt với những ngón tay, dù là ngón tay ngọc ngà người đẹp, huống chi lại rụi mắt với bàn tay dính đất, một cái khăn nhiễm trùng, một miếng giấy dơ bẩn...
2. Khi chẳng may có một chất kích thích nào đó, như nước sà bông, nước mắm, dầu xe hơi, mỡ...bắn vào mắt, nên lập tức tạt nước lạnh vào mắt. Tổn thương cho mắt sẽ giảm thiểu rất nhiều nếu ta làm hành động rất giản dị, sẵn có nhưng quan trọng này.
3. Mang kính bảo vệ mắt khi cắt cỏ, mài dũa kim loại, đi xe gắn máy...để tránh vật nhỏ bay vào mắt. Công nhân làm công việc có rủi ro cho mắt, cần mang lính bảo vệ mắt do chủ nhân cung cấp.
4. Không dùng thuốc nhỏ mắt của người khác, vì mỗi người có mỗi bệnh khác nhau. Ngoài ra, có nhiều loại thuốc nhỏ mắt cấm dùng trong vài bệnh nhiễm của mắt.
Nhỏ thuốc vào mắt như sau: đứng trước một tấm gương, dùng đầu ngón tay kéo nhẹ mi mắt dưới xuống, bàn tay kia bóp thuốc vào góc con mắt, buông ngón tay giữ mi, chớp mắt vài lần, thuốc sẽ lan đều khắp mắt.
5. Nhiều người, đặc biệt là quý vị cao niên, hay bị khô mắt, gây ra cảm giác rất khó chịu, lâu ngày giác mạc có thể bị trầy. Nguyên do thông thường là tuyến nước mắt tiết ra ít nước mắt hoặc ống dẫn nước mắt bị tắc nghẹt.
Nên đi khám bác sĩ để tìm nguyên nhân rồi trị liệu. Trong khi chờ đợi, có thể nhỏ các dung dịch nước mắt nhân tạo để giảm thiểu khó chịu này.
6. Nên cẩn thận với các tia cực tím từ ánh nắng mặt trời. Tiếp xúc trực tiếp và lâu ngày, các tia này có thể gây tổn thương cho giác mặc, thủy tinh thể và cũng là nguy cơ đưa tới cao áp suất trong mắt.
Thực ra, không cần phải mang kính râm mỗi lần ra ngoài nắng. Nhưng nếu làm việc hoặc đi dưới ánh nắng trong thời gian khá lâu thì nên mang kính râm đề chặn các tia tử ngoại và khỏi chói mắt. Lựa kính có độ lọc cao đối với các tia tử ngoại.
7. Nên đi bác sĩ khám mắt theo định kỳ. Nếu không có bệnh mắt, nên đi khám mỗi 5 năm, cho tới khi 50 tuổi. Sau tuổi này, nên khám thường xuyên hơn để tìm ra dấu hiệu của cao áp nhãn và các bệnh khác. Nếu có rối loạn về khúc xạ ánh sáng, nên đi khám mỗi 2 năm hoặc thường xuyên hơn, tùy theo chỉ định của bác sĩ.
Bác sĩ chỉnh mắt (optometrist) có thể khám mắt, đo thị lực, chỉ định độ nặng nhẹ của kính và, tùy theo luật lệ từng nơi, có thể điều trị mấy bệnh nhẹ của mắt.
Bác sĩ chuyên ngành nhãn khoa (ophtalmologist) đều khám, chữa tất cả các bệnh của mắt, cho toa kính mắt và giải phẫu mắt..
8. Ánh sáng khi làm việc, đọc chữ cần vừa phải, thích hợp không sáng quá hoặc tối quá để khỏi gây trở ngại cho sự nhìn. Các nhà chuyên môn về mắt đều đồng ý là cường độ ánh sáng hoặc ngồi gần màn hình tivi không gây tổn thương cho mắt.
9.Nên cẩn thận với mỹ phẩm làm đẹp mắt, vì nhiều người có thể dị ứng với các sản phẩm này. Mua một ít dùng thử,nếu an toàn thì tiếp tục.
Tránh để mỹ phẩm rớt vào mắt gây kích thích. Bôi mỹ phẩm tô đậm lông mi (mascara) vào 2/3 phần ngoài cùa lông, tránh mỹ phẩm rơi váo mắt. Kẻ bút chì xa mi mắt một chút, tránh đầu nhọn đụng vào giác mạc.
10.Cẩn thận khi xịt keo tóc, đừng để hóa chất bắn vào mắt.
11. Nhiều bác sĩ nhãn khoa đề nghị gắn lông mày giả loại lấy ra mỗi ngày được, để các tuyến nhờn mi mắt tiếp tục hoạt động bình thường. Khi uốn cong lông mi, tránh kéo mi mắt quá căng.
12. Nhiều người than phiền mỏi mắt sau mấy giờ đọc sách, coi máy vi tính hoặc làm công việc tỉ mỉ cần sự tập trung của mắt. Họ e ngại là mắt suy nhược, bị bệnh mắt hoặc cần mang kính.
Thực ra đây chỉ vì mắt phải làm việc quá khả năng chịu đựng, nên các bắp thịt mệt mỏi. Lâu lâu nên ngưng công việc, nhắm mắt vài phút, hoặc ngó lên trần nhà để nhãn cầu, cơ mắt thưgiãn.
Ngoài ra cũng nên lưu ý là nếu sức khỏe tổng quát không tốt, thiếu dinh dưỡng, mất ngủ, căng thẳng tâm thần ..cũng làm mắt mau mệt mỏi. Kính mắt chỉ để điều chỉnh khiếm khuyết về khúc xạ ánh sáng của nhãn cầu chứ không làm mắt mạnh hơn hay yếu đi.
13. Mắt đỏ cũng là mối ưu tư của nhiều người. Bình thường, trên giác mạc có một số mạch máu nhỏ xíu phủ lên. Khi nhiễm vi khuẩn, dưới tác hại của khói thuốc, hóa chất trong môi trường, uống nhiều rượu, làm việc bằng mắt quá lâu hoặc khi “nộ khí sung thiên”, tức giận... đều làm cho máu tụ lại nhiều, mắt sẽ đỏ lên...
Khi đỏ mắt do nhiễm bệnh hoặc gây ra do hóa chất cần đi bác sĩ để điều trị. Còn các trường hợp khác, chỉ cần dùng nước lạnh tạt vô mắt hoặc đắp khăn nước lạnh dăm phút lên mắt là có thể làm giảm đỏ mắt.
14. Duy trì chế độ ăn uống hợp lý, đa dạng, cân bằng có đầy đủ các chất dinh dưỡng, đặc biệt các sinh tố A, C, E., các khoáng chất kẽm, selenium...
Và đặc biệt là giữ tâm thân an lạc, giảm thiểu lo âu, buồn bực, ham muốn, giận hờn, ghen tức, đố kỵ...
“Trời sinh con mắt là gương
Người ghét ít ngó, người thương ngó hoài - ca dao.
Vì “ Ðôi mắt là cửa sổ của tâm hồn”, nhìn vào thấy hết...
Bác sĩ Nguyễn Ý Ðức, Texas-Hoa Kỳ

Thứ Hai, 4 tháng 6, 2012

Bạn biết gì huyệt Sinh Lý?

Thật sự về Đông Y , chúng ta thừa hưởng nhiều di sản quý báu của tiền nhân để lại.
Có nhiều thầy thuốc Đông Y người Trung quốc sang đây để chữa bệnh cho những người Minh hương cư ngụ tại đất Việt từ xưa . Có thầy thuốc Đông Y người Việt , sang Trung quốc học hỏi , rồi đem về truyền nghề lại cho dân Việt .
Đồng thời nước Việt có rất nhiều cây thuốc mà Đông Y Sỉ rất thích xử dụng.
Chúng ta có nhiều sách vở viết về Đông Y , nhưng đa số đều dùng từ ngữ Hán-Nôm mà người ngoài đều không hiểu tường tận ra làm sao.
Sau đây chúng tôi sai y lại danh từ Đông Y sang Việt ngữ ( một số thôi ) , ngỏ hầu chúng ta biết một tí ti về danh từ Đông Y ra sao.

Kinh Tâm ( là đường kinh hướng về trái tim ) , gồm có 9 huyệt :
KINH TÂM - có 9 huyệt
1 - CỰC TUYỀN : Cực = Nơi tận cùng. Tuyền = con suối (Hố nách)
2 - THANH LINH : Thanh = xanh. Linh = hiệu nghiệm
3 - THIẾU HẢI : Thiếu = chưa đủ, chưa lớn. Hải = hội tụ của các cửa sông.
4 - LINH ĐẠO : Hiệu nghiệm = LINH; nóng hay lạnh trong xương cốt, chính huyệt nầy > khi tác động sẽ giải tỏa (ĐẠO = dường dẫn)
5 - THÔNG LÝ : Liền với = THÔNG; bên trong, Tiểu trường = LÝ
6 - ÂM KHÍCH : Âm = mặt bên trong - thuộc âm. Khích = kích thích
7 - THẦN MÔN : Thần = Hồn = Tâm = Vía= Phách... Môn = cửa ra vô.
8 - THIẾU PHỦ : còn bé = THIẾU; nơi ở, nhà lớn = PHỦ.
9 - THIẾU XUNG : Huyệt cuối cùng của Thủ Thiếu Âm Kinh. Xung = nơi quan yếu.
(Ở ngón tay út, phía tay quay, cách gốc móng tay 0,1 thốn. Trên đường tiếp giáp da gan tay - mu tay)


Kinh Phế ( là đường Kinh hướng về Phổi ) , gồm có 11 huyệt
KINH PHẾ - có 11 huyệt
1 - TRUNG PHỦ : Ở giữa;= TRUNG; Nơi hội tụ, cái nhà lớn = PHỦ.
2 - VÂN MÔN : Hơi nước, mây = VÂN; Cửa ra vào = MÔN - cửa ra vào của khí trời.
3 - THIÊN PHỦ : Khí tự nhiên, khí trời = THIÊN; nhà lớn = PHỦ. Nơi chứa khí trời.
4 - HIỆP BẠCH : Đến gần = HIỆP; BẠCH = Trắng; nơi gần chỗ của cơ nhị đầu cánh tay, chỗ thịt màu trắng.
5 - XÍCH TRẠCH : Đơn vị đo = XÍCH; Cái ao = TRẠCH.Nơi trũng cách lằn chỉ cổ tay 1 xích.
6 - KHỘNG TỐI : Cái mũi = KHỔNG; tới - lui = TỐI. Dẫn đến mũi, thông phế khí.
7 - LIỆT KHUYẾT : Tách ra = LIỆT (Liệt vị, trong bóng đá); Nơi lõm vào, chỗ trũng = KHUYẾT. Chỗ lõm trên mỏm xương quay.
8 - THÁI UYÊN : Quá, nhiều = THÁI; rất sâu, chỗ lõm = UYÊN (uyên bác = hiểu sâu).
9 - KINH CỪ : Đường lưu hành của khí = KINH; sự đau, khó chịu = CỪ (cừ rừ).
10 - NGƯ TẾ : Con cá = NGƯ; bày lên, bày ra nơi cao = TẾ (trong tế và lễ = dâng cúng).
11 - THIẾU THƯƠNG : Còn nhỏ, còn non = THIẾU; Âm - tiếng có trường độ cao - (cung thương là tiếng mẹ) = THƯƠNG. Nơi cuối của Kinh khí (Phế khí).

Nhưng tựu trung có 2 Kinh vô cùng quan trọng là Kinh Nội Quan và Kinh Ngoại Quan .
Nội quan là Nội = bên trong , Quan = là thành quách quan ải .
Kinh nầy kích thích chất kích thích tố ( ta gọi là hormone ).
Động đến kinh nầy sẽ kích thích cơ thể tiết ra nhiều hormone hơn bình thường.
Tây Y rất quan trọng về chất kích thích tố nầy . Họ , Tây Y muốn tạo cho nhiều kích thích tố ( hormone ) thì họ dẩn chúng ta đến sự xử dụng Vitamins…Như Vitamin A, B,C , D, E….và những chất minerals .
Thì Đông Y cũng vậy , thầy thuốc Đông Y hướng chúng ta ăn những món thực phẩm cần cho cơ thể…như dùng gà ác ( gà đen ) hoặc uống rể cây mà Đông Y sỉ biết dược liệu có thể tạo ra chất hormone vậy .
Đó là Kinh Nội Quan là vậy.
Sau đó có Kinh Ngoại Quan ( là bên ngoài thành quách , quan ải ) là chú trọng đến Kinh Huyệt bên ngoài mặt …
Đông Y sỉ rất sợ bệnh nhân vướng một trong Tứ độc ( 4 độc ) , gồm có :
1.- Không nói được
2.- Không thấy được
3.- Không cử động được
4.- Không nghe được .
Vì cướng vào Tứ độc thì Dông Y sỉ cứu chữa bệnh nhân rất cực khổ vô cùng.
Tây Y và Đông Y đều chung quan niệm khi mới chớm bệnh thì nên đem bệnh nhân đến thầy thuốc lập tức , đừng để bệnh nhân quá thời hạn cứu chữa.
Đông Y không có danh từ Sinh Lý , vì chúng tôi muốn gọi thêm cho dể hiểu mà thôi .
Sinh Lý nơi đây là nói đến sự sinh lý , hoạt động liên quan đến tình dục giữa Nam và Nữ vậy .
Đối với những người tu hành thì huyệt Sinh Lý cần phải dẹp bỏ , không thể kích thích huyệt sinh lý nầy được .
Như chúng tôi trình bày trước đó , huyệt Nội Quan là huyệt rất quan trọng.
Khi mà địch nhập quan là kể như thành trì quan ải đó “ xong rồi “.
Đông Y Sỉ khi học nghề thuốc và hành nghề cứu nhân độ thế thì huyệt nầy bắt buộc Y sỉ phải nằm lòng.
Nội quan là huyệt có phạm vi sử dụng rất rộng rãi. nó là huyệt Lạc nối với kinh Tam tiêu, còn thông qua giao hội với mạch âm duy liên lạc với lục kinh ở vùng ngực. bụng. đặc biệt có quan hệ mật thiết với kinh Nhâm, Xung, Can, Phế.
Theo "Giáp Ất kinh" nó cũng là một trong "Bát mạch giao hội huyệt". ( Nên nhớ ý nghĩa của chữ Hán là Kinh Giáp Ất là kinh quan trọng nhật . Như Giáp , Ât`, Bính Định , Mậu Kỷ , Canh Tân , Nhâm Quý ..Giáp Ất đứng đầu bảng . Đông Y Sỉ phài học thuộc nằm lòng Giáp Ất Kinh bí quyết nầy )
Bởi vậy, nó có tác dụng điều chỉnh hữu hiệu các rối loạn bệnh lý ở ngực, sườn, phổi, họng, thực quản, dạ dày tạo nên những công dụng đặc trưng của nó.
1.- Đối với bệnh lý Hô hấp . Nó trị được bệnh thuộc về hô hấp , như hen suyển , khó thở , nghẹt thở .
2.- Đối với hệ thống tim mạch , Nó trị được bệnh áp huyết cao , loạn nhịp tim , xây xẩm mặt mày .
3.- Đối với hệ thống tiêu hóa . Nó trị được hệ thống dạ dày , đường ruột , cầm được tiêu chảy .
4.- Đối với hệ thần kinh . Nó trấn áp được hệ thần kinh , làm cho bệnh nhân trở lại điều hòa .
Điều đặc biệt là nó trấn áp được chứng xuất tinh sớm của những người “ vừa đi đến chợ thì đã hết tiền “…
Dẩn giãi thêm :
Tại sao gọi là “nội quan”? “nội” có nghĩa là bên trong, “quan” có nghĩa là cửa ải, huyệt này là nơi cửa ải quan trọng phía trong nơi kinh khí vào ra, cho nên gọi là nội quan (trái với huyệt ngoại quan).


Nội quan là một huyệt vị rất thông dụng trong châm cứu, nằm trên đường kinh thủ quyết âm tâm bào, có công dụng ích tâm an thần, hòa vị giáng nghịch, khoan hung lý khí, trấn tĩnh chỉ thống, thường được dùng để chữa các chứng bệnh như đau cẳng tay, viêm khớp cổ tay, viêm cơ tim, thiểu năng tuần hoàn động mạch vành tim, suy nhược thần kinh, liệt bại chi trên, viêm loét dạ dày tá tràng... và xuất tinh sớm (đông y gọi là tảo tiết).
Vậy cách xác định vị trí của huyệt và phương thức tác động như thế nào? Nội quan nằm ở mặt trước cẳng tay, giữa hai gân cơ gan tay lớn và gan tay bé (gấp bàn tay vào cẳng tay và nghiêng bàn tay vào phía trong cho nổi rõ khe cơ), trên nếp gấp khớp cổ tay 2 thốn, mỗi bên một huyệt.


Khi tác động, dùng ngón tay cái day bấm lần lượt từng bên, mỗi bên trong 2 phút với một lực tương đối mạnh sao cho đạt cảm giác căng tức, tê nặng lan xuống bàn tay là được.
Mỗi ngày day bấm 2 lần, tốt nhất là vào buổi sáng khi ngủ dậy và buổi tối trước khi đi ngủ.
Khi sinh hoạt vợ chồng, người vợ dùng hai ngón tay cái của mình đặt vào hai huyệt nội quan của người chồng và day bấm liên tục với một lực vừa phải.
Mỗi khi người chồng có cảm giác như đang sắp xuất tinh thì người vợ lập tức bấm vào hai huyệt với một lực khá mạnh.
Đương nhiên điều này đòi hỏi giữa hai người phải có sự phối hợp nhịp nhàng và kịp thời.
Nếu hiệu quả đạt được chưa thật sự mĩ mãn thì hằng ngày có thể kết hợp day bấm thêm huyệt hội âm.
Huyệt vị này nằm ở giữa bìu và hậu môn, là nơi hội tụ của các nếp da chạy từ hậu môn, phần sinh dục ngoài và hai bên háng tới, có công dụng bổ thận cố tinh, thanh lợi thấp nhiệt.
Phương thức tác động: dùng ngón tay giữa day bấm huyệt với một lực vừa phải trong 2 phút.
Trong lúc sinh hoạt vợ chồng, khi có cảm giác sắp xuất tinh, người chồng tự mình dùng ngón tay trỏ hoặc ngón tay giữa bấm huyệt vị này một lực thật mạnh thì hiệu quả sẽ chắc chắn hơn.

Dược liệu trị bệnh tiểu đường ( Diabetes ) hiệu nghiệm bất ngờ

Chúng ta sống trong thế kỷ điện tử , rộn rịp không ngừng nghỉ được một giây.
Nhiều bệnh lạ xuất hiện , nhiều thuốc hay sáng chế ra được.
Nhưng chúng ta vướng một trong 2 căn bệnh mà ngày xưa và ngày nay khó lòng trị dứt.
Đó là bệnh cao máu ( hypertension) và bệnh tiểu đường ( diabetes).
Hiện nay thuốc tây trị bệnh cao máu thì thuốc của Nhật tung ra và được cơ quan FDA Hoaky chấp thuận dể dàng . Đó là loại thuốc mang tên Benicar HCT ( olmesartan medoxomil.Hydrochlorothiazide ) mới nhất. Thông thường những người bị bệnh cao máu họ uống 2 loại thuốc mà thuốc làm khó chịu nhất là thuốc lợi tiểu . Nghĩa là tăng lượng nước tiểu nhiều hơn thường lệ. Cho nên ban đêm là một cực hình khi phải đi tiểu tiện đối với người lớn tuổi.
Nay với thuốc trên từ Nhật bán khá chạy tại Hoaky thì miễn được loại thuốc lợi tiểu nói trên , nghĩa là mỗi ngày chỉ cần 1 viên Benicar HCT là đủ rồi.
Thuốc nầy do hãng Dược phẫm của Nhật mang tên Daichi-Sankyo . Hãng nầy nổi tiếng chế tạo ra thuốc dán nhức mõi mà dân Á Châu ưa chuộng là Salonpas.
Trở lại bệnh tiểu đường…
Bệnh nầy nếu càng để lâu không ngăn ngừa kiêng khem thì vô cùng nguy hiểm.
Biến chứng chót là bệnh nhân bị mù hẳn và chết trong sự đau đớn vô cùng…
Thuốc Ta , thuốc Bắc , thuốc Tây hầu như không trị hết bệnh nầy.
Tại Hoaky dân chúng sợ nhất bệnh nầy. Hàng ngày trên Tivi nghe khuyến mãi nhiều loại thuốc trị bệnh tiểu đường,.
Còn trường học Trung học Hoaky ( nhất là California ) thì chánh phủ không cho học trò tiêu thụ uống nước ngọt trong trường học nữa.
Những máy bán nước ngọt như Coca Cola , 7Up….đều bị dẹp bỏ mà thay thế bằng những máy bán nước lọc , được đặt tại góc sân chơi của học trò.
Nhưng có một loại được thảo mà vô cùng hiệu nghiệm trị bệnh tiểu đường đó là hạt Methi hay hạt Fenugreek , dân Việt gọi làhạt của cỏ cà ri.





Dân Ấn thường xuyên trộn bột nầy trong cơm, ta gọi là cơm nị vậy.
Họ làm bánh luôn.



Bạn nên xử dụng bột hay hat Methi nầy cho sự trị liệu bệnh tiểu đường. Cho dù không cò bệnh mà dùng cũng vô hại vì người Ấn ho5 trộn với cơm hay trộn với bột cà ri mà làm cà ri.
Cỏ cà ri cí thể ăn sống như rau xà-lách soon vậy.
Bột Mehti có bán sẳn tại các tiệm thuốc Vitamin khắp nơi , muốn rẻ bạn đến chợ siêu thị Á Đông hay tiệm bán gia vị của người Ấn thì rất rẻ nhiều lần hơn.



(Theo Forum vietsciences)