Sau Nhức đầu thì Đau lưng Lower Back Pain là nguyên nhân thứ nhì gây đau cho mọi người, đặc biệt là với người cao tuổi.. Chăm sóc đau lưng cũng là nguồn phí tổn khá cao, có lẽ chỉ sau các bệnh về tim.
Với nhiều nhà chuyên môn y tế thì Đau Lưng hầu như là một căn bệnh của đời sống gây ra do thói quen bất thường của người bệnh. Vì họ đứng, họ đi, họ nâng nhấc hoặc lôi kéo sự vật nặng không đúng cách, đưa tới nguy cơ tổn thương cho các thành phần của lưng. Khi đã bị một lần thì đau lưng cũng có nguy cơ tái phát.
Các nhà chuyên môn cũng ước lượng là 80% các trường hợp Đau Lưng có thể phòng ngừa được nếu ta để ý một chút hoặc nếu ta có vài kiến thức căn bản về cột sống.
Lưng là phần dưới của thân mình gồm có 5 đốt xương sống, các gân, dây chằng, cơ bắp để giữ lưng ngay thẳng. Các đốt xương này chịu đựng sức nặng của phần trên của thân mình, cho nên chúng rất dễ tổn thương.
Từ các đốt sống này xuất phát dây thần kinh não tủy. Giữa các đốt sống là đĩa sụn liên hợp giúp cột sống cử động trơn tru.
Ðau lưng thường thường gây ra do ba nguyên nhân chính:
-căng cơ bắp-dây chằng trong các hoàn cảnh như mập phì, có thai, người cao tuổi ít vận động, nâng mang vật nặng mà lại dùng sức mạnh của lưng, tư thế không ngay thẳng, nhiều xúc động mạnh…
-thoái hóa đĩa đệm
-viêm mặt khớp xương.
Ngoài ra, bị chấn thương, u bướu, viêm nhiễm cột sống, nằm ngủ trong vị thế bất thường hoặc nệm quá mềm cũng là nguy cơ gây đau lưng. Nhiều trường hợp phụ nữ với nhũ hoa quá khổ cũng gây ra đau lưng vì lưng chịu một sức nặng ngoài khả năng.
Người cao tuổi thường hay bị đau lưng vì sự thoái hóa cột sống, cơ bắp dây chằng lỏng lẻo, đốt cột sống dễ bị nghiêng vẹo, đè vào dây thần kinh não tủy, gây ra đau. Với các bác, chỉ khom khom di chuyển một chậu cây cảnh hoặc cúi xuống bế đứa cháu nội ngoại cũng dễ dàng ôm lưng nhăn nhó.
Theo các nhà chuyên môn, 80% dân chúng đều bị đau lưng một vài lần nào đó trong cuộc đời. Đau lưng là lý do hàng đầu khiến cho người dưới 45 tuổi phải nghỉ việc.
Đau lưng có thể là cấp tính hoặc kinh niên.
Cấp tính thường kéo dài khoảng 4 tuần lễ còn kinh niên thì liên tục đau, có khi cả dăm ba tháng.
Những cơn đau và cứng khớp thường xảy ra vào buổi sáng sớm và xế chiều. Ban đêm cơn đau khiến người bệnh khó ngủ.
Đau cũng thường thấy ở dưới chân khi đi lại hoặc đứng lâu.
Phòng tránh
Phòng ngừa có mục đích tránh các căng dãn không cần thiết cho cơ bắp và cũng để tăng cường sức mạnh cho các bắp thịt hỗ trợ cột sống.
1- Khi mang vật nặng, không nên khom lưng xuống để nhấc vật đó lên, mà ngồi xuống, hai tay ôm cầm vật đó rồi từ từ đứng lên qua sức mạnh của đầu gối, như vậy tránh được sự tổn thương cho lưng.
2- Khi vật nặng nằm ở trên bàn, ta có thể ôm vào bụng hay quay lưng ôm đồ vật vào lưng để mang đi.
3- Đừng đi giầy gót quá cao, làm xương sống xiêu vẹo, yếu.
4-Giữ dáng điệu ngay ngắn.
5-Khi đứng, bụng thót phẳng , hướng xương chậu về phía sau sẽ giúp phần dưới của cột sống vững hơn. Nếu cần đứng lâu thì đặt một chân lên vật cao khoảng hai tấc để ngả xương chậu về phía sau.
6-Ngồi lâu đều gây nhiều khó chịu cho lưng. Vì thế lâu lâu nên đứng dậy, đi qua đi lại, thư dãn xương lưng. Tránh ngồi trên nệm ghế quá mềm.
7-Nệm xe đều gây đau lưng khi ngồi quá lâu. Nên lót lưng với một cái gối nhỏ và để tay trên vật tựa; kéo ghế gần về phía trước để đầu gối cao bằng hông.
8-Nên ngủ trên nệm cứng; nằm nghiêng, đầu gối co thước thợ hoặc khi nằm ngửa thì lót gối dưới khuỷu chân. Gối cao vừa phải để đầu và mình ngang bằng;
9- Khi cần coi tivi hoặc đọc sách lâu, nên nằm để tránh căng cho xương sống.
10-Quần áo không nên quá bó sát vào người để cơ bắp, xương khớp không bị gò bó..
11-Tập thể dục với các cử động làm thư giãn khớp xương và bắp thịt, tăng cường sức mạnh cho bắp thịt, dây chằng ở lưng.
12-Buổi sáng ngủ dậy, trước khi bước ra khỏi giường nên tập các cử động vẹo người qua lại để thư giãn lưng. Lý do là sau bẩy giờ nằm ngủ, xương khớp, bắp thịt cứng lại, nếu đứng dậy ngay có thể té ngã, gây tổn thương cho lưng và các phần khác của cơ thể.
13-Không hút thuốc lá vì nicotine làm giảm máu lưu thông tới lưng khiến cơ khớp yếu.
14-Giảm cân nếu quá mập, vì mập phì làm mô mềm ở lưng căng cương. Hai phần ba người bị đau lưng kinh niên đều bị béo phì.
Vài cử động để thư dãn cột sống
1-Ðứng thẳng, hai bàn chân xa ngang thân người, úp hai bàn tay lên ngang lưng. Ðầu gối ngay thẳng, ưỡn lưng về phía sau càng xa càng tốt. Giữ nguyên vị trí trong vài ba giây rồi trở lại dáng điệu bình thường. Làm cùng động tác năm lần.
2- Ðứng ngay thẳng, tựa hai tay lên phía sau của thành ghế. Ðầu gối thẳng, dơ một chân về phía sau càng cao càng tốt. Hạ chân xuống từ từ và làm cùng động tác với chân kia. Làm năm động tác liên tiếp cho mỗi chân.
3-Nằm sấp, hai chân duỗi thẳng, khuỷu tay gấp, hai bàn tay úp xuống sàn. Dùng hai tay đẩy thân mình lên càng cao càng tốt, mông và chân vẫn phẳng dưới sàn. Nhắc lại cùng động tác 10 lần.
4-Nằm ngửa, đầu gối gập lại, hai bàn chân để dưới đất. Từ từ nhấc đầu và vai khỏi sàn, hướng hai bàn tay về phía đầu gối, giữ vị trí trong mười nhip đếm rồi nằm thẳng mình trở lại. Nhắc lại cùng cử đông năm lần.
5-Nằm sấp, chân tay đụng mặt bằng. Nâng cao một chân, đếm từ 1 đến 10 rồi hạ chân xuống. Nhắc lại cùng cử động với chân kia. Làm 5 lần mỗi chân.
Bác sĩ Nguyển Ý Đức
Texas- Hoa Kỳ
Thứ Hai, 23 tháng 7, 2012
“Chữa viêm xoang không khó!”
Đó là lời khẳng định của MC Thúy Nga, một “nạn nhân” của bệnh viêm xoang suốt 10 năm.
Các khán giả của chương trình “Sức khỏe cho mọi người” phát sóng trực tiếp trên VTV2 lúc 16h00 chủ nhật hàng tuần, hẳn rất quen thuộc với người dẫn chương trình có giọng nói cuốn hút - MC Thúy Nga. Tuy nhiên, ít ai biết rằng chị từng rất khổ sở vì chứng viêm xoang gây nhức đầu sổ mũi và gây ảnh hưởng đến công việc dẫn chương trình.
Thúy Nga kể: “Mình đã từng dùng nhiều loại kháng sinh. Nhưng bệnh cũng chỉ đỡ được trong một thời gian ngắn rồi lại đâu vào đó, mà người cũng mệt phờ vì tác dụng phụ. Thật may, trong một lần làm phóng sự cho chương trình “Sức khỏe cho mọi người”, nghe PGS.TS Dương Trọng Hiếu (bệnh viện Y học cổ truyền TƯ) giải thích, mình mới hiểu dùng các thuốc kháng sinh hay các thuốc xịt tại chỗ chỉ làm giảm được triệu chứng, muốn điều trị tận gốc bệnh để phòng ngừa tái phát thì nên tìm đến các thuốc Đông y và phải biết rửa mũi đúng cách".
“Mình đã dùng thử 6 hộp Thông Xoang tán theo chỉ dẫn của bác sĩ Hiếu và dùng xi-lanh bơm thật nhiều nước muối sinh lý vào mũi để rửa sạch các xoang. Ngày làm 3-4 lần kết hợp với uống nhiều nước nữa. Bác sĩ cũng lưu ý mình là để nước muối chảy xuống họng rồi nhổ ra chứ không được xì ra qua đường mũi nhé”, Thúy Nga chia sẻ.
Và theo những chỉ dẫn đáng quý này, Thúy Nga đã không còn tái phát bệnh trong suốt 1 năm qua.P/s: Tôi cũng bị viêm xoang nhức đầu rất khó chịu, nhất là ngồi trong buồng điều hòa có gió thổi vào đầu rât khó chịu. Tôi đã uống được 4 hộp sau đó thấy khỏi nên dừng. Từ khi dừng uống thuốc đến nay (khoảng 1 năm), tôi thường uống nước lạnh, rượu bia, ăn cay. Hiện tại tôi thấy có dấu hiệu tái phát nên tôi tiếp tục uống (có lẽ phải kiêng cữ cẩn thận mới đươc!).
Thông xoang tán gồm các vị dược liệu đầu bảng trong điều trị viêm xoang. Thông xoang tán là sản phẩm được nghiên cứu và chuyển giao từ một bài thuốc gia truyền, chứa các vị dược liệu đầu bảng trong trị viêm xoang như tân di, phòng phong....giúp làm loãng và tiêu tán đờm thấp ứ trệ, làm sạch và thông thoáng các xoang, giảm nhanh triệu chứng đau nhức, căng tức, hắt hơi, sổ mũi, ngạt mũi, tiết dịch mũi, v.v....Đặc biệt, Thông xoang tán giúp kháng khuẩn, chống viêm, chống dị ứng và tăng cường sức đề kháng, giúp phòng và giảm nguy cơ tái phát bệnh.
ĐT tư vấn: 043.9953901
Website viemxoang.vn
Thứ Bảy, 21 tháng 7, 2012
Nước uống từ thảo dược - Nguyễn Lân Dũng
Trên thế giới ngoài nước trà chế biến từ lá của cây Chè xanh (tên khoa học là Camellia sinensis, đôi khi được gọi là chè Assam với tên khoa học của một loài phụ là đôi Camellia sinensis assamica). Cây chè có nguồn gốc từ khu vực Đông Nam Á và những nước có chè nổi tiếng là Trung Quốc (bao gồm cả Đài Loan, Nhật Bản, Việt Nam, Sri Lanka...). Ngoài lá dùng để làm các loại nước uống (chè tươi, trà nóng, trà đá...) thì hạt còn được dùng để ép dầu. Nước ta hàng năm xuất khẩu trung bình tới khoảng 2000 tấn chè khô. Diện tích trồng chè là khoảng 125 000 ha và cho sản lượng khoảng trên 1 triệu tấn mỗi năm. Ngoài cây chè thông thường, một số vùng núi phía Bắc còn có Chè tuyết (hay chè San tuyết) lấy từ những cây chè cổ thụ lâu năm mọc trên núi cao (nhất là ở vùng Suối Giàng (Yên Bái). Thời Pháp thuộc, vào thập niên 1930 chè được đem trồng một cách quy mô trên cao nguyên vùng B’Lao và Dji Ring và vùng này sau chiếm địa vị là vựa chè của tỉnh Lâm Đồng. Khi hái chè người ta phân biệt loại 1 là Chè búp (chỉ chọn toàn búp non của cây chè), loại 2 là lá chè thứ hai, thứ ba. Còn chè lấy từ lá thứ tư, thứ năm được gọi là loại được dùng để chế biến Chè mạn.
Bản chất chè là một thảo dược. Các nghiên cứu ở nhiều nước trong lá chè Assam có chứa 22.2% polyphenol, 17.2% protein, 4.3% caffeine, 27.0% cellulose thô, 0.5% tinh bột, 3.5% đường khử, 6.5% pectin, 2.0% chất chiết xuất bằng ether và 5.6% tro (muối khoáng). Trong 100 g chè khô còn có chứa một nhiệt lượng khoảng 293 calo, 8.0 g nước, 24.5 g protein, 2.8 g lipidt, 58.8 g hydratcarbon, 8.7 g cellulose, 5.9 g tro, 327 mg Ca, 313 mg P, 24.3 mg Fe, 50 mg Na, 2700 UG đương lượng beta-carotene, 0.07 mg thiamine (B1), 0.8 mg riboflavin (B2), 7.6 mg niacin (B3), và 9 mg acid ascorbic (C) (theo Duke và Atchley, 1984). Lá chè còn có chứa acid malic và acid oxalic cùng với kaempferol, quercitrin, theophylline, theobromine, xanthine, hypoxanthine, adenine, gôm (gums), dextrins, và inositol. Thành phần dầu bay hơi chủ yếu (0.007-0.014% trọng lượng tươi của lá) chủ yếu là hexenal, hexenol, và các aldehyde bậc thấp, butyraldehyde, isobuteraldehyde, isovaleraldehyde, n-hexyl, benzyl và các phenylethyl alcohol, phenol, cresol, hexoic acid, n-octyl alcohol, geraniol, linalool, acetophenone, benzyl alcohol, citral. Một số thành phần trong lá chè có tác dụng chống oxy hóa như catechin, epigallocatechin, epigallocatechin gallate (Leung, 1980).
Tác dụng dược liệu của chè được xác định từ lâu trong các y văn Trung Hoa. Chủ yếu là các tác dụng chống độc (antitoxic), lợi tiểu (diuretic), long đờm (expectorant), kích thích (stimulant) và kích hoạt dạ dày (stomachic) (theo Leung, 1980). Chè còn có tác dụng co (astringent), kích thích (stimulant) và tác động như chất làm dịu thần kinh (giảm đau đầu). Nó còn có tác dụng làm tiêu tan rối loạn thần kinh (digestive disturbances). Lá chè có tạc dụng dieetjn trực khuẩn lỵ và amib lỵ (amebic dysentery), chống viêm dạ dày-ruột (gastroenteritis) và viêm gan (hepatitis). Ngoài ra còn có hiệu ứng chống xơ vữa động mạch (antiatherosclerotic) và có hoạt tính của vitamin P (theo Leung, 1980).. Duke và Wain (1981) chứng minh chè được dân gian dùng để giảm đau (analgesic), giải độc (antidotal), chất làm se (astringent), trợ tim (cardiotonic), thông trung tiện (carminative), chống viêm (demulcent), trợ giúp tiêu hóa (digestive), lợi tiểu (diuretic), long đờm (expectorant), tăng tiết sữa (lactagogue), gây mê (narcotic), bổ thần kinh (nervine), thanh nhiệt (refrigerant), kích thích (stimulant), kích hoạt dạ dày (stomachic)... .
Chè rõ ràng là một loại đồ uống tốt, vừa có tác dụng giải khát, vừa có tác dụng bồi dưỡng sức khỏe, tăng sức đề kháng với nhiều loại bệnh tật (kể cả bệnh ung thư).
Gần đây trên thị trường xuất hiên Trà Dr. Thanh (loại có đường và loại không đường) được giới thiệu là chế tạo từ 9 loại thảo mộc cung đình và có tác dụng thanh lọc cơ thể. Tôi uống thử và thấy hương vị rất dễ chịu. Ngay cả loại không đường vẫn có vị ngọt của thảo mộc.
Tìm hiểu về 9 loại thảo mộc cung đình tôi thấy toàn là những dược liệu quý, có tác dụng bồi bổ sức khỏe và giúp hạn chế một số bệnh tật.
1-Hạ khô thảo (chứa 1,8% trong trà Dr.Thanh): Đây là loại thảo dược có tên khoa học là Prunella vulgaris L., thuộc họ Hoa Môi (Lamiaceae). Cây vào mùa xuân thì tươi tốt, mùa hạ khô héo, cây sống dai, thân vuông màu hơi tím đỏ, lá mọc đối, hình trứng hay hình mác dài. Hạ khô thảo vị đắng, tính hàn, có thể đi vào can - đởm (hai tạng phủ có liên quan với nhau).Theo Đông y Hạ khô thảo có vị đắng, tính hàn, thanh hoả minh mục, tán kết tiêu thũng; có tác dụng lợi tiểu mát gan, sát trùng, tiêu độc, trị đau mắt hay chảy nước mắt, tràng nhạc (lao hạch), bướu cổ, áp xe vú, viêm tử cung và âm hộ, gan mật nhiệt, huyết áp cao; viêm thần kinh da, lở ngứa mụn nhọt, hắc lào, cước khí, vẩy nến, phù thũng, tiểu tiện ít không thông. Ở Pháp, người ta cho nó có các tính chất làm se, tiêu sưng, làm giảm đường huyết, dùng trong trị tiểu đường, dùng ngoài chữa mụn nhọt, đau thắt, viêm họng, viêm lưỡi, viêm miệng. Ở Trung Quốc, dân gian dùng trị đái buốt, lao hạch, đau mắt phong sưng đỏ; cũng trị được cao huyết áp, giữ mức hạ áp được lâu, giảm bớt bệnh buồn rầu. Hạ khô thảo chứa alcaloid tan trong nước, 3,5% muối vô cơ, tinh dầu. Trong các muối vô cơ có chủ yếu là clorua kali. Tinh dầu chứa d-camphor (khoảng 50%), fenchon, một lượng nhỏ rượu fenchylic. Chất đắng là prunellin (trong đó phần không đường là acid ursolic, ngoài ra còn có denphinidin cyanidin. Ở Pháp, người ta đã xác định trong cây có chất đắng, tanin, tinh dầu, chất béo, lipase, một glucosid tan trong nước (0,70g/kg cây khô) và một saponosid acid (1,10g). Hạ khô thảo còn có tác dụng chống sự tăng trưởng của tế bào ung thư di căn ( thử nghiệm trên ung thư cổ tử cung của chuột nhắt).
Như vậy Trà Dr. Thanh đã biết khai thác các loại thảo dược cung đình được nhân dân ta vẫn thường dùng theo Đông y để chữa bệnh này, bệnh khác. Hướng khai thác này theo tôi là cần được khuyến khích và cần được nghiên cứu sâu hơn.
John Stith Pemberton(08/01/1831 - 16/08/1888), cha đẻ Coca Cola Ở nước ngoài các loại nước giải khát nổi tiếng như Coca Cola, Pepsi Cola cũng được khai thác từ các thảo mộc. Coca Cola được sử dụng hai nguyên liệu là lá cây Coca và quả của cây Cola. Nhãn hiệu Coca Cola được đăng ký năm 1893 tại Mỹ và cha đẻ của Coca Cola là một dược sĩ. Cây Coca có tên khoa học là Erythroxylum coca, thuộc họ Coca(Erythroxylaceae). Lá Coca có chứa loại alkaloid là Cocaine (từ 0,3 đến 1,5%), ngoài ra còn có các alkaloid khác nhu methylecgonine cinnamate, benzoylecgonine, truxilline, hydroxytropacocaine, tropacocaine, ecgonine, cuscohygrine, dihydrocuscohygrine, nicotine và hygrine.
Nguồn gốc ở Nam Mỹ, chủ yếu ở Bolivia, Peru, trên các vùng cao, lá lớn, to và dài. Cây coca được nhập vào nước ta cách đây 50 năm, trồng làm cảnh ở các vườn hoa chính của TP Hồ Chí Minh vì màu lá rất xanh, hoa màu trắng, quả màu đỏ, lại là thứ coca cảnh Erythroxylon coca var. novogratene. Lá coca dễ nhận vì có hai nếp gấp của lá trong chồi (gân giả). Nguồn gốc cây này ở Nam Mỹ, chủ yếu là ở Bolivia, Peru, trên các vùng cao, lá lớn, to và dài. Từ xa xưa, người dân Nam Mỹ đã dùng lá coca để nhai với vôi hay tro đốt như người Việt Nam dùng lá trầu để nhai trầu thì sẽ cảm thấy không đói.
Hạt Cola được lấy từ loài cây Cola acuminata (họ Bông-Malvaceae). Chưa rõ lắm về các hoạt chất chứa trong hạt Cola. Hạt Cola có tính chất kích thích, nên được sử dụng cả trong nước giải khát Coca-Cola lẫn trong Pepsi. Hoạt chất kích thích này tương tự như Xanthine có chứa trong chocolate, tea, coffee, guarana và yerba mate. Hoạt tính kích thích tác động lên hệ thần kinh trung ương. Thành phần hóa học của hạt Cola gồm có caffeine (2- 3.5 %), theobromine (1.0-2.5%), theophylline, catechin, epicatechin, D-catechin, phenolic, phlobaphen, betaine, protein, tinh bột, lipid. các vitamin B1, B2, C, niacin, đường, gôm (gum), cellulose...
Tất nhiên công thức chế biến các loại nước giải khát Coca-Cola và Pepsi đều được bảo mật ở mức cao nhất.
Bản chất chè là một thảo dược. Các nghiên cứu ở nhiều nước trong lá chè Assam có chứa 22.2% polyphenol, 17.2% protein, 4.3% caffeine, 27.0% cellulose thô, 0.5% tinh bột, 3.5% đường khử, 6.5% pectin, 2.0% chất chiết xuất bằng ether và 5.6% tro (muối khoáng). Trong 100 g chè khô còn có chứa một nhiệt lượng khoảng 293 calo, 8.0 g nước, 24.5 g protein, 2.8 g lipidt, 58.8 g hydratcarbon, 8.7 g cellulose, 5.9 g tro, 327 mg Ca, 313 mg P, 24.3 mg Fe, 50 mg Na, 2700 UG đương lượng beta-carotene, 0.07 mg thiamine (B1), 0.8 mg riboflavin (B2), 7.6 mg niacin (B3), và 9 mg acid ascorbic (C) (theo Duke và Atchley, 1984). Lá chè còn có chứa acid malic và acid oxalic cùng với kaempferol, quercitrin, theophylline, theobromine, xanthine, hypoxanthine, adenine, gôm (gums), dextrins, và inositol. Thành phần dầu bay hơi chủ yếu (0.007-0.014% trọng lượng tươi của lá) chủ yếu là hexenal, hexenol, và các aldehyde bậc thấp, butyraldehyde, isobuteraldehyde, isovaleraldehyde, n-hexyl, benzyl và các phenylethyl alcohol, phenol, cresol, hexoic acid, n-octyl alcohol, geraniol, linalool, acetophenone, benzyl alcohol, citral. Một số thành phần trong lá chè có tác dụng chống oxy hóa như catechin, epigallocatechin, epigallocatechin gallate (Leung, 1980).
Tác dụng dược liệu của chè được xác định từ lâu trong các y văn Trung Hoa. Chủ yếu là các tác dụng chống độc (antitoxic), lợi tiểu (diuretic), long đờm (expectorant), kích thích (stimulant) và kích hoạt dạ dày (stomachic) (theo Leung, 1980). Chè còn có tác dụng co (astringent), kích thích (stimulant) và tác động như chất làm dịu thần kinh (giảm đau đầu). Nó còn có tác dụng làm tiêu tan rối loạn thần kinh (digestive disturbances). Lá chè có tạc dụng dieetjn trực khuẩn lỵ và amib lỵ (amebic dysentery), chống viêm dạ dày-ruột (gastroenteritis) và viêm gan (hepatitis). Ngoài ra còn có hiệu ứng chống xơ vữa động mạch (antiatherosclerotic) và có hoạt tính của vitamin P (theo Leung, 1980).. Duke và Wain (1981) chứng minh chè được dân gian dùng để giảm đau (analgesic), giải độc (antidotal), chất làm se (astringent), trợ tim (cardiotonic), thông trung tiện (carminative), chống viêm (demulcent), trợ giúp tiêu hóa (digestive), lợi tiểu (diuretic), long đờm (expectorant), tăng tiết sữa (lactagogue), gây mê (narcotic), bổ thần kinh (nervine), thanh nhiệt (refrigerant), kích thích (stimulant), kích hoạt dạ dày (stomachic)... .
Chè rõ ràng là một loại đồ uống tốt, vừa có tác dụng giải khát, vừa có tác dụng bồi dưỡng sức khỏe, tăng sức đề kháng với nhiều loại bệnh tật (kể cả bệnh ung thư).
Gần đây trên thị trường xuất hiên Trà Dr. Thanh (loại có đường và loại không đường) được giới thiệu là chế tạo từ 9 loại thảo mộc cung đình và có tác dụng thanh lọc cơ thể. Tôi uống thử và thấy hương vị rất dễ chịu. Ngay cả loại không đường vẫn có vị ngọt của thảo mộc.
Tìm hiểu về 9 loại thảo mộc cung đình tôi thấy toàn là những dược liệu quý, có tác dụng bồi bổ sức khỏe và giúp hạn chế một số bệnh tật.
1-Hạ khô thảo (chứa 1,8% trong trà Dr.Thanh): Đây là loại thảo dược có tên khoa học là Prunella vulgaris L., thuộc họ Hoa Môi (Lamiaceae). Cây vào mùa xuân thì tươi tốt, mùa hạ khô héo, cây sống dai, thân vuông màu hơi tím đỏ, lá mọc đối, hình trứng hay hình mác dài. Hạ khô thảo vị đắng, tính hàn, có thể đi vào can - đởm (hai tạng phủ có liên quan với nhau).Theo Đông y Hạ khô thảo có vị đắng, tính hàn, thanh hoả minh mục, tán kết tiêu thũng; có tác dụng lợi tiểu mát gan, sát trùng, tiêu độc, trị đau mắt hay chảy nước mắt, tràng nhạc (lao hạch), bướu cổ, áp xe vú, viêm tử cung và âm hộ, gan mật nhiệt, huyết áp cao; viêm thần kinh da, lở ngứa mụn nhọt, hắc lào, cước khí, vẩy nến, phù thũng, tiểu tiện ít không thông. Ở Pháp, người ta cho nó có các tính chất làm se, tiêu sưng, làm giảm đường huyết, dùng trong trị tiểu đường, dùng ngoài chữa mụn nhọt, đau thắt, viêm họng, viêm lưỡi, viêm miệng. Ở Trung Quốc, dân gian dùng trị đái buốt, lao hạch, đau mắt phong sưng đỏ; cũng trị được cao huyết áp, giữ mức hạ áp được lâu, giảm bớt bệnh buồn rầu. Hạ khô thảo chứa alcaloid tan trong nước, 3,5% muối vô cơ, tinh dầu. Trong các muối vô cơ có chủ yếu là clorua kali. Tinh dầu chứa d-camphor (khoảng 50%), fenchon, một lượng nhỏ rượu fenchylic. Chất đắng là prunellin (trong đó phần không đường là acid ursolic, ngoài ra còn có denphinidin cyanidin. Ở Pháp, người ta đã xác định trong cây có chất đắng, tanin, tinh dầu, chất béo, lipase, một glucosid tan trong nước (0,70g/kg cây khô) và một saponosid acid (1,10g). Hạ khô thảo còn có tác dụng chống sự tăng trưởng của tế bào ung thư di căn ( thử nghiệm trên ung thư cổ tử cung của chuột nhắt).
2-Hoa cúc (chứa 3,2% trong trà Dr.Thanh): Là hoa của cây Cúc, tên khoa học là Chrysanthemum indicum, thuộc họ Cúc (Asteraceae). Hoa có vị ngọt đắng, tính hơi hàn đi vào can thận, phế cho tác dụng tán phong giáng hỏa, thanh nhiệt, giúp cân bằng âm dương của can, giúp khí huyết lưu thông, giúp thư giãn, làm dịu căng thẳng thần kinh, giúp ngủ ngon, điều hoà kinh nguyệt, thúc đẩy hoạt động của hệ miễn dịch, giúp đào thải độc tố, làm giảm đau, chống viêm sưng, chữa mụn nhọt sưng đau, đau mắt đỏ, đau đầu chóng mặt, chữa cảm lạnh, cúm, viêm não nhẹ, viêm mũi, viêm da mủ, viêm vú, hoa mắt, huyết áp cao, viêm gan, kiết lỵ, chảy nước mắt nhiều. Dịch chiết xuất của Cúc hoa được xác nhận là có tác dụng chống vi khuẩn (antibacterial), chống nấm (antimycotic) và ức chế cả virus HIV-1 (theo Collins RA, Ng TB, Fong WP, Wan CC, Yeung HW,1997; Hu CQ, Chen K, Shi Q, Kilkuskie RE, Cheng YC, Lee KH, y 1994; Sassi AB, Harzallah-Skhiri F, Bourgougnon N, Aouni M, 2008; Marongiu B, Piras A, Porcedda S, et al.,2009).
3-Hoa sứ đỏ (còn gọi Hoa đại hay Đản hoa, chứa 1,5% trong trà Dr.Thanh): Hoa sứ đỏ có tên khoa học là Plumeria rubra (P. acutifolia, P. obtusifolia, thuộc họ Apocynaceae. Hoa có mùi thơm nhẹ, hay trồng ở các đền chùa. Theo Đông y hoa sứ đỏ đi vào kinh phế có tác dụng thông khí, dưỡng phế, vì vậy khi dùng hoa sứ đỏ để tắm sẽ làm da dẻ hồng hào, giúp lỗ chân lông đóng mở theo quy luật, ngăn cản khí độc vào lỗ chân lông gây bệnh. Khi uống, có tác dụng thông phế khí, tiêu đàm, thanh nhiệt, giải độc, hạ huyết áp.
4-Quả La hán (chứa 2,1% trong trà Dr.Thanh): Đây là quả chín của cây La Hán, tên khoa học là Momordica grosvenori Swingle, thuộc họ Cucurbitaceae. Theo Đông y thì La Hán quả có vị ngọt, tính mát, không độc, đi vào hai kinh phế và đại tràng. Có tác dụng thanh phế, hóa đàm, chỉ khát, lợi hầu, hóa đàm chỉ, nhuận tràng, thông tiện. Trong nhân dân thường dùng làm nước uống giải nhiệt, giúp cơ thể thư thái, chữa ho, thanh nhiệt, chữa tiện bí... La Hán quả có tỷ lệ đường cao gấp 300 lần so với mía, dễ hoà tan trong nước và dung dịch cồn, có tính ổn định tốt, không bị phân huỷ ở nhiệt độ 160 0C trong thời gian dài, không lên men. Glucosid ngọt từ quả La Hán có hiệu quả chữa bệnh, nâng cao chức năng hoạt động của dạ dày, giảm nóng, ẩm phổi, làm mất cảm giác khát, giảm đờm và chống virus. La Hán dùng rất tốt cho người mắc bệnh phổi họng, ho hen, huyết áp cao, tiểu đường…
4-Quả La hán (chứa 2,1% trong trà Dr.Thanh): Đây là quả chín của cây La Hán, tên khoa học là Momordica grosvenori Swingle, thuộc họ Cucurbitaceae. Theo Đông y thì La Hán quả có vị ngọt, tính mát, không độc, đi vào hai kinh phế và đại tràng. Có tác dụng thanh phế, hóa đàm, chỉ khát, lợi hầu, hóa đàm chỉ, nhuận tràng, thông tiện. Trong nhân dân thường dùng làm nước uống giải nhiệt, giúp cơ thể thư thái, chữa ho, thanh nhiệt, chữa tiện bí... La Hán quả có tỷ lệ đường cao gấp 300 lần so với mía, dễ hoà tan trong nước và dung dịch cồn, có tính ổn định tốt, không bị phân huỷ ở nhiệt độ 160 0C trong thời gian dài, không lên men. Glucosid ngọt từ quả La Hán có hiệu quả chữa bệnh, nâng cao chức năng hoạt động của dạ dày, giảm nóng, ẩm phổi, làm mất cảm giác khát, giảm đờm và chống virus. La Hán dùng rất tốt cho người mắc bệnh phổi họng, ho hen, huyết áp cao, tiểu đường…
5- Cam thảo (chứa 1,6% trong trà Dr.Thanh): Cam thảo hay Cam thảo Bắc là rễ của loài cây có hoa, tên khoa học là Glycyrrhiza uralensis, thuộc họ Đậu (Fabaceae). Cam thảo một vị được dùng trên 90% bài thuốc của Đông y. Cam thảo tính vị ngọt, bình, chủ yếu dùng vào bổ tì, thanh nhiệt, giải độc, hoãn cấp, nhuận phế và là vị thuốc dược tính điều hòa. Dùng cho người ốm đau lâu ngày, chân tay vô lực, hụt hơi, ít nói, ăn không ngon, tiêu hóa kém, đại tiện lỏng. Cam thảo kích thích chức năng bảo vệ của cơ thể giúp ngừa các dạng viêm loét rất hiệu quả. Theo một số nghiên cứu thì dùng cam thảo điều trị thành công bệnh viêm loét dạ dày với hiệu quả lên đến 91%. Cam thảo có tác dụng chữa viêm và chống dị ứng lại không gây tác dụng phụ có hại cho cơ thể .Cam thảo có tác dụng điều chỉnh cân nặng vì nó giúp duy trì mức độ acid trong dạ dày. Trong cam thảo có chất chống dị ứng nên điều trị các rối loạn về đường hô hấp rất hiệu quả. Cam thảo còn có vai trò giúp ngăn ngừa các bệnh sốt. Nhiều nghiên cứu cho biết có thể dùng Cam thảo trong điều trị các bệnh như bệnh Herpes, bệnh viêm gan mãn tính, xơ gan, thấp khớp, các triệu chứng của thời kỳ tiền kinh nguyệt và mãn kinh, làm giảm đường huyết, giúp nhuận tràng và lợi tiểu, chống các cơn co thắt...
Khi kết hợp trong bài thuốc này:
Hạ khô thảo là vị quân sẽ điều tiết gan mật, âm dương cân bằng.
Cúc hoa đóng vai trò thần đi với hạ khô thảo, giúp bình can giáng hỏa, giảm đau đầu choáng váng.
Hoa sứ đỏ giảm huyết áp giúp khí huyết lưu thông. Theo Đông y khí huyết lưu thông thì tâm và can hoạt động tốt, cơ thể thư thái.
La hán quả vị ngọt, giúp kiện tỳ (một tạng có chức năng biến thức ăn thành khí và huyết để nuôi dưỡng cơ thể), làm tỳ mạnh lên cho tiêu hóa tốt.
Cam thảo phải sao để giữ tính ôn giúp La hán quả “phát huy” bổ tỳ vị, và dẫn thuốc đi vào 12 kinh lạc.
Khi kết hợp trong bài thuốc này:
Hạ khô thảo là vị quân sẽ điều tiết gan mật, âm dương cân bằng.
Cúc hoa đóng vai trò thần đi với hạ khô thảo, giúp bình can giáng hỏa, giảm đau đầu choáng váng.
Hoa sứ đỏ giảm huyết áp giúp khí huyết lưu thông. Theo Đông y khí huyết lưu thông thì tâm và can hoạt động tốt, cơ thể thư thái.
La hán quả vị ngọt, giúp kiện tỳ (một tạng có chức năng biến thức ăn thành khí và huyết để nuôi dưỡng cơ thể), làm tỳ mạnh lên cho tiêu hóa tốt.
Cam thảo phải sao để giữ tính ôn giúp La hán quả “phát huy” bổ tỳ vị, và dẫn thuốc đi vào 12 kinh lạc.
6-Kim ngân hoa (chứa 1,4% trong trà Dr.Thanh): là hoa của cây Kim ngân là một cây thuốc được dùng trong phòng chữa ung thư của Đông y. Nó đang ngày càng được phát hiện thêm nhiều tác dụng quý, nên ngày càng được dùng nhiều hơn để đương nhiên trở thành cây thuốc quý của cả Đông, Tây y. Cây có tên là Kim ngân vì hoa có hai màu: Màu trắng vào buổi sáng và chuyển sang vàng buổi chiều. Tên khoa học là Lonicera japonica Thunb, thuộc họ Cơm cháy Caprifoliaceae. Theo Đông y: Kim ngân hoa tính mát lạnh, vị ngọt, hơi đắng, vào 4 kinh phế, tâm, tỳ, vị; không độc, có công năng thanh nhiệt, lợi thấp, giải độc, giải biểu, lợi tiểu. Nước sắc Kim ngân có tác dụng mạnh hơn các dạng bào chế khác; hoa tốt hơn cành lá (nếu dùng cành lá phải tăng liều lượng gấp 2 - 3 lần). Trong thành phần hoá học của Kim ngân hoa có nhiều Flavonoid. Hoa chứa Colymozid (Lonicerin), một số carotenoit (Scaroten), Cryptoxantin, Auroxantin; lá chứa Loganin, có tác dụng kháng khuẩn, tăng cường chuyển hoá chất béo.
7- Hoa Mộc miên hay Hoa gạo, Hoa Hồng miên (chứa 0,7% trong trà Dr.Thanh). Cây gạo có tên khoa học là Bombax ceiba, thuộc họ Gạo (Bombacaceae). Đây là loài có nguồn gốc ở Ấn Độ nhưng hiện nay đã được trồng rộng rãi ở các bang của Malaysia, Indonesia, miền nam Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan và Việt Nam.
Đông y cho rằng, hoa mộc miên có vị đắng chát, hơi ngọt, tính bình, tác dụng làm se, tiêu viêm, sát khuẩn, thông huyết nên đã trở thành dược liệu sử dụng nhiều trong trị liệu. Thường được dùng để chữa đau bụng tiêu chảy, kiết lị vi khuẩn, viêm dạ dầy và viêm ruột, chảy máu dạ dày, nôn ra máu, đại tiện ra máu, chữa bỏng, chữa ứ huyết sưng đau, chữa mụn nhọt sưng tấy đau nhức, chữa thiếu máu nhược sắc do rong kinh, mất máu, phù thũng sau khi sinh, chữa sốt nóng ở trẻ em, chữa viêm khớp, tê đau do phong thấp, đau thắt lưng và đùi, chữa ít sữa, chữa suy nhược cơ thể, thần kinh yếu choáng do thiếu máu ...
8- Bung Lai, còn gọi là Chua kè, Cò kè, Mé (chứa 0,7% trong trà Dr.Thanh). Tên khoa học của cây Bung Lai là Microcos panicutula L., thuộc họ Đay (Tiliaceae). Lá có vị nhạt, hơi chua, tính bình; có tác dụng thanh thử, tiêu thực, thu liễm chỉ tả, hoá đàm. Thường được dùng để trị cảm lạnh, đau đầu; tiêu hoá kém, trướng bụng, ỉa chảy; viêm gan. Ở Trung Quốc, người ta còn dùng để chữa cổ trướng, sưng thũng vàng da, tiêu nhiệt độc, giải độc rắn cắn, pha làm nước uống trừ tích thực. Dân gian vẫn dùng quả để ăn,lá đem hơ sấy trên than dùng sắc lấy nước cho trẻ em uống trị giun.
Ở Ấn Độ, cũng được sử dụng làm thuốc trị tiêu hoá kém, sốt, thương hàn, lỵ và loét ở môi, chữa bệnh phó đậu, eczema và ghẻ ngứa... Bung Lai, còn gọi là Chua kè, Cò kè, Mé (chứa 0,7% trong trà Dr.Thanh). Tên khoa học của cây Bung Lai là Microcos panicutula L., thuộc họ Đay (Tiliaceae). Lá có vị nhạt, hơi chua, tính bình; có tác dụng thanh thử, tiêu thực, thu liễm chỉ tả, hoá đàm. Thường được dùng để trị cảm lạnh, đau đầu; tiêu hoá kém, trướng bụng, ỉa chảy; viêm gan.
Ở Trung Quốc, người ta còn dùng để chữa cổ trướng, sưng thũng vàng da, tiêu nhiệt độc, giải độc rắn cắn, pha làm nước uống trừ tích thực. Dân gian vẫn dùng quả để ăn,lá đem hơ sấy trên than dùng sắc lấy nước cho trẻ em uống trị giun.
Ở Ấn Độ, cũng được sử dụng làm thuốc trị tiêu hoá kém, sốt, thương hàn, lỵ và loét ở môi, chữa bệnh phó đậu, eczema và ghẻ ngứa...
7- Hoa Mộc miên hay Hoa gạo, Hoa Hồng miên (chứa 0,7% trong trà Dr.Thanh). Cây gạo có tên khoa học là Bombax ceiba, thuộc họ Gạo (Bombacaceae). Đây là loài có nguồn gốc ở Ấn Độ nhưng hiện nay đã được trồng rộng rãi ở các bang của Malaysia, Indonesia, miền nam Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan và Việt Nam.
Đông y cho rằng, hoa mộc miên có vị đắng chát, hơi ngọt, tính bình, tác dụng làm se, tiêu viêm, sát khuẩn, thông huyết nên đã trở thành dược liệu sử dụng nhiều trong trị liệu. Thường được dùng để chữa đau bụng tiêu chảy, kiết lị vi khuẩn, viêm dạ dầy và viêm ruột, chảy máu dạ dày, nôn ra máu, đại tiện ra máu, chữa bỏng, chữa ứ huyết sưng đau, chữa mụn nhọt sưng tấy đau nhức, chữa thiếu máu nhược sắc do rong kinh, mất máu, phù thũng sau khi sinh, chữa sốt nóng ở trẻ em, chữa viêm khớp, tê đau do phong thấp, đau thắt lưng và đùi, chữa ít sữa, chữa suy nhược cơ thể, thần kinh yếu choáng do thiếu máu ...
8- Bung Lai, còn gọi là Chua kè, Cò kè, Mé (chứa 0,7% trong trà Dr.Thanh). Tên khoa học của cây Bung Lai là Microcos panicutula L., thuộc họ Đay (Tiliaceae). Lá có vị nhạt, hơi chua, tính bình; có tác dụng thanh thử, tiêu thực, thu liễm chỉ tả, hoá đàm. Thường được dùng để trị cảm lạnh, đau đầu; tiêu hoá kém, trướng bụng, ỉa chảy; viêm gan. Ở Trung Quốc, người ta còn dùng để chữa cổ trướng, sưng thũng vàng da, tiêu nhiệt độc, giải độc rắn cắn, pha làm nước uống trừ tích thực. Dân gian vẫn dùng quả để ăn,lá đem hơ sấy trên than dùng sắc lấy nước cho trẻ em uống trị giun.
Ở Ấn Độ, cũng được sử dụng làm thuốc trị tiêu hoá kém, sốt, thương hàn, lỵ và loét ở môi, chữa bệnh phó đậu, eczema và ghẻ ngứa... Bung Lai, còn gọi là Chua kè, Cò kè, Mé (chứa 0,7% trong trà Dr.Thanh). Tên khoa học của cây Bung Lai là Microcos panicutula L., thuộc họ Đay (Tiliaceae). Lá có vị nhạt, hơi chua, tính bình; có tác dụng thanh thử, tiêu thực, thu liễm chỉ tả, hoá đàm. Thường được dùng để trị cảm lạnh, đau đầu; tiêu hoá kém, trướng bụng, ỉa chảy; viêm gan.
Ở Trung Quốc, người ta còn dùng để chữa cổ trướng, sưng thũng vàng da, tiêu nhiệt độc, giải độc rắn cắn, pha làm nước uống trừ tích thực. Dân gian vẫn dùng quả để ăn,lá đem hơ sấy trên than dùng sắc lấy nước cho trẻ em uống trị giun.
Ở Ấn Độ, cũng được sử dụng làm thuốc trị tiêu hoá kém, sốt, thương hàn, lỵ và loét ở môi, chữa bệnh phó đậu, eczema và ghẻ ngứa...
9-Tiên thảo, còn gọi là Thạch đen, Sương sáo,Thủy cẩm Trung Quốc (chứa 0,7% trong trà Dr.Thanh) . Loài này có tên khoa học là Mesona chinensis Benth.) thuộc họ Hoa môi (Lamiaceae hay Labiatae). Tiên thảo được cho là có vị ngọt, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, giải thử, giúp hạ huyết áp, trị cảm mạo, đau khớp. Nhân dân thường khai thác để chế biến thành loại Thạch đen dùng làm nước giải khát.
Như vậy Trà Dr. Thanh đã biết khai thác các loại thảo dược cung đình được nhân dân ta vẫn thường dùng theo Đông y để chữa bệnh này, bệnh khác. Hướng khai thác này theo tôi là cần được khuyến khích và cần được nghiên cứu sâu hơn.
John Stith Pemberton(08/01/1831 - 16/08/1888), cha đẻ Coca Cola Ở nước ngoài các loại nước giải khát nổi tiếng như Coca Cola, Pepsi Cola cũng được khai thác từ các thảo mộc. Coca Cola được sử dụng hai nguyên liệu là lá cây Coca và quả của cây Cola. Nhãn hiệu Coca Cola được đăng ký năm 1893 tại Mỹ và cha đẻ của Coca Cola là một dược sĩ. Cây Coca có tên khoa học là Erythroxylum coca, thuộc họ Coca(Erythroxylaceae). Lá Coca có chứa loại alkaloid là Cocaine (từ 0,3 đến 1,5%), ngoài ra còn có các alkaloid khác nhu methylecgonine cinnamate, benzoylecgonine, truxilline, hydroxytropacocaine, tropacocaine, ecgonine, cuscohygrine, dihydrocuscohygrine, nicotine và hygrine.
Nguồn gốc ở Nam Mỹ, chủ yếu ở Bolivia, Peru, trên các vùng cao, lá lớn, to và dài. Cây coca được nhập vào nước ta cách đây 50 năm, trồng làm cảnh ở các vườn hoa chính của TP Hồ Chí Minh vì màu lá rất xanh, hoa màu trắng, quả màu đỏ, lại là thứ coca cảnh Erythroxylon coca var. novogratene. Lá coca dễ nhận vì có hai nếp gấp của lá trong chồi (gân giả). Nguồn gốc cây này ở Nam Mỹ, chủ yếu là ở Bolivia, Peru, trên các vùng cao, lá lớn, to và dài. Từ xa xưa, người dân Nam Mỹ đã dùng lá coca để nhai với vôi hay tro đốt như người Việt Nam dùng lá trầu để nhai trầu thì sẽ cảm thấy không đói.
Hạt Cola được lấy từ loài cây Cola acuminata (họ Bông-Malvaceae). Chưa rõ lắm về các hoạt chất chứa trong hạt Cola. Hạt Cola có tính chất kích thích, nên được sử dụng cả trong nước giải khát Coca-Cola lẫn trong Pepsi. Hoạt chất kích thích này tương tự như Xanthine có chứa trong chocolate, tea, coffee, guarana và yerba mate. Hoạt tính kích thích tác động lên hệ thần kinh trung ương. Thành phần hóa học của hạt Cola gồm có caffeine (2- 3.5 %), theobromine (1.0-2.5%), theophylline, catechin, epicatechin, D-catechin, phenolic, phlobaphen, betaine, protein, tinh bột, lipid. các vitamin B1, B2, C, niacin, đường, gôm (gum), cellulose...
Tất nhiên công thức chế biến các loại nước giải khát Coca-Cola và Pepsi đều được bảo mật ở mức cao nhất.
Chủ Nhật, 8 tháng 7, 2012
Mật Ong và Quế
Theo bài đăng trên tạp chí “Tin tức thế giới hàng tuần” (Weekly World News) ngày 17/01/1995 xuất bản tại Canada, đã liệt kê một số các chứng bệnh được chữa khỏi (cured) do hỗn hợp mật ong và bột quế, được các nhà khoa học Phương Tây nghiên cứu kỹ lưỡng và phổ biến ra công chúng. Theo họ thì mật ong đã được khắp thế giới biết và được xử dụng như là 1 loại dược chất sinh học (Vital medicine) từ nhiều thế kỷ trước. Ngày nay, qua khảo sát và nghiên cứu kiểm chứng, các khoa học gia đã nhận thấy và chấp nhận mật ong là 1 loại dược chất chữa được nhiều chứng bệnh.
Chữa bệnh bằng quế và mật ong
Điểm đặc biệt là mật ong không có phản ứng phụ đối với bất cứ căn bệnh nào. Trong đó người ta cho biết, dù mật ong tuy vị ngọt, nhưng nếu dùng với liều lượng vừa phải như là 1 loại dược chất, nó cũng sẽ không gây ảnh hưởng nguy hại cho người tiểu đường.
Liều lượng và cách xử dụng được hưởng dẫn như sau:
1. Đau khớp xương
a) 1 phần mật ong, 2 phần nước ấm, 1 muỗng café bột quế. Trộn lại thành 1 hỗn hợp sền sệt rồi đắp lên chỗ đau nhức và thoa chầm chậm, nhè nhẹ. Cơn đau sẽ giảm nhẹ sau vài phút.
b) Người ta cũng có thể pha 2 muỗng café mật ong 1 muỗng café bột quế trong 1 ly nước nóng, uống đều đặn hàng ngày vào buổi sáng và buổi tối có thể giúp cho những người bị đau khớp xương kinh niên thoát khỏi các cơn đau.
Trong một công cuộc nghiên cứu tại Đại Học Copenhagen người ta đã ghi nhận rằng: các BS khi điều trị các bệnh nhân bị đau nhức với 1 hỗn hợp gồm: 1 muỗng mật ong và 1/2 muỗng café bột quế vào bữa điểm tâm, sau 1 tuần lễ, kết quả 200 người được điều trị 73 người đã hoàn toàn hết đau, và sau 1 tháng được chữa trị hầu hết các bệnh
2. Cao mỡ trong máu (High cholesterol)
2 muỗng soup mật ong, 3 muỗng café bột quế, 16 ounce nước trà. Quậy đều để cho người bị cao mỡ trong máu uống, sau 2 giờ, đo lượng Cholesterol trong máu người ta thấy giảm xuống 10%.
- Cũng theo tài liệu của tạp chí Weekly World News thì nếu người bị cao Cholesterol dùng mật ong nguyên chất với thực phẩm hàng ngày có thể giảm lượng cholesterol đáng kể.
- Đối với người bị đau khớp xương kinh niên, nếu uống theo công thức trên, 3 lần trong 1 ngày thì ngoài giảm bớt đau nhức khớp xương ra còn giảm được Cholesterol trong máu nữa.
3. Bệnh về tim mạch (Heart diseases)
Trộn mật ong và bột quế sền sệt rồi quết lên bánh mì thay cho mứt trái cây (Jelly Jam) dùng cho bữa điểm tâm mỗi sáng. Nếu ăn đều đặn như thế có thể làm giảm lượng Cholesterol trong các
mạch máu, điều nầy giúp cho các bệnh nhân bị bệnh tim mạch tránh được chứng đột qụy (heart attack).
Nếu những ai đã từng bị đột qụy rồi thì có thể tránh xa được cơn đột qụy kết tiếp, khi tiếp tục ăn điểm tâm như kể trên.
4. Tăng cường hệ thống miễn nhiễm (Immune system)
Nếu dùng mật ong và bột quế hàng ngày sẽ giúp cho hệ thống miễn nhiễm được tăng mạnh thêm và giúp bảo vệ cho cơ thể khó bị vi trùng và siêu vi khuẩn tấn công.
Xử dụng mật ong đều đặn sẽ giúp cho bạch huyết cầu tăng thêm khả năng chống lại sự xâm nhập của vi trùng và siêu vi khuẩn trong các mầm bệnh.
5. Nhiễm trùng đường tiểu (Blađer infection) Bàng quang
Lấy 2 muỗng canh bột quế, 1 muỗng café mật ong, 1 ly nước ấm.
Quậy đều rồi uống cạn sẽ tiêu điệt được các vi trùng (Germ)
mầm bệnh trong bàng quan.
6. Nhức răng (Toothache)
Dùng 5 muỗng café mật ong, 1 muỗng café bột quế trộn lại với nhau thành hợp chất sền sệt rồi đắp lên chỗ răng đau. Làm như vậy 3 lần trong 1 ngày cho đến khi răng không còn đau nữa.
7. Cúm (Influenza).
Một khoa học gia tại Tây Ban Nha (Spain) đã chứng minh rằng, trong mật ong có chứa 1 chất thiên nhiên có khả năng tiêu diệt được các mầm siêu vi của bệnh cảm cúm giúp cho người ta khỏi bị cúm (Flu).
8. Cảm lạnh (Colds)
Đối với những người bị cảm lạnh thường hay cảm nặng có thể dùng:
1 muỗng canh mật ong hâm ấm lên (Warm) và 1/4 muỗng café bột quế. Dùng liên tục trong vòng 3 ngày thì có thể chữa lành được các chứng ho kinh niên, và cảm lạnh cũng như chảy nước mũi cũng ngưng lại.
9. Các chứng về tiêu hóa ) Bao tử.
a) Bao tử khó chịu (Upset stomach): Mật ong và bột quế có thể chữa lành bệnh đau bao tử cũng như trị tận gốc bệnh bao tử.
b) Bao tử đầy hơi (Gas): Theo những nghiên cứu đã thực hiện tại Nhật Bản và Ấn Độ cho thấy, mật ong và bột quế đã làm hết bị đầy hơi trong bao tử.
c) Bột quế được trộn chung với 2 muỗng canh mật ong dùng trước khi tham dự 1 bữa ăn thịnh soạn nhiều thịt thà sẽ giúp cho người ta tiêu hóa được các bữa ăn đó dễ dàng.
10. Mệt mỏi (Fatigue).
Các nghiên cứu thấy rằng, chất ngọt trong mật ong giúp cơ thể con người tốt hơn là làm hại. Cho nên những người cao niên dùng mật ong và bột quế với tỉ lệ bằng nhau giúp cho họ dẻo dai và tinh tường hơn. Theo BS Milton sau khi đã nghiên cứu nói rằng: Khi người ta cảm thấy sự sinh động của mình bắt đầu suy giảm, hãy dùng hằng ngày, sau khi đánh răng vào buổi sáng và khoảng lúc 3 giờ chiều, 1 ly nước ấm trong đó pha 1/2 muỗng canh mật ong ngoáy đều với 1 muỗng café bột quế. Kết quả sẽ thấy sự sinh động của mình lên trở lại trong vòng 1 tuần lễ.
11. Kéo dài tuổi thọ (Longivety)
Khi uống nước trà pha với mật ong và bột quế đều đặn mỗi ngày, người ta có thể làm chậm sự lão hóa, kéo dài thêm tuổi thọ, theo công thức như sau: 4 muỗng mật ong, 1 muỗng bột quế bỏ vào 1 bình trong đó có 3 ly nước rồi đem đun sôi lên như người ta pha nước trà.
Cách dùng: Mỗi lần uống 1/4 ly, mỗi ngày 3 hay 4 lần. Kết quả tốt sẽ thấy là da dẻ hồng hào tươi trẻ, mịn màng. Thực thế tôi quen biết 1 vị cao niên tên là Cụ Mai Phương 86t, đã áp dụng phương pháp nầy hơn 20 năm nay. Cách uống là thêm vài giọt chanh vào ly nước trước khi uống, sức khỏe rất tốt.
12. Giảm cân, chống béo mập (Weight loss)
Hàng ngày 1/2 giờ trước khi ăn điểm tâm lúc bụng đói và 1/2 giờ trước khi đi ngủ hãy uống 1 lý nước đun sôi có pha 1 muỗng mật ong và 1 muỗng café bột quế. Nếu uống như vậy đều đặn hàng ngày thì ngay cả người bị béo phì cũng giảm chậm sự tích tụ chất béo trong cơ thê, và có hiệu quả ngay đối với người ăn các loại thực phẩm có nhiều Calories trong bữa ăn hàng ngày.
13. Da bị nhiễm trùng (Skin infection)
Khi da bị lát đồng tiền (Ring worm) và các loại nhiễm trùng da có thể chữa trị bằng cách đắp lên vùng da bị nhiễm trùng 1 hỗn hợp trộn mật ong và bột quế với phân lượng bằng nhau.
14. Trị mụn (Pimples)
Với công thức 3 muỗng canh mật ong và 1 muỗng café bột quế trộn lại sền sệt bôi lên các mụn trước khi đi ngủ, sáng hôm sau rửa mặt bằng nước ấm. Làm như thế trong vòng 2 tuần lễ thì các mụn sẽ được trị tận gốc.
15. Trị hôi miệng (Bad breath)
Để trị hôi miệng, hơi thở được thơm tho, những người dân tại vùng Nam Mỹ (South America) đã làm việc đầu tiên vào buổi sáng là súc miệng với 1 ly nước nóng có pha với 1 muỗng café mật ong và bột quế quậy đều. Hơi thở của họ không hôi và thơm mùi quế suốt cả ngày.
16. Giúp phục hồi thính giác bị suy giảm, điếc (Hearing loss)
Hàng ngày uống đều đặn vào mỗi buổi sáng và buổi tối trước khi ngủ 1 ly nước ấm có pha mật ong và bột quế với phân lượng bằng nhau, sẽ phục hồi lại tình trạng thính giác (tai) bị điếc, nghễnh ngãng.
17. Rụng tóc và hói đầu (Hair loss & Baldness)
Những người bị rụng tóc hay hói đầu có thể dùng phương cách sau đây:
Lấy 1 muỗng canh mật ong và 1 muỗng café bột quế trộn với dầu Olive thành 1 hỗn hợp rồi bôi lên đầu khoảng 15 phút, sau đó đi tắm và gội đầu. Kết quả ghi nhận là rất có hiệu quả, ngay cả khi đi tắm và gội đầu 5 phút sau khi bôi.
Ngoài ra bài báo còn nói đến hiệu quả tốt đẹp của việc xử dụng hỗn hợp mật ong và bột quế trong các trường hợp bị vô sinh (Infertility) và bệnh ung thư (Cancer).
18. Vô sinh (Infertility)
- Yunami & Ayurredic đã dùng mật ong từ lâu trong Y Học để giúp cho tinh dịch của người Nam (Male) được tăng thêm sức mạnh của nó.
- Người ta cũng ghi nhận người đàn ông bị bất lực, nếu uống 2 muỗng canh mật ong mỗi ngày trước khi đi ngủ thì tình trạng bất lực có thể được giải quyết tốt đẹp.
- Tại Trung Hoa , Nhật Bản và một số các nước vùng Viễn Đông,
đối với các phụ nữ không thể đậu thai từ nhiều thế kỷ đã được khuyên dùng bột quế để giúp cho buồng trứng và tử cung cải thiện dễ thụ tinh, mang bầu.
- Các phụ nữ không thể có bầu thì có thể dùng 1 Pinch bột quế hòa với 1/2 muỗng café mật ong, rồi ngậm trong miệng thường xuyên suốt ngàỵ 2 thứ nầy được trộn lẫn với nước bọt trong miệng rồi từ từ ngấm vào cơ thể để mang lại thuận lợi cho người phụ nữ đậu thai.
Người ta đã ghi nhận 1 cặp vợ chồng tại tiểu bang Maryland, Hoa Kỳ; cưới nhau 14 năm không có con và họ gần như tuyệt vọng...
Nhưng khi được mách bảo phương các dùng mật ong và bột quế, 2 vợ chồng đã cùng áp dụng phương pháp trên; chỉ vài tháng sau người vợ đã mang thai và sinh đôi với 2 đứa con khỏe mạnh bình thường.
19. Đối với bệnh ung thư (Cancer)
Những nghiên cứu mới đây tại Nhật Bản và Úc Châu đã ghi nhận tình trạng ung thư bao tử và ung thư xương đang phát tác, đã được điều trị 1 cách hiệu quả bằng mật ong và quế. Sau khi những bệnh nhân đang mắc phải ung thư bao tử và xương dùng như sau:
Uống 1 muỗng canh mật ong và 1 muỗng café bột quế trộn đều, mỗi ngày 3 lần liên tiếp trong 1 tháng.
Phần cuối của tài liệu ghi chú:
Những ai đã có được các kết quả tốt từ tài liệu nầy, hãy truyền tay lại cho những người khác để cùng nhau hưởng lợi ích củaQuế và Mật ong.
(Dịch từ tài liệu của Weekly World News, Canada, 17/01/1995)
Chữa bệnh bằng quế và mật ong
Điểm đặc biệt là mật ong không có phản ứng phụ đối với bất cứ căn bệnh nào. Trong đó người ta cho biết, dù mật ong tuy vị ngọt, nhưng nếu dùng với liều lượng vừa phải như là 1 loại dược chất, nó cũng sẽ không gây ảnh hưởng nguy hại cho người tiểu đường.
Liều lượng và cách xử dụng được hưởng dẫn như sau:
1. Đau khớp xương
a) 1 phần mật ong, 2 phần nước ấm, 1 muỗng café bột quế. Trộn lại thành 1 hỗn hợp sền sệt rồi đắp lên chỗ đau nhức và thoa chầm chậm, nhè nhẹ. Cơn đau sẽ giảm nhẹ sau vài phút.
b) Người ta cũng có thể pha 2 muỗng café mật ong 1 muỗng café bột quế trong 1 ly nước nóng, uống đều đặn hàng ngày vào buổi sáng và buổi tối có thể giúp cho những người bị đau khớp xương kinh niên thoát khỏi các cơn đau.
Trong một công cuộc nghiên cứu tại Đại Học Copenhagen người ta đã ghi nhận rằng: các BS khi điều trị các bệnh nhân bị đau nhức với 1 hỗn hợp gồm: 1 muỗng mật ong và 1/2 muỗng café bột quế vào bữa điểm tâm, sau 1 tuần lễ, kết quả 200 người được điều trị 73 người đã hoàn toàn hết đau, và sau 1 tháng được chữa trị hầu hết các bệnh
2. Cao mỡ trong máu (High cholesterol)
2 muỗng soup mật ong, 3 muỗng café bột quế, 16 ounce nước trà. Quậy đều để cho người bị cao mỡ trong máu uống, sau 2 giờ, đo lượng Cholesterol trong máu người ta thấy giảm xuống 10%.
- Cũng theo tài liệu của tạp chí Weekly World News thì nếu người bị cao Cholesterol dùng mật ong nguyên chất với thực phẩm hàng ngày có thể giảm lượng cholesterol đáng kể.
- Đối với người bị đau khớp xương kinh niên, nếu uống theo công thức trên, 3 lần trong 1 ngày thì ngoài giảm bớt đau nhức khớp xương ra còn giảm được Cholesterol trong máu nữa.
3. Bệnh về tim mạch (Heart diseases)
Trộn mật ong và bột quế sền sệt rồi quết lên bánh mì thay cho mứt trái cây (Jelly Jam) dùng cho bữa điểm tâm mỗi sáng. Nếu ăn đều đặn như thế có thể làm giảm lượng Cholesterol trong các
mạch máu, điều nầy giúp cho các bệnh nhân bị bệnh tim mạch tránh được chứng đột qụy (heart attack).
Nếu những ai đã từng bị đột qụy rồi thì có thể tránh xa được cơn đột qụy kết tiếp, khi tiếp tục ăn điểm tâm như kể trên.
4. Tăng cường hệ thống miễn nhiễm (Immune system)
Nếu dùng mật ong và bột quế hàng ngày sẽ giúp cho hệ thống miễn nhiễm được tăng mạnh thêm và giúp bảo vệ cho cơ thể khó bị vi trùng và siêu vi khuẩn tấn công.
Xử dụng mật ong đều đặn sẽ giúp cho bạch huyết cầu tăng thêm khả năng chống lại sự xâm nhập của vi trùng và siêu vi khuẩn trong các mầm bệnh.
5. Nhiễm trùng đường tiểu (Blađer infection) Bàng quang
Lấy 2 muỗng canh bột quế, 1 muỗng café mật ong, 1 ly nước ấm.
Quậy đều rồi uống cạn sẽ tiêu điệt được các vi trùng (Germ)
mầm bệnh trong bàng quan.
6. Nhức răng (Toothache)
Dùng 5 muỗng café mật ong, 1 muỗng café bột quế trộn lại với nhau thành hợp chất sền sệt rồi đắp lên chỗ răng đau. Làm như vậy 3 lần trong 1 ngày cho đến khi răng không còn đau nữa.
7. Cúm (Influenza).
Một khoa học gia tại Tây Ban Nha (Spain) đã chứng minh rằng, trong mật ong có chứa 1 chất thiên nhiên có khả năng tiêu diệt được các mầm siêu vi của bệnh cảm cúm giúp cho người ta khỏi bị cúm (Flu).
8. Cảm lạnh (Colds)
Đối với những người bị cảm lạnh thường hay cảm nặng có thể dùng:
1 muỗng canh mật ong hâm ấm lên (Warm) và 1/4 muỗng café bột quế. Dùng liên tục trong vòng 3 ngày thì có thể chữa lành được các chứng ho kinh niên, và cảm lạnh cũng như chảy nước mũi cũng ngưng lại.
9. Các chứng về tiêu hóa ) Bao tử.
a) Bao tử khó chịu (Upset stomach): Mật ong và bột quế có thể chữa lành bệnh đau bao tử cũng như trị tận gốc bệnh bao tử.
b) Bao tử đầy hơi (Gas): Theo những nghiên cứu đã thực hiện tại Nhật Bản và Ấn Độ cho thấy, mật ong và bột quế đã làm hết bị đầy hơi trong bao tử.
c) Bột quế được trộn chung với 2 muỗng canh mật ong dùng trước khi tham dự 1 bữa ăn thịnh soạn nhiều thịt thà sẽ giúp cho người ta tiêu hóa được các bữa ăn đó dễ dàng.
10. Mệt mỏi (Fatigue).
Các nghiên cứu thấy rằng, chất ngọt trong mật ong giúp cơ thể con người tốt hơn là làm hại. Cho nên những người cao niên dùng mật ong và bột quế với tỉ lệ bằng nhau giúp cho họ dẻo dai và tinh tường hơn. Theo BS Milton sau khi đã nghiên cứu nói rằng: Khi người ta cảm thấy sự sinh động của mình bắt đầu suy giảm, hãy dùng hằng ngày, sau khi đánh răng vào buổi sáng và khoảng lúc 3 giờ chiều, 1 ly nước ấm trong đó pha 1/2 muỗng canh mật ong ngoáy đều với 1 muỗng café bột quế. Kết quả sẽ thấy sự sinh động của mình lên trở lại trong vòng 1 tuần lễ.
11. Kéo dài tuổi thọ (Longivety)
Khi uống nước trà pha với mật ong và bột quế đều đặn mỗi ngày, người ta có thể làm chậm sự lão hóa, kéo dài thêm tuổi thọ, theo công thức như sau: 4 muỗng mật ong, 1 muỗng bột quế bỏ vào 1 bình trong đó có 3 ly nước rồi đem đun sôi lên như người ta pha nước trà.
Cách dùng: Mỗi lần uống 1/4 ly, mỗi ngày 3 hay 4 lần. Kết quả tốt sẽ thấy là da dẻ hồng hào tươi trẻ, mịn màng. Thực thế tôi quen biết 1 vị cao niên tên là Cụ Mai Phương 86t, đã áp dụng phương pháp nầy hơn 20 năm nay. Cách uống là thêm vài giọt chanh vào ly nước trước khi uống, sức khỏe rất tốt.
12. Giảm cân, chống béo mập (Weight loss)
Hàng ngày 1/2 giờ trước khi ăn điểm tâm lúc bụng đói và 1/2 giờ trước khi đi ngủ hãy uống 1 lý nước đun sôi có pha 1 muỗng mật ong và 1 muỗng café bột quế. Nếu uống như vậy đều đặn hàng ngày thì ngay cả người bị béo phì cũng giảm chậm sự tích tụ chất béo trong cơ thê, và có hiệu quả ngay đối với người ăn các loại thực phẩm có nhiều Calories trong bữa ăn hàng ngày.
13. Da bị nhiễm trùng (Skin infection)
Khi da bị lát đồng tiền (Ring worm) và các loại nhiễm trùng da có thể chữa trị bằng cách đắp lên vùng da bị nhiễm trùng 1 hỗn hợp trộn mật ong và bột quế với phân lượng bằng nhau.
14. Trị mụn (Pimples)
Với công thức 3 muỗng canh mật ong và 1 muỗng café bột quế trộn lại sền sệt bôi lên các mụn trước khi đi ngủ, sáng hôm sau rửa mặt bằng nước ấm. Làm như thế trong vòng 2 tuần lễ thì các mụn sẽ được trị tận gốc.
15. Trị hôi miệng (Bad breath)
Để trị hôi miệng, hơi thở được thơm tho, những người dân tại vùng Nam Mỹ (South America) đã làm việc đầu tiên vào buổi sáng là súc miệng với 1 ly nước nóng có pha với 1 muỗng café mật ong và bột quế quậy đều. Hơi thở của họ không hôi và thơm mùi quế suốt cả ngày.
16. Giúp phục hồi thính giác bị suy giảm, điếc (Hearing loss)
Hàng ngày uống đều đặn vào mỗi buổi sáng và buổi tối trước khi ngủ 1 ly nước ấm có pha mật ong và bột quế với phân lượng bằng nhau, sẽ phục hồi lại tình trạng thính giác (tai) bị điếc, nghễnh ngãng.
17. Rụng tóc và hói đầu (Hair loss & Baldness)
Những người bị rụng tóc hay hói đầu có thể dùng phương cách sau đây:
Lấy 1 muỗng canh mật ong và 1 muỗng café bột quế trộn với dầu Olive thành 1 hỗn hợp rồi bôi lên đầu khoảng 15 phút, sau đó đi tắm và gội đầu. Kết quả ghi nhận là rất có hiệu quả, ngay cả khi đi tắm và gội đầu 5 phút sau khi bôi.
Ngoài ra bài báo còn nói đến hiệu quả tốt đẹp của việc xử dụng hỗn hợp mật ong và bột quế trong các trường hợp bị vô sinh (Infertility) và bệnh ung thư (Cancer).
18. Vô sinh (Infertility)
- Yunami & Ayurredic đã dùng mật ong từ lâu trong Y Học để giúp cho tinh dịch của người Nam (Male) được tăng thêm sức mạnh của nó.
- Người ta cũng ghi nhận người đàn ông bị bất lực, nếu uống 2 muỗng canh mật ong mỗi ngày trước khi đi ngủ thì tình trạng bất lực có thể được giải quyết tốt đẹp.
- Tại Trung Hoa , Nhật Bản và một số các nước vùng Viễn Đông,
đối với các phụ nữ không thể đậu thai từ nhiều thế kỷ đã được khuyên dùng bột quế để giúp cho buồng trứng và tử cung cải thiện dễ thụ tinh, mang bầu.
- Các phụ nữ không thể có bầu thì có thể dùng 1 Pinch bột quế hòa với 1/2 muỗng café mật ong, rồi ngậm trong miệng thường xuyên suốt ngàỵ 2 thứ nầy được trộn lẫn với nước bọt trong miệng rồi từ từ ngấm vào cơ thể để mang lại thuận lợi cho người phụ nữ đậu thai.
Người ta đã ghi nhận 1 cặp vợ chồng tại tiểu bang Maryland, Hoa Kỳ; cưới nhau 14 năm không có con và họ gần như tuyệt vọng...
Nhưng khi được mách bảo phương các dùng mật ong và bột quế, 2 vợ chồng đã cùng áp dụng phương pháp trên; chỉ vài tháng sau người vợ đã mang thai và sinh đôi với 2 đứa con khỏe mạnh bình thường.
19. Đối với bệnh ung thư (Cancer)
Những nghiên cứu mới đây tại Nhật Bản và Úc Châu đã ghi nhận tình trạng ung thư bao tử và ung thư xương đang phát tác, đã được điều trị 1 cách hiệu quả bằng mật ong và quế. Sau khi những bệnh nhân đang mắc phải ung thư bao tử và xương dùng như sau:
Uống 1 muỗng canh mật ong và 1 muỗng café bột quế trộn đều, mỗi ngày 3 lần liên tiếp trong 1 tháng.
Phần cuối của tài liệu ghi chú:
Những ai đã có được các kết quả tốt từ tài liệu nầy, hãy truyền tay lại cho những người khác để cùng nhau hưởng lợi ích củaQuế và Mật ong.
(Dịch từ tài liệu của Weekly World News, Canada, 17/01/1995)
Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (1720 - 1791)
Lê Hữu Trác hiệu là Hải Thượng Lãn ông (1). Sinh ngày 12 tháng 11 năm Canh Tý (11-12-1720) tại thôn Văn Xá, làng Liêu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương. Nay là xã Hoàng Hữu Nam huyện Yên Mỹ, tỉnh Hải Dương. Tuy nhiên, ông sống nhiều (từ năm 26 tuổi đến lúc mất) ở quê mẹ xứ Bầu Thượng, xã Tĩnh Diệm, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, nay là xã Sơn Quang, huyện Hương Sơn và cũng qua đời ở đây vào ngày rằm tháng giêng năm Tân Hợi (1791) thọ 71 tuổi. Mộ ông nay còn nằm ở Khe nước cạn chân núi Minh Từ thuộc huyện Hương Sơn (cách phố Châu huyện lỵ Hương Sơn 4 cây số).
Lê Hữu Trác là con thứ bảy của Lê Hữu Mưu và bà Bùi Thị Thưởng.
Dòng họ của ông có truyền thống khoa bảng; ông nội, bác, chú (Lê Hữu Kiều), anh và em họ đều đỗ tiến sĩ và làm quan to. Cha Lê Hữu Trác đỗ đệ tam giáp tiến sĩ làm Thị lang Bộ Công triều Lê Dụ Tông, gia phong chức ngự sử, tước bá, khi mất được truy tặng Thượng thư.
Năm Kỷ Mùi (1739) Lê Hữu Trác 20 tuổi thì cha qua đời, ông rời kinh thành về nhà, vừa trông nom gia đình vừa chăm chỉ đèn sách, thi vào tam trường, sau đó không thi nữa.
Năm 1739 cũng là năm mở ra quy mô lớn của phong trào nông dân nổi dậy chống phong kiến, chỉ một năm sau (1740) nghĩa quân của Hoàng Công Chất đánh sát huyện ông. Chàng thư sinh trẻ tuổi Lê Hữu Trác đang mê mải đèn sách phải lánh đi nơi khác đọc sách. Có người thấy thế đã bảo ông "Binh lửa khắp nơi, con trai thời loạn há chịu già đời ở trong phòng sách mãi sao?" và khuyên ông nên theo nghề võ. Từ đó ông vừa dùi mài kinh sử vừa nghiên cứu binh thư. Sau nhờ ẩn sĩ họ Vũ ở Đặng Xá dạy vũ thuật âm dương (phép bói toán độn số), ông "nghiên cứu trong vài năm cũng biết được đại khái, mới đeo gươm tòng quân để thí nghiệm sức học của mình" (Tựa "Tâm lĩnh").
Chiến tranh phong kiến đã gây đau thương chết chóc cho biết bao nhiêu gia đình làng xóm, nó không đem lại gì cho nhân dân, cho đất nước; đã làm cho Lê Hữu Trác chán nản muốn ra khỏi quân đội, nên ông đã nhiều lần từ chối sự đề bạt của tướng nhà Trịnh. Ông nhận ra theo Lê hay Trịnh cũng là chí theo đuổi chiến tranh "cốt nhục tương tàn"; cái chí mạnh "xung Ngưu Đẩu" của ông cũng hóa "ngông cuồng" mà thôi. (Đọc bài thơ trong lời tựa bộ "Tâm lĩnh"). Cho nên năm 1746 khi người anh ở Hương Sơn mất, ông liền viện cớ về nuôi mẹ già, cháu nhỏ thay anh, để xin ra khỏi quân đội, thực sự "bẻ tên cởi giáp" theo đuổi chí hướng mới.
Lê Hữu Trác bị bệnh từ lúc ở trong quân đội, giải ngũ về phải gánh vác công việc vất vả "trăm việc đổ dồn vào mình, sức ngày một yếu" (Lời tựa "Tâm lĩnh"), lại sớm khuya đèn sách không chịu nghỉ ngơi, sau mắc cảm nặng, chạy chữa tới hai năm mà không khỏi. Sau nhờ lương y Trần Độc, người Nghệ An là bậc lão nho, học rộng biết nhiều nhưng thi không đỗ, trở về học thuốc, nhiệt tình chữa khỏi.
Trong hơn một năm chữa bệnh, nhân khi rảnh rỗi ông đọc sách thuốc "Phùng thị cẩm nang" hiểu được chỗ sâu xa của sách thuốc. Ông Trần Độc thấy lạ, muốn đem hết cái hiểu thấu về y học truyền cho ông. Vốn là người thông minh học rộng, ông mau chóng hiểu sâu y lý, tìm thấy sự say mê ở sách y học, nhận ra nghề y không chỉ lợi ích cho mình mà có thể giúp người đời, nên ông quyết chí học thuốc.
ở Hương Sơn, ông làm nhà cạnh rừng đặt tên hiệu Lãn ông (ông lười) ý nói lười biếng, chán ghét công danh, tự giải phóng mình khỏi sự ràng buộc của danh lợi, của quyền thế, tự do nghiên cứu y học, thực hiện chí hướng mà mình yêu thích gắn bó.
Giữa cảnh thiên nhiên tĩnh mịch của núi rừng Hương Sơn, sớm khuya mê mải đọc các sách thuốc: Y học nhập môn, Cảnh nhạc toàn thư, Nam dược thần hiệu (của Tuệ Tĩnh), Bảo sinh diệu toản yếu... thật là:
Sá chi vinh nhục việc đời,
Đem thân đạo nghĩa vào nơi lâm tuyền.
(Bất can vinh nhục sự
Bảo đao nhập cùng lâm.
An bần - Y lý thâu nhàn)
Hải Thượng Lãn ông muốn tìm thầy, tìm bạn để học thêm nhưng nơi núi rừng hẻo lánh "trên không có thầy giỏi để học, dưới không có bạn hiền giúp, chỉ một mình nói với mình, tự hỏi tự đáp mò mẫm tưởng tượng đủ thứ" (Lời tựa "Tâm lĩnh") để tìm ra chân lý. Sau ông nhờ một ông lang ở làng bên đi lại thân mật, giúp ông giải đáp những mắc mớ, vài ba năm sau ông đã chữa được một số bệnh thông thường trong gia đình và làng xóm.
Mùa thu năm Bính Tý (1754) Lê Hữu Trác ra kinh đô mong tìm thầy để học thêm vì ông thấy y lý mênh mông nhưng không gặp được thầy giỏi, ông đành bỏ tiền mua một số phương thuốc gia truyền, trở về Hương Sơn "từ khước sự giao du, đóng cửa để đọc sách" (Tựa "Tâm lĩnh"), vừa học tập và chữa bệnh. Mười năm sau tiếng tăm của ông đã nổi ở vùng Hoan Châu (Nghệ An).
Sau mấy chục năm tận tụy với nghề nghiệp, Hải Thượng Lãn ông đã nghiên cứu rất sâu lý luận Trung y qua các sách kinh điển: Nội kinh, Nam kinh, Thương hàn, Kim quỹ; tìm hiểu nền y học cổ truyền của dân tộc; kết hợp với thực tế chữa bệnh phong phú của mình, ông hệ thống hóa tinh hoa của lý luận Đông y cùng với những sáng tạo đặc biệt qua việc áp dụng lý luận cổ điển vào điều kiện Việt Nam, đúc kết nền y học cổ truyền của dân tộc. Sau hơn chục năm viết nên bộ "Lãn ông tâm lĩnh" gồm 28 tập, 66 quyển bao gồm đủ các mặt về y học: Y đức - Y lý, Y thuật, Dược, Di dưỡng. Phần quan trọng nữa của bộ sách phản ảnh sự nghiệp văn học và tư tưởng của Hải thượng Lãn ông.
Ngày 12 tháng giêng năm Cảnh Hưng 43 (1782) Lãn ông nhận được lệnh chúa triệu về kinh. Lúc này ông đã 62 tuổi, sức cũng yếu lại là người chăm lo chữa bệnh cho trăm họ, nhất là ông đã quyết chí xa lánh công danh, theo đuổi nghiệp y đã mấy chục năm nên ông nhận chiếu chỉ của chúa Trịnh với tâm trạng vừa lo lắng, vừa chán nản; mãi sau nghĩ đến bộ "Tâm lĩnh" chưa in được, mà ông "không dám truyền thụ riêng ai, chỉ muốn đem ra công bố cho mọi người cùng biết, nhưng việc thì nặng sức lại mỏng, khó mà làm được" (Thượng kinh ký sự), nên ông hy vọng lần đi ra kinh đô có thể thực hiện việc in bộ sách, phần "con cái trong nhà cũng hết sức van nài", ông tạm làm vui từ giã gia đình, học trò rời Hương Sơn lên đường.
Ra kinh vào phủ chúa xem mạch và kê đơn cho thế tử Trịnh Cán, ông được Trịnh Sâm khen "hiểu sâu y lý" ban thưởng cho ông 20 xuất lính hầu, và bổng lộc ngang với chức quan kiểm soát bộ Hộ để giữ ông lại. Nhưng Lãn ông thấy nếu nhận thưởng chịu ơn thì khó lòng rời kinh đô trở lại Hương Sơn được, nên ông giả ốm không vào chầu, sau lại viện cớ tuổi già mắt hoa, tai điếc thường ốm yếu để được trọ ở ngoài.
Bọn ngự y ghen tỵ với Lãn ông không chịu chữa theo đơn của ông, nên thế tử không khỏi, ông biết thế nhưng không hề thắc mắc với bọn thầy thuốc thiếu lương tâm này, mặt nữa ông không thật nhiệt tình chữa, kết quả để sớm thoát khỏi vòng cương tỏa của quyền thần, danh lợi.
Thời gian ở kinh đô, Lãn ông muốn về thăm cố hương Hải Dương của mình, nhưng mãi đến tháng 9 năm 1782, sau chúa Trịnh mới cho phép ông về. Sau hơn 20 năm xa cách, được trở về mảnh đất "chôn nhau cắt rốn".
Đang sống giữa quê hương, ông lại có lệnh triệu về kinh vì Trịnh Sâm ốm nặng. Nhận được lệnh triệu, ông đành phải rời quê hương.
Về kinh ông chữa cho Trịnh Sâm khỏi và cũng miễn cưỡng chữa tiếp cho Trịnh Cán. Trịnh Sâm lại trọng thưởng cho ông. Ông bắt buộc phải nhận nhưng bụng nghĩ: "Mình tuy không phải đã bỏ quên việc ẩn cư, nhưng nay hãy tạm nhận phần thưởng rồi sau vứt đi cũng được" (Thượng kinh ký sự).
Trịnh Sâm chết vì bệnh lâu ngày sức yếu, Trịnh Cán lên thay, nhưng Trịnh Cán cũng ốm dai dẳng nên "khí lực khô kiệt", khó lòng khỏe được, lại nóng lòng trở về Hương Sơn, Lãn ông đang tìm kế thoái lui, thì may có người tiến cử một lương y mới, ông liền lấy cớ người nhà ốm nặng rời kinh.
Hải Thượng Lãn ông trở về Hương Sơn bằng đường thủy, nhưng sợ triều đình bắt trở lại ông phao tin đi đường bộ. Thoát khỏi kinh đô ông sung sướng như "chim sổ lồng, cá thoát lưới", lòng chỉ muốn "bay nhanh" về quê nhà:
Lên đường từ giã long lâu
Gươm đàn nửa gánh ra ngay đô thành,
Ngựa quen đường cũ về nhanh,
Quay thuyền khó lúc lênh đênh giữa dòng.
Mây qua đường để bớt nồng
Núi non mở mặt như lòng vì ai
Xanh xanh một dải non đoài
Giống non ta cũ chỉ vài hòn thôi.
(Thượng kinh ký sự).
Ngày 2 tháng 11 (năm 1782) Lãn ông về đến Hương Sơn.
Gần một năm sống giữa kinh đô phong kiến biết bao công danh phú quý lôi kéo, nhưng ông "thung dung" ra đi lại "ngất ngưởng" trở về, lòng trong không hề đục, chí lớn không hề sờn.
Năm 1783 ông viết xong tập "Thượng kinh ký sự" ghi lại tỉ mỉ chuyến đi kinh, tập ký ấy là một tác phẩm văn học vô cùng quý giá. Mặc dầu tuổi già, công việc lại nhiều: chữa bệnh, dạy học, nhưng ông vẫn tiếp tục chỉnh lý, bổ sung, viết thêm (tập Vân khi bí điển, năm 1786) để hoàn chỉnh bộ "Tâm lĩnh". Hải Thượng Lãn ông Lê Hữu Trác không chỉ là danh y có cống hiến to lớn cho nền y học dân tộc, ông còn là một nhà văn, nhà thơ, nhà tư tưởng lớn của thời đại.
--------------------------------------------------------------
(1) Hải Thượng Lãn ông: Hải Thượng là hai chữ đầu của tỉnh Hải Dương và phủ Thượng Hồng quê cha và cũng là xã Bầu Thượng quê mẹ. Lãn ông nghĩa là "ông lười", ngụ ý lười biếng với danh lợi.
Kết luận:
Ông là nhà y học có học vấn uyên bác, nhà dược học nổi tiếng, nhà thơ, nhà văn xuất sắc, nhà tư tưởng tiến bộ, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân đạo, có ý chí độc lập sáng tạo trong nghiên cứu.
Phát huy truyền thống của Tuệ Tĩnh, ông đã sưu tầm phát hiện thêm 300 vị thuốc nam (Lĩnh Nam bản thảo) đồng thời tổng hợp thêm 2854 phương thuốc kinh nghiệm phổ biến cho nhân dân áp dụng "Hành giản trân nhu và Bách gia trân tàng". Ông cũng đã có những sáng tạo đặc sắc trong việc vận dụng lý luận y học vào thực tiễn Việt Nam.
Cái quý nhất trong việc đào tạo lớp lương y mới, Lãn Ông chú trọng xây dựng y đức người thầy thuốc, ông thường nói
"Đạo làm thuốc là một nhân thuật chuyên bảo vệ sinh mạng con người, phải lo cái lo của người, vui cái vui của người, chỉ lấy việc cứu sống mạng người làm nhiệm vụ của mình không nên cầu lợi kể công"
Những lời răn của Hải Thượng Lãn Ông
"Đạo làm thuốc là một nhân thuật chuyên bảo vệ sinh mạng con người, phải lo cái lo của người, vui cái vui của người, chỉ lấy việc cứu sống mạng người làm nhiệm vụ của mình không nên cầu lợi kể công...
"Thường thấy kẻ làm thuốc, hoặc nhân bệnh cha mẹ người ta ngặt nghèo, hoặc bắt bí người ta lúc đêm tối, trời mưa, có bệnh nguy cấp; bệnh dễ chữa bảo là khó chữa, bệnh khó chữa bảo là không chữa được, giở lối quỉ quyệt ấy nhằm thoả mãn yêu cầu, rắp tâm như thế là bất lương. Chữa cho nhà giàu sang, thì tỏ tính sốt sắng, mong được lợi nhiều, chữa cho nhà nghèo hèn thì ra ý lạnh nhạt, sống chết mặc bay. Than ôi, đem nhân thuật làm chước dối lừa, đem lòng nhân đổi ra lòng buôn bán. Như thế thì người sống trách móc, người chết oán hờn không thể tha thứ được...
"Nghề làm thuốc là nhân thuật, thầy thuốc hẳn phải lấy việc giúp người làm điều hay. Cứu được một người thì khoa chân, múa tay cho mọi người biết) nhỡ có thất bại thì giấu đi. Thường người ta hay giấu các điều xấu của mình mà không đem sự thực nói với người khác. Riêng tôi dám nói là thoát khỏi những thói đó chăng, là vì tôi không theo con đường khoa cử nối dõi nghiệp nhà, chuyển hướng ra làm thuốc nên chỉ muốn hết sức làm những việc đáng làm, may ra khỏi hổ thẹn với đất trời, đâu dám e ngại sự chê khen, để phải hối hận với bổn phận...
"Nghĩ thật sâu xa, tôi hiểu rằng thầy thuốc là người bảo vệ sinh mạng con người. sống chết trong tay mình nắm, họa phúc trong tay mình giữ. Thế thì đâu có thể kiến thức không đầy đủ, đức hạnh không trọn vẹn, tâm hồn không rộng lớn, hành động không thận trọng mà làm liều lĩnh học đòi cái nghề cao quí đó chăng".
8 tội người thầy thuốc cần tránh:
- Có bệnh xem xét đã rồi mới cho thuốc, vì ngại đêm mưa vất vả không chịu thăm mà đã cho phương, đó là tội lười.
- Có bệnh cần dùng thứ thuốc nào đó mới cứu được nhưng sợ con bệnh nghèo túng không trả được vốn nên chỉ cho thuốc rẻ tiền, đó là tội bủn xỉn.
- Khi thấy bệnh chết đã rõ, không bảo thực lại nói lơ mơ để làm tiền, đó là tội tham lam.
- Thấy bệnh dễ chữa nói dối là khó chữa, dọa người ta sợ để lấy nhiều tiền, đó là tội lừa dối.
- Thấy bệnh khó đáng lẽ nói thực rồi hết lòng cứu chữa nhưng lại sợ mang tiếng không biết thuốc, vả lại chưa chắc chắn đã thành công, không được hậu lời nên không chịu chữa đến nỗi người ta bó tay chịu chết, đó là tội bất nhân.
- Có trường hợp người bệnh ngày thường có bất bình với mình khi mắc bệnh phải nhờ đến mình liền nghĩ ra ý nghĩ oán thù không chịu chữa hết lòng, đó là tội hẹp hòi.
- Thấy kẻ mồ côi goá bụa, người hiền, con hiếm mà nghèo đói ốm đau cho là chữa mất công vô ích không chịu hết lòng, đó là tội thất đức.
- Lại như xét bệnh còn lơ mơ, sức học còn non đã cho thuốc chữa bệnh, đó là tội dốt nát.
Hải Thượng Lãn ông đã đề ra 9 điều dạy trong "Y huấn cách ngôn" để rănn dạy người thây thuốc mà hiện nay vẫn còn nguyên giá trị, thí dụ:
- Phàm người mời đi thăm bệnh, nên tùy bệnh kíp hay không mà sắp đặt thăm trước hay sau. Chớ nên vì giàu sang hay nghèo hèn mà nơi đến trước, chỗ tới sau hoặc bốc thuốc lại phân biệt nơi hơn kém.
- Khi đến xem bệnh ở nhà nghèo túng, hay những người mồ côi, goá bụa hiếm hoi, càng nên chǎm sóc đặc biệt; vì những người giàu sang không lo không có người chữa; còn người nghèo hèn, thì không đủ sức đón được thày giỏi, vậy ta để tâm một chút, họ sẽ được sống một đời, còn những người con thảo, vợ hiền, nghèo mà mắc bệnh, ngoài việc cho thuốc mà không có ăn, thì vẫn đi đến chỗ chết.
- Khi chữa bệnh cho ai khỏi rồi, chớ có mưu cầu quà cáp, vì những người nhận của người khác cho thường hay sinh ra nể nang, huống chi đối với những kẻ giàu sang, tính khí thất thường mà mình cầu cạnh thường hay bị khinh rẻ. Còn việc tâng bốc người ta để cầu lợi thường hay sinh chuyện. Cho nên nghề thuốc là nghề thanh cao, ta càng phải giữ khí tiết cho trong sạch
Thứ Tư, 4 tháng 7, 2012
"Phở" hơn "Cơm" chỗ nào?
Nếu xét về "thành phần cấu tạo" thì cơm và phở rất giống nhau, đều được làm chủ yếu từ... gạo tẻ. Phở có thịt có hành, thì cơm có cũng có, đã vậy cơm còn hay hơn vì không bao giờ bị trộn... hàn the. Cơm cũng rẻ hơn và... no lâu hơn.
Dân gian (hay đúng hơn là đàn ông trong giân dan) gọi vợ là cơm, bồ là phở. Nếu xét theo khoa học thì cách gọi đó chẳng xúc phạm ai cả vì 2 "nguyên tố" ấy đều có 2 giá trị độc lập, chả cái nào cao hơn cái nào. Nhưng xét về giá trị "nhận thức" rõ ràng có ưu thế, vì phở luôn luôn tượng trưng cho sự bay bướm.
Thật vậy, biết bao nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu đã tốn hàng ngàn trang giấy tán tụng phở như Thuần Việt, Hồn Việt hay Đặc Việt. Chính một quan chức cấp cao đã từng kêu: Thương hiệu Việt dường như chỉ có phở, áo dài, và nón lá. Rất ít bài viết về cơm. Nhà văn Nguyễn Tuân nổi tiếng về bài ký "Phở", chưa có nhà văn, thơ nào nổi tiếng về bài ký "Cơm". Thật quá ngạc nhiên.
Trở lại vấn đề chán "cơm" thèm "phở", đã có rất nhiều bài vè bài thơ và chuyện hài về việc ấy mà gần như chàng đàn ông nào cũng thuộc. Ưu thế của phở so với cơm là quá rõ ràng trong chuyện tình ái, mặc dù nhiều lúc buồn cười là "phở" xấu hoặc già hơn "cơm".
Vừa qua tại một quán bia tại trung tâm thành phố, giới đàn ông đã tổ chức một cuộc hội thảo nghiêm túc với chủ đề "cơm" và "phở". Về dự hội nghị có đông đủ giới đàn ông nhân sĩ, trí thức và các thành phần, kể cả đàn ông Việt ở nước ngoài. Sau 3 ngày khẩn trương làm việc, thảo luận sôi nổi các đại biểu đã thông nhất một bản báo cáo để đệ trình lên Liên hợp quốc giải thích nguyên nhân tại sao chán cơm thèm phở:
1. Đàn ông thèm "phở" vì ít được ăn phở. Muốn ăn phở nhất là phở đặc biệt, phải có tiền, xe hoặc vừa có tiền vừa có xe. Trong khi cơm ngày nào cũng được ăn và phải ăn.
2. Đàn ông dùng cơm ở nhà trong không khí quen thuộc ấm áp đến nhàm chán, còn dùng phở ở xa nhà trang trí lạ mắt, đôi khi đẹp mắt và có cả âm nhạc
3. No thì rất khó ăn thêm cơm, còn phở no tới mấy cũng có thể làm thêm một tô cũng chẳng sao.
4. Ăn phở xong là đứng dậy, đi ngang hoặc ngồi, nằm một chút là tuỳ. Còn ăn cơm xong nhiều khả năng phải thu dọn và rửa bát đĩa.
5. "Phở" không quán nào giống quán nào, thậm chí là không tô nào giống tô nào. Còn cơm thì có khi bao nhiêu năm vẫn thế chỉ có nguội hơn.
6. "Phở" có thể ăn chung với bạn bè. "Cơm" thì rất ít, phần lớn là ăn chung với... bà nấu cơm.
7. Lúc ăn phở, dễ dàng yêu cầu thêm tý hành, tý bánh hoặc thêm tý ớt cho mặn nồng. Còn cơm có gì trên mâm hãy xơi nấy, yêu sách lôi thôi còn bị mắng hoặc bị gắt gỏng "không ăn thì thôi". Ai gắt xin tự hiểu.
8. Phở tuy cùng một chỗ nhưng có thể tái, chín, nạm, gân.. tuỳ ta quyết định. Cơm thì do mụ nấu cơm quyết định, đàn ông chỉ có chấp hành.
9. Nếu ăn phở nhiều tới mức độ trở thành khách quen, ta có thể ăn... thiếu. Còn nếu không đưa tiền lương và nộp ,"cơm" sẽ dừng ngay.
10. Cuối cùng bỏ tiệm "phở" này dễ dàng tìm tiệm "phở" khác. Còn bỏ "cơm" thì phức tạp vô cùng.
Dân gian (hay đúng hơn là đàn ông trong giân dan) gọi vợ là cơm, bồ là phở. Nếu xét theo khoa học thì cách gọi đó chẳng xúc phạm ai cả vì 2 "nguyên tố" ấy đều có 2 giá trị độc lập, chả cái nào cao hơn cái nào. Nhưng xét về giá trị "nhận thức" rõ ràng có ưu thế, vì phở luôn luôn tượng trưng cho sự bay bướm.
Thật vậy, biết bao nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu đã tốn hàng ngàn trang giấy tán tụng phở như Thuần Việt, Hồn Việt hay Đặc Việt. Chính một quan chức cấp cao đã từng kêu: Thương hiệu Việt dường như chỉ có phở, áo dài, và nón lá. Rất ít bài viết về cơm. Nhà văn Nguyễn Tuân nổi tiếng về bài ký "Phở", chưa có nhà văn, thơ nào nổi tiếng về bài ký "Cơm". Thật quá ngạc nhiên.
Trở lại vấn đề chán "cơm" thèm "phở", đã có rất nhiều bài vè bài thơ và chuyện hài về việc ấy mà gần như chàng đàn ông nào cũng thuộc. Ưu thế của phở so với cơm là quá rõ ràng trong chuyện tình ái, mặc dù nhiều lúc buồn cười là "phở" xấu hoặc già hơn "cơm".
Vừa qua tại một quán bia tại trung tâm thành phố, giới đàn ông đã tổ chức một cuộc hội thảo nghiêm túc với chủ đề "cơm" và "phở". Về dự hội nghị có đông đủ giới đàn ông nhân sĩ, trí thức và các thành phần, kể cả đàn ông Việt ở nước ngoài. Sau 3 ngày khẩn trương làm việc, thảo luận sôi nổi các đại biểu đã thông nhất một bản báo cáo để đệ trình lên Liên hợp quốc giải thích nguyên nhân tại sao chán cơm thèm phở:
1. Đàn ông thèm "phở" vì ít được ăn phở. Muốn ăn phở nhất là phở đặc biệt, phải có tiền, xe hoặc vừa có tiền vừa có xe. Trong khi cơm ngày nào cũng được ăn và phải ăn.
2. Đàn ông dùng cơm ở nhà trong không khí quen thuộc ấm áp đến nhàm chán, còn dùng phở ở xa nhà trang trí lạ mắt, đôi khi đẹp mắt và có cả âm nhạc
3. No thì rất khó ăn thêm cơm, còn phở no tới mấy cũng có thể làm thêm một tô cũng chẳng sao.
4. Ăn phở xong là đứng dậy, đi ngang hoặc ngồi, nằm một chút là tuỳ. Còn ăn cơm xong nhiều khả năng phải thu dọn và rửa bát đĩa.
5. "Phở" không quán nào giống quán nào, thậm chí là không tô nào giống tô nào. Còn cơm thì có khi bao nhiêu năm vẫn thế chỉ có nguội hơn.
6. "Phở" có thể ăn chung với bạn bè. "Cơm" thì rất ít, phần lớn là ăn chung với... bà nấu cơm.
7. Lúc ăn phở, dễ dàng yêu cầu thêm tý hành, tý bánh hoặc thêm tý ớt cho mặn nồng. Còn cơm có gì trên mâm hãy xơi nấy, yêu sách lôi thôi còn bị mắng hoặc bị gắt gỏng "không ăn thì thôi". Ai gắt xin tự hiểu.
8. Phở tuy cùng một chỗ nhưng có thể tái, chín, nạm, gân.. tuỳ ta quyết định. Cơm thì do mụ nấu cơm quyết định, đàn ông chỉ có chấp hành.
9. Nếu ăn phở nhiều tới mức độ trở thành khách quen, ta có thể ăn... thiếu. Còn nếu không đưa tiền lương và nộp ,"cơm" sẽ dừng ngay.
10. Cuối cùng bỏ tiệm "phở" này dễ dàng tìm tiệm "phở" khác. Còn bỏ "cơm" thì phức tạp vô cùng.
Chủ Nhật, 24 tháng 6, 2012
Thịt cừu hấp sữa giúp tăng tuổi thọ
Thịt cừu có hàm lượng chất dinh dưỡng cao không kém thịt bò, thịt dê, thịt lợn. Tuy nhiên thịt cừu có đặc tính dễ tiêu, thường được dùng bồi bổ cho người già, những người có lượng mỡ máu cao. Theo các người Trung Quốc thì món thịt cừu hấp sữa giúp sống lâu, món mà Giả mẫu trong truyện Hồng Lâu Mộng hay dùng (bà này sống rất thọ và da dẻ rất đẹp).
Sau đây là cách chế biến món thịt cừu hấp sữa:
1. Nguyên liệu
- Thịt cừu 300g
- Ngân nhĩ: 100g.
- Gừng
- Rượu trắng 1 chén 50 ml
- Sữa tươi 300 ml
2. Cách chế biến
b1- Đặt nồi đun sôi 1 lit nước.
b2- Cho vào nồi nước đang sôi 3 lát gừng và 1/2 chén rượu.
b3- Thịt cừu rửa sạch cho vào nồi nước đang sôi.
b4- Đun sôi 30 phút vớt thịt cừu ra thái thành miếng nhỏ.
b5- Ngân nhĩ trần nước sôi rồi thái nhỏ.
b6- Cho thịt cừu vào bát, sau đó cho ngân nhĩ lên trên.
b7- Đổ sữa tươi và 1/2 chén rượu còn lại vào bát.
b8- Hấp cách thủy khoảng 40 phút là lấy ra ăn được.
Sau đây là cách chế biến món thịt cừu hấp sữa:
1. Nguyên liệu
- Thịt cừu 300g
- Ngân nhĩ: 100g.
- Gừng
- Rượu trắng 1 chén 50 ml
- Sữa tươi 300 ml
2. Cách chế biến
b1- Đặt nồi đun sôi 1 lit nước.
b2- Cho vào nồi nước đang sôi 3 lát gừng và 1/2 chén rượu.
b3- Thịt cừu rửa sạch cho vào nồi nước đang sôi.
b4- Đun sôi 30 phút vớt thịt cừu ra thái thành miếng nhỏ.
b5- Ngân nhĩ trần nước sôi rồi thái nhỏ.
b6- Cho thịt cừu vào bát, sau đó cho ngân nhĩ lên trên.
b7- Đổ sữa tươi và 1/2 chén rượu còn lại vào bát.
b8- Hấp cách thủy khoảng 40 phút là lấy ra ăn được.
Thứ Ba, 19 tháng 6, 2012
Phương Pháp OHSAWA
Giáo Sư Georges Ohzawa tên thật là Sakurazawa Nyoichi (1893-1966) thuở nhỏ rất yếu đuối, bị ung thưbao tử và lao phổi trầm trọng, do lây bệnh từ thân mẫu. Vào thời đó, mẹ ông bịbệnh lao phổi là một bệnh nan y nên bà phải từ trần lúc tuổi đời chỉ mới 30. Ít lâu sau, ông may mắn được một thiền sư đem về chùa chữa trị và truyền dạy về yhọc. Khỏi bệnh ông chuyên tâm nghiên cứu về y học cổ truyền. Năm 20 tuổi ông bắtđầu hành y, đã chữa trị thành công cho rất nhiều người. Để mở rộng thêm kiến thức,năm 30 tuổi ông sang Pháp du học về Tây Y và Sinh Vật Học ở Viện Pasteur. Về nướcphản đối chính phủ gây chiến tranh xâm lược, ông bị tuyên án tử hình, may sauđó nhờ quân đội Mỹ đổ bộ lên nước Nhật kịp thời, ông đã được phóng thích. Nhìnthấy những bệnh tật của con người ngày một gia tăng, trong đó có nhiều bệnh nany mà Tây y tỏ ra bất lực, ông cố công nghiên cứu Vô Song Nguyên lý và Dịch KinhĐông phương, lấy âm dương làm nền tảng, lấy khang kiện làm cứu cánh, ông cùngphu nhân quyết định rời xa quê hương, xuất dương du thuyết, phổ biến triết lý âm dương ở các nước Âu châu, truyền bá phương pháp chữa bệnh mới do ông khaisáng mang tên Macrobiotics tức Phương Pháp Trường Sinh Ohsawa, dùng ẩm thực để chữa lành, hầu hết các bệnh, từ thông thường đến nan y một cách dễ dàng và nhân bản.
1- Quân Bình Âm Dương
Âm và Dương là 2 vật hay 2 trạng thái đối nghịch nhau. Âm thì ly tâm là bành trướng, là lạnh, tối,nhẹ, mềm là bất động, ở bên trong mà dương thì hướng tâm là co rút là nóng,sáng, nặng, cứng là chuyển động, ở bên ngoài. Hai vật cùng tính (cùng âm haycùng dương) thì đẩy nhau. Hai vật khác tính (âm đi với dương) thì hút nhau, lựchút tỷ lệ với hiệu số của hai phân cực âm dương. Không có gì trung hòa, âm hoặcdương, phải có một bên lấn hơn. Với thời gian và không gian, âm sinh ra dươngvà dương sinh ra âm.
Trong cơ thể, đầu (trêncao) thuộc âm; chân (dưới thấp) thuộc dương. Thần kinh Trực giao cảm ly tâm lực( thuộc âm), có tính làm giãn ra chủ về sự giãn nở, bành trướng các tế bào và cáctạng phủ. Thần kinh đối giao cảm hướng tâm (thuộc dương) kiểm soát mọi sự corút. Về âm dương ẩm thực, vật nào nhiều nước hơn, nhiều Kalium hơn sẽ âm hơn. Vậtnào khô hơn hoặc nhiều Natrium hơn sẽ dương hơn. Thực vật âm hơn động vật, tứclà rau âm hơn thịt.
Không gì hoàn toàn âm hay hoàn toàn dương. Vật A có thể là dương đối với B nhưng lại là Âm đối với C,tức âm dương là tương đối. Carrot dương đối với khoai lang nhưng âm đối với khoaimài (hoài sơn).Muốn khỏe mạnh phải dùng thực phẩm sao cho có sự quân bình về âmd ương tức là âm dương phải cân bằng nhau. Dùng thường đồ ăn quá âm hệ trực giao cảm chiếm ưu thế, sẽ sinh bệnh âm; ngược lại đồ ăn dương quá thì hệ đối giao cảm sẽ chiếm ưu thắng sẽ sinh bệnh dương. Thí dụ ăn nhiều đồ ăn âm tính thì bao tử sẽ yếu, tim sẽ đập mạnh,
vì đồ ăn âm kích thích tim (dương) kiềm hãm bao (tử âm). Tiếc thay trên đời này, đồ ăn âm vừa ngon ngọtvừa hấp dẫn thì lại quá nhiều, trong khi đồ ăn dương thì vô cùng ít ỏi, thế nênphần lớn bệnh của loài người là do ăn nhiều đồ ăn âm mà sinh ra. Vậy muốn lập lại thế quân bình âm dương để được khỏe mạnh, ta chỉ việc giảm bớt đồ ăn âm và thế vào đó bằng đồ ăn dương. Trong số hàng ngàn thực phẩm, Ohsawa đã chọn được mộtthứ thực phẩm,vừa có đủ phần âm lại dư giả về dương, có khả năng dương hóa cơthể nhanh, lại nhu thuận dịu dàng với lục phủ ngũ tạng, đó chính là gạo lứt. Gạolứt vừa có chất bột (glucide), vừa có đạm (protide), còn béo (lipide) ông đãđưa mè vào cuộc vì mè cung cấp chất béo, lại chứa nhiều sinh tố và khoáng tố.Mè là âm mà là âm tốt, cho thêm muối là dương, thế là âm dương hòa hợp, đichung với gạo lứt sẽ thành lực lượng hùng hậu khá dương để tái lập thế quânbình âm
Nguyên lý Trị Bệnh dươngcho cơ thể đang bị âm lấn lướt. Bệnh gì cũng không ra ngoài âm dương, không suythì thịnh, lấy đồ ăn âm tính hay dương tính mà trị, sao cho lập lại được thếquân bình thì bệnh sẽ lui, chẳng cần đến thuốc Tây, hoặc ngồi sắc thuốc Bắc chomất công vô ích. Thực hành nguyên lý nầy, Ohsawa tiên sinh khuyên chúng ta nênlấy “Gạo Lứt Muối Mè” làm chuẩn để chữa trị hầu hết mọi thứ bệnh.
Tiên sinh khuyên chúngta nên lưu ý đến một kẻ thù nguy hiểm đó là đường (sugar, sucre) tiềm tàngtrong đồ ăn nước uống. Trong bậc thang âm dương, đường ở vị trí âm mà là cực âm.Mỗi năm, đường đưa con người về “miền cực lạc” nhiều hơn số người “ra đi” vìhai quả bom nguyên tử được thả xuống Nhật 1945. Thật vậy, đường là nguy cơ sinhbệnh tiểu đường, mập phì, huyết áp cao, làm suy giảm hệ thống miễn nhiễm, khiếncơ thể khó chống lại vi trùng và bệnh tật. Đường acid hóa dòng máu khiến chấtvôi bị hao mòn, gây xốp xương, răng hư, rối loạn thần kinh, làm yếu tim mạch,viêm loét dạ dày và ruột, cuối cùng là dẫn đến ung thư. Việc giới hạn dùng đườnglà vô cùng quan trọng. Tuy nhiên, người khỏe mạnh, cần nhiều năng lượng để hoạtđộng có thể dùng đường dưới dạng trái cây. Nếu thích đường thì nên chọn đườngthiên nhiên chưa lọc, thường có màu vàng, nâu hay đen, hoặc mật ong thiên nhiên,còn đường hóa học hoặc đường trắng tuyệt đối không nên dùng.
2-Hợp Với Thiên Nhiên
Sống phải hòa hợp vớithiên nhiên tức là hợp với sự sống. Con người, loài vật và cây cỏ là do tế bàosinh ra và hợp thành. Tế bào nào cũng có sanh có tử cho nên giữa chúng có điểm tươngđồng, mà có tương đồng thì có khả năng tương hợp, tương thuận và tương thànhđúng câu: “Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” (cùng tiếng thì đáp lạinhau, cùng tính thì tìm đến nhau).Trái lại những gì không do sự sống sinh rathì là vật chết, cho dù vật đó hữu dụng tạm thời, vẫn là vật chết. Đó là cáimáy hay người máy (robot), cho dù vật đó nhỏ bé đến mấy, có tổng hợp tài tình đếnmấy, một khi chúng vào cơ thể ta, chúng đóng vai trò như những robot, sẽ khônghòa hợp và chẳng bao lâu sẽ gây hại cho cơ thể. Đó chính là hóa chất, được chếthành thuốc gọi là hóa dược được tổng hợp tại các dược hãng. Với bản chất khôngdo sự sống sinh ra nên nó có ít nhiều độc tính, ta nên tránh dùng càng nhiềucàng tốt.
Tất cả những thực phẩmcó tiềm ẩn hóa chất cũng nên tránh. Đó là những chất bảo quản thực phẩm, nhữnggia phụ. Chúng được cho vào trong đồ ăn làm sẵn (đồ hộp bao gói đồ khô), chấtlàm tươi lâu, chất tạo mùi thơm, hương thơm, nước hoa, phẩm màu làm cho đẹp mắt,làm giòn, gia vị tổng hợp. Vào trong cơ thể, chúng sẽ bào mòn cơ thể chúng ta,làm ô nhiễm môi trường bên trong cơ thể; đường hóa học (saccharin, cyclamate..)sinh quái thai, ung thư;bột ngọt (mì chính, vị tinh, glutamate de sodium) gâynhức đầu, làm tổn thương não, hư mắt, gây hen suyễn, khiến trẻ con tăng trưởngkhông bình thường; các loại acid chế nước chấm làm loét dạ dày, rối loạn tiêuhóa; phẩm màu nhân tạo gây ngộ độc toàn thân, ung thư, nhiều hóa chất công nghiệpdùng trong đồ ăn như thuốc tẩy trắng, làm trong, làm tăng đạm chất giả tạo(melamine) vô cùng độc hại (gây ung thư thận, gan) được dùng lén lút trong lãnhvực chế biến thực phẩm. Ngoài các phụ chất (additifs) trên, ta cũng nên để ý đếnnguồn gốc thực phẩm, có kèm hóa chất để thúc đẩy rau trái mọc nhanh to lớn đẹpmắt khác thường hay không, thú vật có được nuôi bằng thực phẩm có pha trộn hóachất để cơ thể chúng nạc nhiều hơn mỡ, lớn nhanh như thổi hay không ?
Ngoài gạo lứt là chính,có thể thay thế bằng lúa mì lứt, hạt bo bo, kê, hắc mạch (sarrazine) dùng chungvới muối mè và một số rau củ dương tính (carotte, bí đỏ, cresson, choux..)
1-Gạo Lứt là hạt gạocòn nguyên cám và mầm, không bón phân hóa học, kô xịt thuốc trừ sâu, được nấuthành cơm, cháo. Dùng nguyên hạt là tốt nhất, nhưng để đỡ chán, gạo lứt có
Thực Hành thể xay bộtlàm bánh tráng, bánh mì hủ tíu, bánh bèo bánh nậm. Tùy mức độ dương hóa cơ thểnhiều hay ít, phương thức “gạo lứt muối mè” chia thành 7 cấp độ.
-Phương số 7 : gạo lứtmuối mè 100% dương nhất khắc nghiệt nhất nhưng hữu hiệu nhất.
-Phương số 6 : gạo lứtmuối mè: 90% + 10% rau củ, kém dương hơn so với phương 7.
-Phương số 5 : gạo lứtmuối mè 80% + 20% rau củ, kém dương so với 6
-Phương só 4 gạo lứt muốimè 70% + 30% rau củ, kém dương so với 5
-Phương số 3 : gạo lứtmuối mè 60% + 40% rau củ, kém dương so với 4
-Phương số 2: gạo lứtmuối mè 50% + 50 % rau củ, kém dương so với 3
-Phương số 1 : gạo lứtmuối mè 40% + 60 % rau củ, kém dương so với 2
Ngoài 7 phương trên còncó ngoại phương mang tên A, B, C cũng dùng gạo lứt muối mè, nhưng được phépdùng thêm rau đậu trái cây, thịt trứng cá (C thoải mái nhất) nhưng vẫn phải dùngtrong giới hạn. Khi dùng phương có số nhỏ, thí dụ số 4, mà thấy kết quả chậm,thì dùng phương cao hơn như là 5, 6 hay 7, kết quả sẽ nhanh hơn.Khắc khổ và cănbản nhất là phương số 7 được dùng nhiều nhất để chữa bệnh trong mười ngày hoặclâu hơn tùy bệnh nặng nhẹ, dùng chung vớí muối mè (8 phần mè 1 phần muối); cóthể dùng tương, bơ mè, đậu đỏ đen.
Khi khát, lấy gạo lứtrang hoặc trà già ba năm, củ sen, củ sắn dây (cát căn) nấu nước uống.
2-Rau Củ đúng mùa tại địaphương đều dùng được, tốt nhất là rau mọc hoang hoặc trồng tự nhiên (kô bónphân hóa học, kô thuốc trừ sâu). Có thể luộc hấp xào hầm, nấu canh, trộn gỏi, chiênbột, nén muối. Hè nóng có thể ăn rau sống. Các thứ âm thịnh như cà, cà chua,măng giá nấm dùng hạn chế, thỉnh thoảng có thể dùng thịt trứng.
3- Đậu Hạt các loại đềugiàu chất đạm có thể dùng thay thịt cá, nấu riêng hay chung với cơm với rau củlàm bột làm bánh. Khi dùng đậu làm thức ăn, nên để nguyên vỏ vì vỏ chứa nhiều sinhtố và chất bổ, đậu đỏ dương hơn cả, đậu váng ít dương hơn. Đậu đen, đậu xanhhơi âm; còn đậu nành rất âm, nên những món ăn làm bằng đậu nành như sữa đậunành đậu phụ chao nên dùng ít, ngược lại đậu nành ủ lên men ngâm muối và để lâungày như tương ta (hạt lỏng), tương đặc (miso), tương nước (tamari) là nhữnggia vị bổ dưỡng có thể dùng hàng ngày.
4-Rong Biển như phổtai, rau câu chân vịt, rau câu chỉ vàng, mứt biển giàu chất đạm, nhiều bột đường,chất béo chất khoáng và sinh tố; đem chiên xào, trộn gỏi, nấu xúp, làm xu xoa (thạch,agar) hoặc rang giã thành bột làm gia vị hoặc ăn với cơm cháo. Rong biển tươngđối âm hơn rau củ trên đất liền có thể ăn hàng ngày, nên ăn vừa phải và kô nênăn vào buổi tối.
5-Thịt không cần thiết, vìthịt làm acid hóa dòng máu, tăng độ ammoniac trong ruột, vì phần lớn hiện naythú vật được nuôi bằng thực phẩm chứa nhiều hóa chất nên kô tốt; tuy nhiên nếu thíchthì chỉ dùng thịt thú hoang hoặc được nuôi bằng thực phẩm thiên nhiên và dùngcàng ít càng tốt (10% toàn bữa ăn, tuần 2 lần).
6-Cá có thể dùng hàngngày 5% toàn bữa ăn, nên chọn cá nhỏ thịt trắng.
7-Sữa Bò kô thích hợp vớingười, vì dùng dễ sinh cảm cúm, viêm xoang, viêm đại tràng.
8-Trứng nên chọn trứngcó trống dùng cả lòng đỏ và trắng, trứng cực dương khó tiêu nên 1 tuần chỉ nêndùng 2 trái.
Muối được lấy từ nướcbiển thiên nhiên, xa nơi bị ô nhiễm (tàu bè qua lại) chưa bị lọc để tránh mấtkhoáng tố vi lượng.
Mè theo Đông Y bổ não,bổ máu ích gan, cường thận, nhuận trường làm đen râu tóc, da mịn, tai mắt sáng,bền gân cốt, ngừa trị phong tà, tăng sức chịu đựng đói khát.
Dầu mè có tính sáttrùng, bôi lên vết phỏng chống phồng dộp hoặc xức ghẻ, thoa nơi thương tích rấttốt. Dầu mè đặc biệt bổ mắt có thể trị bệnh về mắt.
Dầu mè tốt làm từ mèrang sơ rồi đem ép nhưng không được lọc, không tẩy màu, mùi.
Không dùng bất cứ thứgì do kỹ nghệ sản xuất, kể cả cafe. Phải nhai thật kỹ mới nuốt .
Trị Vài Bệnh Thông Thường
Bại Xụi (poliomyélite)Phương 7 với nhiều muối mè, bầu, hạt bí, kê, sarrazine, bột mì lứt, củ sen,carrote, cresson, epinard, bí đỏ, bồ công anh.
Bao Tử Đau: Phương 7nhai thật kỹ, ăn bột gạo lứt rang với muối mè, tương.
Uống trà gạo lứt, trà 3năm.
Bao Tử Loét: phương 7 vớimuối mè, hay phương 6,5 với ít bắp xú (choux, có chất chống loét), carotte,hành tây xào chín. Nhai kỹ uống ít nước. Dùng bồ công anh (pissenlit) cam thảohoặc cây mắc cở sao vàng nấu nước uống thay trà. Khi cơn đau tới, nuốt 1 muỗng cafemuối mè.
Bướu Nhịn ăn một tuần rồiăn theo phương số 7 (hoặc số 6) với muối mè, uống ít nước. Bướu Cổ (goître)Phương 1 hoặc 2, ăn nhạt, nhiều rong biển, uống trà gạo lứt. Đắp nước gừng nóngvà dán cao khoai sọ.
Bướu Cổ Lồi Mắt(basedow) Phương 7 hoặc 6 ăn hơi mặn và khô.
Uống trà gạo lứt, tràba năm.
Cảm Cúm Sốt: Ăn crème gạolứt (rang vàng gạo lứt rồi tán bột, chiên bột với dầu mè, thêm nước sôi) với muối.Sau đó ăn Phương số 7. Ngâm chân nước nóng 20 phút, rồi nước lạnh 1 phút, laukhô.
Câm,Điếc Phương 7 vớimuối mè.
Cùi Phương 7 với nhiềumuối mè, ngoài đắp nước gừng nóng dán cao khoai sọ.
Đái Đường: Phương 7, đặcbiệt (100g bí đỏ với 50g đậu đỏ hạt nhỏ) nấu lấy nước uống.
Động Mạch Xơ Cứng(Arthériosclérose): Phương 7, ăn hơi lạt, rong biển, rau xanh (cải lá, bắp cải,rau má, cresson, củ cải trắng) nêm tương, luộc, hấp, có thể xào với một chút dầumè.
Uống trà gạo lứt, trà 3năm. Hàng ngày lấy vải nhúng nước gừng nóng chà sát khắp người.
Động Mạch Tắc Nghẹn(Athérosclérose) Phương 7 hay 6, ăn hơi mặn và khô, ăn rong biển, uống trà gạo,lứt trà ba năm.
Gan Viêm: Nhịn ăn 3ngày, rồi ăn kem gạo lứt (rang vàng gạo lứt rồi tán bột, chiên bột với dầu mè,thêm nước sôi) hay bột gạo lứt với muối mè, đừng ăn mặn quá, uống trà gạo lứt.Sau đó là phương 7, rau lá xanh (cresson, rau má, cải xanh, củ cải) . Đau nhiềuthì đắp nước gừng vài phút rồi dán cao khoai sọ. Sốt cao thì đắp đậu hũ. Nôn mửathì nuốt tí muối mè, nước luộc rong biển hay nước đất sét (argile, cho 1 thìacafe đất sét mua ở pharmacie vào nửa ly nước không đun sôi, quấy bằng thìa gỗ).
Giời Ăn (Zona). Ăn cháogạo lứt với muối mè. Nhai nhỏ đậu xanh sống rịt vào chỗ lở.
Sức dầu mè nguyên chấthay dầu cám.
Gầy Ốm Nhịn ăn trong 3ngày rồi dùng phương 7 hay 6 với muối mè độ 1 tháng, rồi dùng phương 5, 4, 3.Nhai thật kỹ.
Hen Suyễn: Phương 7, cóthể thêm củ sen chiên bột, uống trà gạo lứt, trà củ sen.
Huyết Áp Cao hay Thấp:chữa như “động mạch xơ cứng”. Huyết áp cao dùng trà tim sen.
Khớp Xương Sưng Phương7 , muối mè, đắp nước gừng nóng.
Kinh Nguyệt Không ĐềuPhương 7, 6 hoặc 5, uống ít nước, ngâm mông nước nóng 15 phút mỗi đêm trước khiđi ngủ.
Liệt Run Cứng (maladiede Parkinson) Có 2 thứ, âm run ít, dùng phương 7 với một ít muối mè, uống ít nước;dương run nhiều đôi khi vùng vẫy, ăn phương 5, 4, ăn nhạt, uống nước vừa phải,dùng trà bồ công anh cho cả 2 bệnh.
Liệt Dương Phương số 7trong một tháng, sau đó là phương 6, 5.
Mập Phì Phương 7 với60g củ cải radis sống với một ít muối mè trong 1 hoặc 2 tháng.
Mắt Bệnh:
Cận Thị Thuộc bệnh âm,dùng phương 7, 6, 5 với muối mè. Trà gạo lứt, trà 3 năm. Khi mỏi mắt, chà 2 bàntay cho nóng rồi úp vào mắt (7 lần).
Loạn Thị (Astigmatisme)thịnh dương ( kô thấy rõ đường dọc) dùng phương 6, ăn hơi nhạt, loại âm (kô thấyđường ngang) dùng phương 7 nhiều ngày thêm bí đỏ carotte củ sen xào dầu mè nêmtương, hạn chế dùng nước. Áp mắt như cận thị .
Loạn Màu Sắc thịnhdương (kô thấy màu đỏ), thịnh âm (kô thấy màu xanh.
Chữa như loạn thị, áptrà và nhỏ dầu mè như cataracte (mắt cườm, cườm khô)
Mắt Cườm, Mắt kéo mây,Đục thủy tinh thể, Mắt vảy cá (Cataracte), phương 7 hay 6.
Đắp nước trà nóng vàohai mắt nhắm kín, ngày 3 lần mỗi lần 15 phút. Mỗi tối trước khi đi ngủ nhỏ vàomỗi mắt 1-2 giọt dầu mè nguyên chất, uống trà lá cúc.
Dùng nước dừa xiêm tươi(coconut water) mới hái từ trên cây, không non không già, nhỏ mắt. Không đượcdùng nước dừa hộp, dừa ngâm nước hóa chất cho tươi lâu.
Mắt Đỏ, Mắt Hột Nhịn ănvài bữa, hoặc ăn bột gạo lứt cháo gạo lứt với muối mè và tương hơi mặn, uốngtrà gạo lứt trà 3 năm, sữa thảo mộc (nếp lứt, kê, ý dĩ, hạt sen, mè tất cả đãirửa để ráo rang vàng trộn chung xay mịn), áp trà, nhỏ dầu mè như cataracte hoặcnhỏ mắt bằng sữa con so.
Mắt Lé Thịnh âm (hailòng đen nhìn ra 2 bên ngoài) thịnh dương (cả hai nhìn vào trong) chữa như loạnthị, thịnh âm lẫn thịnh dương (mắt nhìn trong mắt nhìn ngoài) dùng phương 7.
Nhãn Áp Tăng (Glaucoma)như mắt cườm, phương 7, uống ít nước.
Uống nước dừa tươi(coconut water).
Viễn Thị Bệnh dương,dùng phương 2, 3, 4, 5 nhai thật kỹ, dùng ít muối, uống nước tùy thich.
Võng Mạc Bị Long(décollement de la rétine) Phương 7, chỉ uống trà gạo lứt vừa đủ thấm miệngtrong vài ngày, sau đó dùng phương 6 ăn hơi mặn và khô. Mỗi tối trước khi đi ngủnhỏ vào mỗi mắt 1-2 giọt dầu mè nguyên chất.
Mũi Ung Thối (Ozène)phương 7, ăn hơi mặn và khô, uống trà gạo lứt, rửa mũi bằng nước trà pha muối(hít vào rồi hỉ ra), áp nước gừng, dán cao khoai sọ.
Phổi Ứ Đàm: Phương 7 hoặc6, mỗi ngày ngậm 2 quả ô mai hay chanh muối lâu năm, uống trà gạo lứt trà củsen, áp nước gừng ở ngực (nam) lưng trên (nữ).
Phong thấp (rhumatisme)Chỉ ăn gạo rang hoặc cháo gạo rang với muối mè, uống ít nước.
Đắp nước gừng, dán caokhoai sọ.
Phỏng: xức dầu mènguyên chất. Lòng trắng trứng, đánh tan, bôi lên. Bôi dầu xăng super.
Sán Lãi: Sáng nhịn ăn,chỉ ăn một nắm gạo lứt sống hay hat bí đỏ sống thêm hành tỏi sống, nhớ nhai kỹ,vài ngày sau sán sẽ ra. Dùng phương 7, 6 thức ăn nấu hơi mặn, uống trà ngải cứu,nước rong biển.
Say sóng Trước khi lênxe, uống ít nước, không dùng rượu, không ăn uống đồ ngọt.
Ngậm một ít muối mè.Để1 quả xí muội muối vào rốn, lấy băng keo dán lại.
Gừng đập hơi giập, đắprốn, dán băng keo, miệng ngậm gừng.
Sạn Mật Bàng Quang Thận:Phương 7, muối mè, 4 ngày đầu 4 muỗng mỗi bữa ăn, các ngày sau,1 muỗng. Đau thìđắp nước gừng nóng dán cao khoai sọ. Tránh đồ ăn âm (trái cây, dấm, các chấtchua, đồ ngọt)
Sưng Màng Óc Phương 7 vớiít muối mè trong một tháng, sau dùng phương 6, 5 với bí đỏ và các thứ rau củ xào mặn.Cạo trọc đầu, ngày 5 lần, đắp nước gừng nóng nửa giờ rồi đắp cao khoai sọ 4 giờ.
Tai biến mạch máu não:Cách chữa như “động mạch sơ cứng”. Áp nước gừng nóng và đắp cao khoa sọ trên đầu(nên cạo sạch tóc). Xoa xát dầu mè gừng.
Thần Kinh Tọa Viêm:Phương 7 như Sơ cứng mảng. Áp nước gừng nóng, dán cao khoai sọ, ngâm nước cải bẹxanh với ít muối.
Thần Kinh Viêm(névrite) : phương7, nhai thật kỹ, uống ít nước, dùng cresson, củ sen, pissenlit,ngoại đắp nước gừng nóng.
Thống Phong (goutte)Phương 7 muối mè, tương đậu nành, uống ít nước.
Tim Đập Chậm(bradycardie) Cháo gạo lứt rang nửa tháng với 10g ô mai ướp muối lâu năm; sau đó dùng phương7 với chút ít muối mè..
Tim Đập Nhanh,(tachycardie) Tim đập không đều phương 7 hay 6,5 với muối mè.
Tim Nhói : Phương 7 vớimuối mè, nhai kỹ, uống ít nước, không ăn gì khác. Trước khi đi ngủ, ăn 1 muỗngmuối mè. Ngày 4 lần, đắp nước gừng nóng và dán cao khoai sọ.
Tim Yếu: Phương 7 vớimuối mè, uống ít nước. Bệnh nặng, trong 3 ngày liên tiếp, mỗi ngày dùng 1 quảtrứng gà sống mới đẻ có trống, thêm chút muối, nuốt trọng đừng nhai. Mỗi đêm trướckhi đi ngủ , ăn một muỗng rưỡi muối mè.
Trí Nhớ kém : Phương 6,ăn rau củ dương (carotte, bí đỏ, cresson, bắp cải, rau má, củ sen, rong biên,lá cải xanh), uống trà gạo lứt, trà ba năm.
Tâm Thần
Cuồng Loạn: (hystérie)Tâm thần và thể xác bị rối loạn, không hòa nhịp. Phương 7 với rau củ dương, tràgạo lứt, trà củ sen, sữa thảo mộc (nếp lứt, kê, ý dĩ, hạt sen, mè tất cả đãi rửađể ráo rang vàng trộn chung xay mịn) để bổ dưỡng
Hoang Tưởng (paranoia),tưởng tượng như đang có ai theo dõi để hại mình, phương số 7
Phân Liệt(schizophrénie) tưởng hồn mình đang ở ngoài thể xác. Chữa như hysteria.
Ung Thư, Phương 7, rongbiển, tương hành tỏi, uống trà gạo lứt trà ba năm. Ngày 3 lần đắp nước gừngnóng rồi sau đó dán cao khoa sọ lên khối u ở bên trong, Nấu cháo “hắc mạch sarrazine”(1 chén hắc mạch, 1 muỗng dầu mè, 1 muỗng café muối, 2 chén nước nấu thành cháo)ăn với muối mè tương đậu nành, uống ít nước.Lở loét thì xức dầu mè tốt , dầu cámhoạc bột dentie (cuống cà đem nén muối 3 năm, phơi khô đốt thành than, xay bột).Trịung thư và viêm bàng quang, ung thư lưỡi miệng, dùng rau củ dương, tránh ăn đồchiên nướng.
Ung Thư Bao Tử: Phương7 với muối mè, uống ít nước, ngày 2 lần uống nửa muỗng cafe dentie. Đắp nước gừngnóng dán cao khoa sọ.
Ung thư Cuống Họng:Cháo gạo lứt rang (hay kem gạo lứt rang) với muối mè. Nếu nuốt được thì dùngphương 7 với muối mè, nhai kỹ, uống trà già ba năm.
Ung Thư Phổi: Phương 7,rong biển, tương hành tỏi, uống trà gạo lứt trà củ sen, áp nước gừng ở ngực(nam) lưng trên (nữ).
Ung Thư Gan, Tụy Tạng:Phương 7, rong biển, tương hành tỏi, uống trà gạo lứt trà ba năm.
Nhịn ăn 3 ngày, rồi ănkem gạo lứt (rang vàng gạo lứt rồi tán bột, chiên bột với dầu mè, thêm nước sôi)hay bột gạo lứt với muối mè, đừng ăn mặn quá, uống trà gạo lứt. Sau đó làphương 7, rau lá xanh (cresson, rau má, cải xanh, củ cải).Đau nhiều thì đắp nướcgừng vài phút rồi dán cao khoai sọ. Sốt cao thì đắp đậu hũ. Nôn mửa thì nuốt tímuối mè, nước luộc rong biển hay nước đất sét (argile, cho 1 thìa cafe đất sétmua ở pharmacie vào nửa ly nước không đun sôi, quấy bằng thìa gỗ).
Viêm Xoang Mũi(sinusis) : Dùng phương 7 với muối mè, ăn củ sen chiên với dầu mè, uống trà củsen. áp nước gừng nóng vào vùng xoang, có thể đắp cao khoa sọ. Xông mũi bằngkhói ngải cứu.
Vô Sinh P 7 trong 2tháng, rồi 6, ,5,4. Trước khi đi ngủ ngâm mông nước muối nóng 15ph.
Xơ Cứng Mảng (scléroseen plaques) Phương 7 hay 6, ăn hơi lạt, carotte, củ sen, bí đỏ, cresson, cải bẹxanh, đậu xanh; hấp luộc xào với ít tương. Không tắm nước nóng, tắm hơi.
Lấy khăn nhúng nước gừngnóng, chà xát khắp người cho da đỏ, rồi xối nước đó lên.
Xuất Tinh Sớm Phương 7nhưng cử mè. Nhai thật nhỏ. Cây Trinh nữ (cây mắc cở) cùng với tim sen nấu uốngthay trà.
Giải Đáp Thắc Mắc
1-Phương pháp Ohsawa chỉdùng thực phẩm chứ không dùng thuốc thì làm sao mà khỏi bệnh được ?
Cơ thể con người cũngnhư của loài vật do Tạo Hóa sinh ra, vô cùng tinh vi, hoàn hảo và vi diệu. Để bảovệ cơ thể khỏi bị hư hại, bệnh tật, Tạo Hóa đã ban cho cơ thể khả năng tự chữa trịlấy bệnh, rất nhiều bệnh, với điều kiện là phải được cung cấp phương tiện tốithiểu để cơ thể tự chữa trị lấy. Trong số thực phẩm hiện hữu, nhiều vô kể,Ohsawa nhận thấy chỉ có” gạo lứt và muối mè” thêm trà gạo lứt rang, trà ba nămlà đủ điều kiện mà cơ thể cần, những thứ khác chỉ là để bổ túc thêm mà thôi.Nhu cầu sở dĩ ít ỏi, ít ra là trong thời gian bị bệnh, là muốn tránh cho cơ thểphải làm việc nhiều, những việc cơ thể thấy chưa cần thiết, để cơ thể chỉ tậptrung vào việc sửa chữa những hư hao của cơ thể, vì đó mới công việc chính.
Nhiều không phải là tốt.Nói nhiều thì dễ sinh mất lòng, có khi mang họa; ăn nhiều thì dễ mang độc tốvào người, tạo thêm nhiều công việc nặng nhọc cho bộ máy tiêu hóa, bài tiết vàcác cơ quan khác, làm mệt cơ thể, cơ thể dễ bị “chia trí” không dành hết “tâmtrí và sức lực” cho việc tu bổ. Thuốc hiện nay là hóa chất tuy có tính năng điềuchỉnh được trục trặc lúc đầu, nhưng bản chất không phải do Tạo Hóa sinh ra (tếbào), nên sẽ bị cơ thể bất dung nạp mà sinh điều bất lợi (phản ứng phụ), sớm trởthành gánh nặng cho cơ thể, làm cơ thể tốn nhiều thì giờ và công sức để loại trừ.Nếu cơ thể không loại trừ được chúng, mà chúng vẫn cứ “ở lỳ” (tích tụ) trong cơthể thì hậu quả sẽ ra sao? Gạo lứt muối mè thì khác, nó cung cấp nguyên liệu màcơ thể cần để hoạt động, cung cấp thực phẩm để bồi bổ cơ thể, cho nên cơ thể OK ngay, quan trọng là không hề có phản ứngphụ. Cho nên không dùng thuốc mà còn hơn là dùng thuốc, và cơ thể sẽ mau khỏi bệnh.
2-Đàn bà con gái taychân lông lá xồm xoàm làm sao cho hết ?
Vì ăn quá nhiều đồ ănhuyết nhục (dương) nên cơ thể thành quá dương sinh nhiều lông lá.
Dùng phương 7 vài batháng để âm dương được quân bình, thì tay chân sẽ sạch lông, sẽ trả về cho cơthể sự duyên dáng dịu dàng và xinh đẹp.
3- Muốn biến đổi thainhi gái thành thai nhi trai thì làm sao ?
Người đàn bà lúc cóthai sắp được 2 tháng đi tìm mua một lượng Hùng Hoàng (As2 S3) (dương) (ở tiệmthuốc Bắc) bỏ vào một cái túi lụa đỏ (dương) đeo luôn trong mình để dương hóacái thai, thai nhi sẽ hoá thành trai.
4-Dùng Nguyên lý ÂmDương để chữa trị chứng hiếm muộn
Có nhiều phương cách trịhiếm muộn, nhưng đây là trường hợp đặc biệt. Một cặp vợ chồng, cả hai đều khỏemạnh, “tinh binh” của chồng đều đầy đủ và rất tốt, yếu tố rhésus thuận lợi, thếmà người vợ cứ bị hư thai hoài. Bác sĩ Morishita sau khi hiểu được Dịch lý âmdương ghi trong sách của Ohsawa, ông nẩy ra ý kiến là cái phôi thai bị kháng thể(anticorps) trong huyết quản của người mẹ chống đối kháng thể người con, vìchúng cùng Âm hoặc cùng Dương nên ghét nhau và xô đuổi nhau. Nay muốn hóa giảisự chống đối thì phải có vật thế thân (như kiểu Lê Lai cứu chúa) để hướng dẫn sựchống đối vào một mục tiêu khác trầm trọng hơn.
Khi người mẹ có thai được2 tháng, ông lấy một mảnh da của người chồng ghép vào cho người vợ. Độ 2 tuầnsau thì miếng da bị tróc và bị kháng thể trong châu thân người vợ chống đối kịchliệt. Đến tháng năm rồi tháng tám, ông ta cũng ghép như thế, các miếng da vẫn bịtróc sau 2 tuần. Thế là thai nhi được bình yên và đứa bé chào đời hoàn toàn khỏemạnh. Sở dĩ thai nhi được bình yên vi kháng thể người mẹ đã tập trung toàn lựcquay mũi dùi để lo chống đối kịch liệt miếng da ghép của người chồng là một vậtchỉ riêng của người chồng mà nó chống đối thù ghét nhiều hơn cái thai đã có mộtnửa phần là phần máu huyết của người mẹ.
5-Dùng Nguyên lý ÂmDương Để Tăng Khả Năng Chống Bệnh Của Cơ Thể
1-Ngâm Chân Nước Nóng
Trong thủy liệu pháp củaTây phương, người ta ngâm chân nước nóng chỉ là để đưa máu xuống chân làm hạnhiệt. Còn theo Nguyên lý Âm Dương: đầu (âm) phải mát (âm), chân (dương) phảinóng ( dương), thì âm dương trên dưới mới là đúng vị thế, trong cùng một cơ thểmới là quân bình, bằng ngược lại sẽ bệnh. Một khi đã mất quân bình rồi thì taphải lập tức tái lập vị thế quân bình âm dương bằng phương pháp sau, tuy giản dịnhưng có thể trị đượcnhiều bệnh như nhức đầu, nóng lạnh, mất ngủ, hạ nhiệt, honhất là cảm nhiễm phong hàn, cảm cúm.
Lấy 2 cái chậu, đổ nướclạnh gần đầy thùng A, thùng B chỉ đổ phân nửa. Nấu nước sôi cho thêm vào nắm muốiđổ vào thùng B cho nước nóng lên chừng 40 độ C. Ngồi chỗ kín gió, nhúng 2 chânvào nước ấm, nếu nước nguội thì châm thêm nước sôi. Khoảng 20 phút sau (10 phútnếu là trẻ con), nhúng cả 2 chân vào thùng A (nước lạnh) trong 1 phút, để giữnhiệt (âm hút dương) rồi lấy 2 chân ra lau thật khô rồi xát mạnh vào lòng bànchân cho ấm.
Trùm mền cho ngườinóng. Khi ra mồ hôi thì lấy khăn lau khô, thay quần áo.
Ngày có thể ngâm chân 2lần, tốt nhất là trước khi đi ngủ.
2-Dậm Chân Tại Chỗ
Dựa trên nguyên lý âmdương: đầu (âm) cần mát (âm), chân (dương) cần nóng (dương). Ở đây ta dùng mộtvật tác động đến hai bàn chân để tạo sức nóng cho chúng, đưa chúng đến tình trạngnóng (dương), bằng sự ma sát liên tục. Phương pháp nầy mang lại nhiều lợi ích chonhững người ở thành thị sống xa thiên nhiên, hằng ngày chỉ đi giày đi dép, đixe cộ, ít có dịp đi chân không.
Cưa một thanh gỗ dài 35cm, mỗi đầu thanh gỗ có tiết diện hình vuông, mỗi cạnh là 3,5 cm.
Một mặt trên thanh gỗ,bào cong hình vòng cung theo vòm bàn chân. Đặt thanh gỗ trên nền nhà cạnh bànhoặc tủ, mặt bào cong hướng lên trên. Đứng thẳng lưng và đầu, hai bàn tay vịnhbàn, đặt lòng bàn chân lên mặt bào cong của thanh gỗ, dậm chân tại chỗ 20 phút,thỉnh thoảng dậm từ gót chân ra đến các ngón chân và ngược lại. Ngày 2 lần, buổisáng mới thức dậy và buổi tối trước khi đi ngủ. Phương pháp nầy trị được nhiềubệnh : đau tim, mất ngủ, nhức đầu tê mỏi, suy nhược.
3-Tiếp Cận Ion-Âm
Trên mặt đất có một lớpIon âm, khi đi vào cơ thể sẽ kích thích hệ thần kinh đối giao cảm, có tác dụnglà làm thay đổi mực độ acid-kiềm của máu , làm gia tăng hoạt tính của tế bàolành mạnh, làm sung mãn cho các tế bào. Ion âm được sinh ra rất nhiều gần bênthác nước thiên nhiên. Người đang thời kỳ dưỡng bệnh nên đến gần tháng nước nghỉmát, bệnh sẽ rất mau lành. Những người sống ở thành thị, chân luôn đi giày dép,hai bàn chân ít có dịp tiếp xúc với mặt đất, với cỏ cây sỏi đá nên không đượchưởng khí lực nầy. Chân (dương) không thể hút Ion Âm (âm) được, cơ thể không đượchưởng sinh khí của đất nên thường hay bị mệt mỏi chán chường trầm uất hay nónggiận. Vậy ta hãy dùng phương pháp sau đây để đưa nguồn sinh lực thiên nhiên vôtận nầy vào nhà, thậm chí đưa lên lầu cao hoặc trên nền gỗ.
Nối 1 đầu dây đồng (dâytrần đã bỏ vỏ cách ly) vào phần dưới của ống dẫn nước, đầu kia nối với một tấmkim loại inox, rộng bằng 2 bàn chân, (hay với 2 cái thìa lớn bằng inox). Hàng ngàydùng chân trần đạp lên tấm kim loại nầy (hay 2 thìa Inox), cho ion âm ở đấttheo ống dẫn nước đi qua gang bàn chân, rồi chan hòa vào cơ thể. Phương pháp nầylàm tăng sức đề kháng cơ thể trị đau đầu, mất ngủ, hay mệt mỏi, bệnh tim mạch.
Biên Soạn Nguyễn San Hà(15/3/2012)
1- Quân Bình Âm Dương
Âm và Dương là 2 vật hay 2 trạng thái đối nghịch nhau. Âm thì ly tâm là bành trướng, là lạnh, tối,nhẹ, mềm là bất động, ở bên trong mà dương thì hướng tâm là co rút là nóng,sáng, nặng, cứng là chuyển động, ở bên ngoài. Hai vật cùng tính (cùng âm haycùng dương) thì đẩy nhau. Hai vật khác tính (âm đi với dương) thì hút nhau, lựchút tỷ lệ với hiệu số của hai phân cực âm dương. Không có gì trung hòa, âm hoặcdương, phải có một bên lấn hơn. Với thời gian và không gian, âm sinh ra dươngvà dương sinh ra âm.
Trong cơ thể, đầu (trêncao) thuộc âm; chân (dưới thấp) thuộc dương. Thần kinh Trực giao cảm ly tâm lực( thuộc âm), có tính làm giãn ra chủ về sự giãn nở, bành trướng các tế bào và cáctạng phủ. Thần kinh đối giao cảm hướng tâm (thuộc dương) kiểm soát mọi sự corút. Về âm dương ẩm thực, vật nào nhiều nước hơn, nhiều Kalium hơn sẽ âm hơn. Vậtnào khô hơn hoặc nhiều Natrium hơn sẽ dương hơn. Thực vật âm hơn động vật, tứclà rau âm hơn thịt.
Không gì hoàn toàn âm hay hoàn toàn dương. Vật A có thể là dương đối với B nhưng lại là Âm đối với C,tức âm dương là tương đối. Carrot dương đối với khoai lang nhưng âm đối với khoaimài (hoài sơn).Muốn khỏe mạnh phải dùng thực phẩm sao cho có sự quân bình về âmd ương tức là âm dương phải cân bằng nhau. Dùng thường đồ ăn quá âm hệ trực giao cảm chiếm ưu thế, sẽ sinh bệnh âm; ngược lại đồ ăn dương quá thì hệ đối giao cảm sẽ chiếm ưu thắng sẽ sinh bệnh dương. Thí dụ ăn nhiều đồ ăn âm tính thì bao tử sẽ yếu, tim sẽ đập mạnh,
vì đồ ăn âm kích thích tim (dương) kiềm hãm bao (tử âm). Tiếc thay trên đời này, đồ ăn âm vừa ngon ngọtvừa hấp dẫn thì lại quá nhiều, trong khi đồ ăn dương thì vô cùng ít ỏi, thế nênphần lớn bệnh của loài người là do ăn nhiều đồ ăn âm mà sinh ra. Vậy muốn lập lại thế quân bình âm dương để được khỏe mạnh, ta chỉ việc giảm bớt đồ ăn âm và thế vào đó bằng đồ ăn dương. Trong số hàng ngàn thực phẩm, Ohsawa đã chọn được mộtthứ thực phẩm,vừa có đủ phần âm lại dư giả về dương, có khả năng dương hóa cơthể nhanh, lại nhu thuận dịu dàng với lục phủ ngũ tạng, đó chính là gạo lứt. Gạolứt vừa có chất bột (glucide), vừa có đạm (protide), còn béo (lipide) ông đãđưa mè vào cuộc vì mè cung cấp chất béo, lại chứa nhiều sinh tố và khoáng tố.Mè là âm mà là âm tốt, cho thêm muối là dương, thế là âm dương hòa hợp, đichung với gạo lứt sẽ thành lực lượng hùng hậu khá dương để tái lập thế quânbình âm
Nguyên lý Trị Bệnh dươngcho cơ thể đang bị âm lấn lướt. Bệnh gì cũng không ra ngoài âm dương, không suythì thịnh, lấy đồ ăn âm tính hay dương tính mà trị, sao cho lập lại được thếquân bình thì bệnh sẽ lui, chẳng cần đến thuốc Tây, hoặc ngồi sắc thuốc Bắc chomất công vô ích. Thực hành nguyên lý nầy, Ohsawa tiên sinh khuyên chúng ta nênlấy “Gạo Lứt Muối Mè” làm chuẩn để chữa trị hầu hết mọi thứ bệnh.
Tiên sinh khuyên chúngta nên lưu ý đến một kẻ thù nguy hiểm đó là đường (sugar, sucre) tiềm tàngtrong đồ ăn nước uống. Trong bậc thang âm dương, đường ở vị trí âm mà là cực âm.Mỗi năm, đường đưa con người về “miền cực lạc” nhiều hơn số người “ra đi” vìhai quả bom nguyên tử được thả xuống Nhật 1945. Thật vậy, đường là nguy cơ sinhbệnh tiểu đường, mập phì, huyết áp cao, làm suy giảm hệ thống miễn nhiễm, khiếncơ thể khó chống lại vi trùng và bệnh tật. Đường acid hóa dòng máu khiến chấtvôi bị hao mòn, gây xốp xương, răng hư, rối loạn thần kinh, làm yếu tim mạch,viêm loét dạ dày và ruột, cuối cùng là dẫn đến ung thư. Việc giới hạn dùng đườnglà vô cùng quan trọng. Tuy nhiên, người khỏe mạnh, cần nhiều năng lượng để hoạtđộng có thể dùng đường dưới dạng trái cây. Nếu thích đường thì nên chọn đườngthiên nhiên chưa lọc, thường có màu vàng, nâu hay đen, hoặc mật ong thiên nhiên,còn đường hóa học hoặc đường trắng tuyệt đối không nên dùng.
2-Hợp Với Thiên Nhiên
Sống phải hòa hợp vớithiên nhiên tức là hợp với sự sống. Con người, loài vật và cây cỏ là do tế bàosinh ra và hợp thành. Tế bào nào cũng có sanh có tử cho nên giữa chúng có điểm tươngđồng, mà có tương đồng thì có khả năng tương hợp, tương thuận và tương thànhđúng câu: “Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” (cùng tiếng thì đáp lạinhau, cùng tính thì tìm đến nhau).Trái lại những gì không do sự sống sinh rathì là vật chết, cho dù vật đó hữu dụng tạm thời, vẫn là vật chết. Đó là cáimáy hay người máy (robot), cho dù vật đó nhỏ bé đến mấy, có tổng hợp tài tình đếnmấy, một khi chúng vào cơ thể ta, chúng đóng vai trò như những robot, sẽ khônghòa hợp và chẳng bao lâu sẽ gây hại cho cơ thể. Đó chính là hóa chất, được chếthành thuốc gọi là hóa dược được tổng hợp tại các dược hãng. Với bản chất khôngdo sự sống sinh ra nên nó có ít nhiều độc tính, ta nên tránh dùng càng nhiềucàng tốt.
Tất cả những thực phẩmcó tiềm ẩn hóa chất cũng nên tránh. Đó là những chất bảo quản thực phẩm, nhữnggia phụ. Chúng được cho vào trong đồ ăn làm sẵn (đồ hộp bao gói đồ khô), chấtlàm tươi lâu, chất tạo mùi thơm, hương thơm, nước hoa, phẩm màu làm cho đẹp mắt,làm giòn, gia vị tổng hợp. Vào trong cơ thể, chúng sẽ bào mòn cơ thể chúng ta,làm ô nhiễm môi trường bên trong cơ thể; đường hóa học (saccharin, cyclamate..)sinh quái thai, ung thư;bột ngọt (mì chính, vị tinh, glutamate de sodium) gâynhức đầu, làm tổn thương não, hư mắt, gây hen suyễn, khiến trẻ con tăng trưởngkhông bình thường; các loại acid chế nước chấm làm loét dạ dày, rối loạn tiêuhóa; phẩm màu nhân tạo gây ngộ độc toàn thân, ung thư, nhiều hóa chất công nghiệpdùng trong đồ ăn như thuốc tẩy trắng, làm trong, làm tăng đạm chất giả tạo(melamine) vô cùng độc hại (gây ung thư thận, gan) được dùng lén lút trong lãnhvực chế biến thực phẩm. Ngoài các phụ chất (additifs) trên, ta cũng nên để ý đếnnguồn gốc thực phẩm, có kèm hóa chất để thúc đẩy rau trái mọc nhanh to lớn đẹpmắt khác thường hay không, thú vật có được nuôi bằng thực phẩm có pha trộn hóachất để cơ thể chúng nạc nhiều hơn mỡ, lớn nhanh như thổi hay không ?
Ngoài gạo lứt là chính,có thể thay thế bằng lúa mì lứt, hạt bo bo, kê, hắc mạch (sarrazine) dùng chungvới muối mè và một số rau củ dương tính (carotte, bí đỏ, cresson, choux..)
1-Gạo Lứt là hạt gạocòn nguyên cám và mầm, không bón phân hóa học, kô xịt thuốc trừ sâu, được nấuthành cơm, cháo. Dùng nguyên hạt là tốt nhất, nhưng để đỡ chán, gạo lứt có
Thực Hành thể xay bộtlàm bánh tráng, bánh mì hủ tíu, bánh bèo bánh nậm. Tùy mức độ dương hóa cơ thểnhiều hay ít, phương thức “gạo lứt muối mè” chia thành 7 cấp độ.
-Phương số 7 : gạo lứtmuối mè 100% dương nhất khắc nghiệt nhất nhưng hữu hiệu nhất.
-Phương số 6 : gạo lứtmuối mè: 90% + 10% rau củ, kém dương hơn so với phương 7.
-Phương số 5 : gạo lứtmuối mè 80% + 20% rau củ, kém dương so với 6
-Phương só 4 gạo lứt muốimè 70% + 30% rau củ, kém dương so với 5
-Phương số 3 : gạo lứtmuối mè 60% + 40% rau củ, kém dương so với 4
-Phương số 2: gạo lứtmuối mè 50% + 50 % rau củ, kém dương so với 3
-Phương số 1 : gạo lứtmuối mè 40% + 60 % rau củ, kém dương so với 2
Ngoài 7 phương trên còncó ngoại phương mang tên A, B, C cũng dùng gạo lứt muối mè, nhưng được phépdùng thêm rau đậu trái cây, thịt trứng cá (C thoải mái nhất) nhưng vẫn phải dùngtrong giới hạn. Khi dùng phương có số nhỏ, thí dụ số 4, mà thấy kết quả chậm,thì dùng phương cao hơn như là 5, 6 hay 7, kết quả sẽ nhanh hơn.Khắc khổ và cănbản nhất là phương số 7 được dùng nhiều nhất để chữa bệnh trong mười ngày hoặclâu hơn tùy bệnh nặng nhẹ, dùng chung vớí muối mè (8 phần mè 1 phần muối); cóthể dùng tương, bơ mè, đậu đỏ đen.
Khi khát, lấy gạo lứtrang hoặc trà già ba năm, củ sen, củ sắn dây (cát căn) nấu nước uống.
2-Rau Củ đúng mùa tại địaphương đều dùng được, tốt nhất là rau mọc hoang hoặc trồng tự nhiên (kô bónphân hóa học, kô thuốc trừ sâu). Có thể luộc hấp xào hầm, nấu canh, trộn gỏi, chiênbột, nén muối. Hè nóng có thể ăn rau sống. Các thứ âm thịnh như cà, cà chua,măng giá nấm dùng hạn chế, thỉnh thoảng có thể dùng thịt trứng.
3- Đậu Hạt các loại đềugiàu chất đạm có thể dùng thay thịt cá, nấu riêng hay chung với cơm với rau củlàm bột làm bánh. Khi dùng đậu làm thức ăn, nên để nguyên vỏ vì vỏ chứa nhiều sinhtố và chất bổ, đậu đỏ dương hơn cả, đậu váng ít dương hơn. Đậu đen, đậu xanhhơi âm; còn đậu nành rất âm, nên những món ăn làm bằng đậu nành như sữa đậunành đậu phụ chao nên dùng ít, ngược lại đậu nành ủ lên men ngâm muối và để lâungày như tương ta (hạt lỏng), tương đặc (miso), tương nước (tamari) là nhữnggia vị bổ dưỡng có thể dùng hàng ngày.
4-Rong Biển như phổtai, rau câu chân vịt, rau câu chỉ vàng, mứt biển giàu chất đạm, nhiều bột đường,chất béo chất khoáng và sinh tố; đem chiên xào, trộn gỏi, nấu xúp, làm xu xoa (thạch,agar) hoặc rang giã thành bột làm gia vị hoặc ăn với cơm cháo. Rong biển tươngđối âm hơn rau củ trên đất liền có thể ăn hàng ngày, nên ăn vừa phải và kô nênăn vào buổi tối.
5-Thịt không cần thiết, vìthịt làm acid hóa dòng máu, tăng độ ammoniac trong ruột, vì phần lớn hiện naythú vật được nuôi bằng thực phẩm chứa nhiều hóa chất nên kô tốt; tuy nhiên nếu thíchthì chỉ dùng thịt thú hoang hoặc được nuôi bằng thực phẩm thiên nhiên và dùngcàng ít càng tốt (10% toàn bữa ăn, tuần 2 lần).
6-Cá có thể dùng hàngngày 5% toàn bữa ăn, nên chọn cá nhỏ thịt trắng.
7-Sữa Bò kô thích hợp vớingười, vì dùng dễ sinh cảm cúm, viêm xoang, viêm đại tràng.
8-Trứng nên chọn trứngcó trống dùng cả lòng đỏ và trắng, trứng cực dương khó tiêu nên 1 tuần chỉ nêndùng 2 trái.
Muối được lấy từ nướcbiển thiên nhiên, xa nơi bị ô nhiễm (tàu bè qua lại) chưa bị lọc để tránh mấtkhoáng tố vi lượng.
Mè theo Đông Y bổ não,bổ máu ích gan, cường thận, nhuận trường làm đen râu tóc, da mịn, tai mắt sáng,bền gân cốt, ngừa trị phong tà, tăng sức chịu đựng đói khát.
Dầu mè có tính sáttrùng, bôi lên vết phỏng chống phồng dộp hoặc xức ghẻ, thoa nơi thương tích rấttốt. Dầu mè đặc biệt bổ mắt có thể trị bệnh về mắt.
Dầu mè tốt làm từ mèrang sơ rồi đem ép nhưng không được lọc, không tẩy màu, mùi.
Không dùng bất cứ thứgì do kỹ nghệ sản xuất, kể cả cafe. Phải nhai thật kỹ mới nuốt .
Trị Vài Bệnh Thông Thường
Bại Xụi (poliomyélite)Phương 7 với nhiều muối mè, bầu, hạt bí, kê, sarrazine, bột mì lứt, củ sen,carrote, cresson, epinard, bí đỏ, bồ công anh.
Bao Tử Đau: Phương 7nhai thật kỹ, ăn bột gạo lứt rang với muối mè, tương.
Uống trà gạo lứt, trà 3năm.
Bao Tử Loét: phương 7 vớimuối mè, hay phương 6,5 với ít bắp xú (choux, có chất chống loét), carotte,hành tây xào chín. Nhai kỹ uống ít nước. Dùng bồ công anh (pissenlit) cam thảohoặc cây mắc cở sao vàng nấu nước uống thay trà. Khi cơn đau tới, nuốt 1 muỗng cafemuối mè.
Bướu Nhịn ăn một tuần rồiăn theo phương số 7 (hoặc số 6) với muối mè, uống ít nước. Bướu Cổ (goître)Phương 1 hoặc 2, ăn nhạt, nhiều rong biển, uống trà gạo lứt. Đắp nước gừng nóngvà dán cao khoai sọ.
Bướu Cổ Lồi Mắt(basedow) Phương 7 hoặc 6 ăn hơi mặn và khô.
Uống trà gạo lứt, tràba năm.
Cảm Cúm Sốt: Ăn crème gạolứt (rang vàng gạo lứt rồi tán bột, chiên bột với dầu mè, thêm nước sôi) với muối.Sau đó ăn Phương số 7. Ngâm chân nước nóng 20 phút, rồi nước lạnh 1 phút, laukhô.
Câm,Điếc Phương 7 vớimuối mè.
Cùi Phương 7 với nhiềumuối mè, ngoài đắp nước gừng nóng dán cao khoai sọ.
Đái Đường: Phương 7, đặcbiệt (100g bí đỏ với 50g đậu đỏ hạt nhỏ) nấu lấy nước uống.
Động Mạch Xơ Cứng(Arthériosclérose): Phương 7, ăn hơi lạt, rong biển, rau xanh (cải lá, bắp cải,rau má, cresson, củ cải trắng) nêm tương, luộc, hấp, có thể xào với một chút dầumè.
Uống trà gạo lứt, trà 3năm. Hàng ngày lấy vải nhúng nước gừng nóng chà sát khắp người.
Động Mạch Tắc Nghẹn(Athérosclérose) Phương 7 hay 6, ăn hơi mặn và khô, ăn rong biển, uống trà gạo,lứt trà ba năm.
Gan Viêm: Nhịn ăn 3ngày, rồi ăn kem gạo lứt (rang vàng gạo lứt rồi tán bột, chiên bột với dầu mè,thêm nước sôi) hay bột gạo lứt với muối mè, đừng ăn mặn quá, uống trà gạo lứt.Sau đó là phương 7, rau lá xanh (cresson, rau má, cải xanh, củ cải) . Đau nhiềuthì đắp nước gừng vài phút rồi dán cao khoai sọ. Sốt cao thì đắp đậu hũ. Nôn mửathì nuốt tí muối mè, nước luộc rong biển hay nước đất sét (argile, cho 1 thìacafe đất sét mua ở pharmacie vào nửa ly nước không đun sôi, quấy bằng thìa gỗ).
Giời Ăn (Zona). Ăn cháogạo lứt với muối mè. Nhai nhỏ đậu xanh sống rịt vào chỗ lở.
Sức dầu mè nguyên chấthay dầu cám.
Gầy Ốm Nhịn ăn trong 3ngày rồi dùng phương 7 hay 6 với muối mè độ 1 tháng, rồi dùng phương 5, 4, 3.Nhai thật kỹ.
Hen Suyễn: Phương 7, cóthể thêm củ sen chiên bột, uống trà gạo lứt, trà củ sen.
Huyết Áp Cao hay Thấp:chữa như “động mạch xơ cứng”. Huyết áp cao dùng trà tim sen.
Khớp Xương Sưng Phương7 , muối mè, đắp nước gừng nóng.
Kinh Nguyệt Không ĐềuPhương 7, 6 hoặc 5, uống ít nước, ngâm mông nước nóng 15 phút mỗi đêm trước khiđi ngủ.
Liệt Run Cứng (maladiede Parkinson) Có 2 thứ, âm run ít, dùng phương 7 với một ít muối mè, uống ít nước;dương run nhiều đôi khi vùng vẫy, ăn phương 5, 4, ăn nhạt, uống nước vừa phải,dùng trà bồ công anh cho cả 2 bệnh.
Liệt Dương Phương số 7trong một tháng, sau đó là phương 6, 5.
Mập Phì Phương 7 với60g củ cải radis sống với một ít muối mè trong 1 hoặc 2 tháng.
Mắt Bệnh:
Cận Thị Thuộc bệnh âm,dùng phương 7, 6, 5 với muối mè. Trà gạo lứt, trà 3 năm. Khi mỏi mắt, chà 2 bàntay cho nóng rồi úp vào mắt (7 lần).
Loạn Thị (Astigmatisme)thịnh dương ( kô thấy rõ đường dọc) dùng phương 6, ăn hơi nhạt, loại âm (kô thấyđường ngang) dùng phương 7 nhiều ngày thêm bí đỏ carotte củ sen xào dầu mè nêmtương, hạn chế dùng nước. Áp mắt như cận thị .
Loạn Màu Sắc thịnhdương (kô thấy màu đỏ), thịnh âm (kô thấy màu xanh.
Chữa như loạn thị, áptrà và nhỏ dầu mè như cataracte (mắt cườm, cườm khô)
Mắt Cườm, Mắt kéo mây,Đục thủy tinh thể, Mắt vảy cá (Cataracte), phương 7 hay 6.
Đắp nước trà nóng vàohai mắt nhắm kín, ngày 3 lần mỗi lần 15 phút. Mỗi tối trước khi đi ngủ nhỏ vàomỗi mắt 1-2 giọt dầu mè nguyên chất, uống trà lá cúc.
Dùng nước dừa xiêm tươi(coconut water) mới hái từ trên cây, không non không già, nhỏ mắt. Không đượcdùng nước dừa hộp, dừa ngâm nước hóa chất cho tươi lâu.
Mắt Đỏ, Mắt Hột Nhịn ănvài bữa, hoặc ăn bột gạo lứt cháo gạo lứt với muối mè và tương hơi mặn, uốngtrà gạo lứt trà 3 năm, sữa thảo mộc (nếp lứt, kê, ý dĩ, hạt sen, mè tất cả đãirửa để ráo rang vàng trộn chung xay mịn), áp trà, nhỏ dầu mè như cataracte hoặcnhỏ mắt bằng sữa con so.
Mắt Lé Thịnh âm (hailòng đen nhìn ra 2 bên ngoài) thịnh dương (cả hai nhìn vào trong) chữa như loạnthị, thịnh âm lẫn thịnh dương (mắt nhìn trong mắt nhìn ngoài) dùng phương 7.
Nhãn Áp Tăng (Glaucoma)như mắt cườm, phương 7, uống ít nước.
Uống nước dừa tươi(coconut water).
Viễn Thị Bệnh dương,dùng phương 2, 3, 4, 5 nhai thật kỹ, dùng ít muối, uống nước tùy thich.
Võng Mạc Bị Long(décollement de la rétine) Phương 7, chỉ uống trà gạo lứt vừa đủ thấm miệngtrong vài ngày, sau đó dùng phương 6 ăn hơi mặn và khô. Mỗi tối trước khi đi ngủnhỏ vào mỗi mắt 1-2 giọt dầu mè nguyên chất.
Mũi Ung Thối (Ozène)phương 7, ăn hơi mặn và khô, uống trà gạo lứt, rửa mũi bằng nước trà pha muối(hít vào rồi hỉ ra), áp nước gừng, dán cao khoai sọ.
Phổi Ứ Đàm: Phương 7 hoặc6, mỗi ngày ngậm 2 quả ô mai hay chanh muối lâu năm, uống trà gạo lứt trà củsen, áp nước gừng ở ngực (nam) lưng trên (nữ).
Phong thấp (rhumatisme)Chỉ ăn gạo rang hoặc cháo gạo rang với muối mè, uống ít nước.
Đắp nước gừng, dán caokhoai sọ.
Phỏng: xức dầu mènguyên chất. Lòng trắng trứng, đánh tan, bôi lên. Bôi dầu xăng super.
Sán Lãi: Sáng nhịn ăn,chỉ ăn một nắm gạo lứt sống hay hat bí đỏ sống thêm hành tỏi sống, nhớ nhai kỹ,vài ngày sau sán sẽ ra. Dùng phương 7, 6 thức ăn nấu hơi mặn, uống trà ngải cứu,nước rong biển.
Say sóng Trước khi lênxe, uống ít nước, không dùng rượu, không ăn uống đồ ngọt.
Ngậm một ít muối mè.Để1 quả xí muội muối vào rốn, lấy băng keo dán lại.
Gừng đập hơi giập, đắprốn, dán băng keo, miệng ngậm gừng.
Sạn Mật Bàng Quang Thận:Phương 7, muối mè, 4 ngày đầu 4 muỗng mỗi bữa ăn, các ngày sau,1 muỗng. Đau thìđắp nước gừng nóng dán cao khoai sọ. Tránh đồ ăn âm (trái cây, dấm, các chấtchua, đồ ngọt)
Sưng Màng Óc Phương 7 vớiít muối mè trong một tháng, sau dùng phương 6, 5 với bí đỏ và các thứ rau củ xào mặn.Cạo trọc đầu, ngày 5 lần, đắp nước gừng nóng nửa giờ rồi đắp cao khoai sọ 4 giờ.
Tai biến mạch máu não:Cách chữa như “động mạch sơ cứng”. Áp nước gừng nóng và đắp cao khoa sọ trên đầu(nên cạo sạch tóc). Xoa xát dầu mè gừng.
Thần Kinh Tọa Viêm:Phương 7 như Sơ cứng mảng. Áp nước gừng nóng, dán cao khoai sọ, ngâm nước cải bẹxanh với ít muối.
Thần Kinh Viêm(névrite) : phương7, nhai thật kỹ, uống ít nước, dùng cresson, củ sen, pissenlit,ngoại đắp nước gừng nóng.
Thống Phong (goutte)Phương 7 muối mè, tương đậu nành, uống ít nước.
Tim Đập Chậm(bradycardie) Cháo gạo lứt rang nửa tháng với 10g ô mai ướp muối lâu năm; sau đó dùng phương7 với chút ít muối mè..
Tim Đập Nhanh,(tachycardie) Tim đập không đều phương 7 hay 6,5 với muối mè.
Tim Nhói : Phương 7 vớimuối mè, nhai kỹ, uống ít nước, không ăn gì khác. Trước khi đi ngủ, ăn 1 muỗngmuối mè. Ngày 4 lần, đắp nước gừng nóng và dán cao khoai sọ.
Tim Yếu: Phương 7 vớimuối mè, uống ít nước. Bệnh nặng, trong 3 ngày liên tiếp, mỗi ngày dùng 1 quảtrứng gà sống mới đẻ có trống, thêm chút muối, nuốt trọng đừng nhai. Mỗi đêm trướckhi đi ngủ , ăn một muỗng rưỡi muối mè.
Trí Nhớ kém : Phương 6,ăn rau củ dương (carotte, bí đỏ, cresson, bắp cải, rau má, củ sen, rong biên,lá cải xanh), uống trà gạo lứt, trà ba năm.
Tâm Thần
Cuồng Loạn: (hystérie)Tâm thần và thể xác bị rối loạn, không hòa nhịp. Phương 7 với rau củ dương, tràgạo lứt, trà củ sen, sữa thảo mộc (nếp lứt, kê, ý dĩ, hạt sen, mè tất cả đãi rửađể ráo rang vàng trộn chung xay mịn) để bổ dưỡng
Hoang Tưởng (paranoia),tưởng tượng như đang có ai theo dõi để hại mình, phương số 7
Phân Liệt(schizophrénie) tưởng hồn mình đang ở ngoài thể xác. Chữa như hysteria.
Ung Thư, Phương 7, rongbiển, tương hành tỏi, uống trà gạo lứt trà ba năm. Ngày 3 lần đắp nước gừngnóng rồi sau đó dán cao khoa sọ lên khối u ở bên trong, Nấu cháo “hắc mạch sarrazine”(1 chén hắc mạch, 1 muỗng dầu mè, 1 muỗng café muối, 2 chén nước nấu thành cháo)ăn với muối mè tương đậu nành, uống ít nước.Lở loét thì xức dầu mè tốt , dầu cámhoạc bột dentie (cuống cà đem nén muối 3 năm, phơi khô đốt thành than, xay bột).Trịung thư và viêm bàng quang, ung thư lưỡi miệng, dùng rau củ dương, tránh ăn đồchiên nướng.
Ung Thư Bao Tử: Phương7 với muối mè, uống ít nước, ngày 2 lần uống nửa muỗng cafe dentie. Đắp nước gừngnóng dán cao khoa sọ.
Ung thư Cuống Họng:Cháo gạo lứt rang (hay kem gạo lứt rang) với muối mè. Nếu nuốt được thì dùngphương 7 với muối mè, nhai kỹ, uống trà già ba năm.
Ung Thư Phổi: Phương 7,rong biển, tương hành tỏi, uống trà gạo lứt trà củ sen, áp nước gừng ở ngực(nam) lưng trên (nữ).
Ung Thư Gan, Tụy Tạng:Phương 7, rong biển, tương hành tỏi, uống trà gạo lứt trà ba năm.
Nhịn ăn 3 ngày, rồi ănkem gạo lứt (rang vàng gạo lứt rồi tán bột, chiên bột với dầu mè, thêm nước sôi)hay bột gạo lứt với muối mè, đừng ăn mặn quá, uống trà gạo lứt. Sau đó làphương 7, rau lá xanh (cresson, rau má, cải xanh, củ cải).Đau nhiều thì đắp nướcgừng vài phút rồi dán cao khoai sọ. Sốt cao thì đắp đậu hũ. Nôn mửa thì nuốt tímuối mè, nước luộc rong biển hay nước đất sét (argile, cho 1 thìa cafe đất sétmua ở pharmacie vào nửa ly nước không đun sôi, quấy bằng thìa gỗ).
Viêm Xoang Mũi(sinusis) : Dùng phương 7 với muối mè, ăn củ sen chiên với dầu mè, uống trà củsen. áp nước gừng nóng vào vùng xoang, có thể đắp cao khoa sọ. Xông mũi bằngkhói ngải cứu.
Vô Sinh P 7 trong 2tháng, rồi 6, ,5,4. Trước khi đi ngủ ngâm mông nước muối nóng 15ph.
Xơ Cứng Mảng (scléroseen plaques) Phương 7 hay 6, ăn hơi lạt, carotte, củ sen, bí đỏ, cresson, cải bẹxanh, đậu xanh; hấp luộc xào với ít tương. Không tắm nước nóng, tắm hơi.
Lấy khăn nhúng nước gừngnóng, chà xát khắp người cho da đỏ, rồi xối nước đó lên.
Xuất Tinh Sớm Phương 7nhưng cử mè. Nhai thật nhỏ. Cây Trinh nữ (cây mắc cở) cùng với tim sen nấu uốngthay trà.
Giải Đáp Thắc Mắc
1-Phương pháp Ohsawa chỉdùng thực phẩm chứ không dùng thuốc thì làm sao mà khỏi bệnh được ?
Cơ thể con người cũngnhư của loài vật do Tạo Hóa sinh ra, vô cùng tinh vi, hoàn hảo và vi diệu. Để bảovệ cơ thể khỏi bị hư hại, bệnh tật, Tạo Hóa đã ban cho cơ thể khả năng tự chữa trịlấy bệnh, rất nhiều bệnh, với điều kiện là phải được cung cấp phương tiện tốithiểu để cơ thể tự chữa trị lấy. Trong số thực phẩm hiện hữu, nhiều vô kể,Ohsawa nhận thấy chỉ có” gạo lứt và muối mè” thêm trà gạo lứt rang, trà ba nămlà đủ điều kiện mà cơ thể cần, những thứ khác chỉ là để bổ túc thêm mà thôi.Nhu cầu sở dĩ ít ỏi, ít ra là trong thời gian bị bệnh, là muốn tránh cho cơ thểphải làm việc nhiều, những việc cơ thể thấy chưa cần thiết, để cơ thể chỉ tậptrung vào việc sửa chữa những hư hao của cơ thể, vì đó mới công việc chính.
Nhiều không phải là tốt.Nói nhiều thì dễ sinh mất lòng, có khi mang họa; ăn nhiều thì dễ mang độc tốvào người, tạo thêm nhiều công việc nặng nhọc cho bộ máy tiêu hóa, bài tiết vàcác cơ quan khác, làm mệt cơ thể, cơ thể dễ bị “chia trí” không dành hết “tâmtrí và sức lực” cho việc tu bổ. Thuốc hiện nay là hóa chất tuy có tính năng điềuchỉnh được trục trặc lúc đầu, nhưng bản chất không phải do Tạo Hóa sinh ra (tếbào), nên sẽ bị cơ thể bất dung nạp mà sinh điều bất lợi (phản ứng phụ), sớm trởthành gánh nặng cho cơ thể, làm cơ thể tốn nhiều thì giờ và công sức để loại trừ.Nếu cơ thể không loại trừ được chúng, mà chúng vẫn cứ “ở lỳ” (tích tụ) trong cơthể thì hậu quả sẽ ra sao? Gạo lứt muối mè thì khác, nó cung cấp nguyên liệu màcơ thể cần để hoạt động, cung cấp thực phẩm để bồi bổ cơ thể, cho nên cơ thể OK ngay, quan trọng là không hề có phản ứngphụ. Cho nên không dùng thuốc mà còn hơn là dùng thuốc, và cơ thể sẽ mau khỏi bệnh.
2-Đàn bà con gái taychân lông lá xồm xoàm làm sao cho hết ?
Vì ăn quá nhiều đồ ănhuyết nhục (dương) nên cơ thể thành quá dương sinh nhiều lông lá.
Dùng phương 7 vài batháng để âm dương được quân bình, thì tay chân sẽ sạch lông, sẽ trả về cho cơthể sự duyên dáng dịu dàng và xinh đẹp.
3- Muốn biến đổi thainhi gái thành thai nhi trai thì làm sao ?
Người đàn bà lúc cóthai sắp được 2 tháng đi tìm mua một lượng Hùng Hoàng (As2 S3) (dương) (ở tiệmthuốc Bắc) bỏ vào một cái túi lụa đỏ (dương) đeo luôn trong mình để dương hóacái thai, thai nhi sẽ hoá thành trai.
4-Dùng Nguyên lý ÂmDương để chữa trị chứng hiếm muộn
Có nhiều phương cách trịhiếm muộn, nhưng đây là trường hợp đặc biệt. Một cặp vợ chồng, cả hai đều khỏemạnh, “tinh binh” của chồng đều đầy đủ và rất tốt, yếu tố rhésus thuận lợi, thếmà người vợ cứ bị hư thai hoài. Bác sĩ Morishita sau khi hiểu được Dịch lý âmdương ghi trong sách của Ohsawa, ông nẩy ra ý kiến là cái phôi thai bị kháng thể(anticorps) trong huyết quản của người mẹ chống đối kháng thể người con, vìchúng cùng Âm hoặc cùng Dương nên ghét nhau và xô đuổi nhau. Nay muốn hóa giảisự chống đối thì phải có vật thế thân (như kiểu Lê Lai cứu chúa) để hướng dẫn sựchống đối vào một mục tiêu khác trầm trọng hơn.
Khi người mẹ có thai được2 tháng, ông lấy một mảnh da của người chồng ghép vào cho người vợ. Độ 2 tuầnsau thì miếng da bị tróc và bị kháng thể trong châu thân người vợ chống đối kịchliệt. Đến tháng năm rồi tháng tám, ông ta cũng ghép như thế, các miếng da vẫn bịtróc sau 2 tuần. Thế là thai nhi được bình yên và đứa bé chào đời hoàn toàn khỏemạnh. Sở dĩ thai nhi được bình yên vi kháng thể người mẹ đã tập trung toàn lựcquay mũi dùi để lo chống đối kịch liệt miếng da ghép của người chồng là một vậtchỉ riêng của người chồng mà nó chống đối thù ghét nhiều hơn cái thai đã có mộtnửa phần là phần máu huyết của người mẹ.
5-Dùng Nguyên lý ÂmDương Để Tăng Khả Năng Chống Bệnh Của Cơ Thể
1-Ngâm Chân Nước Nóng
Trong thủy liệu pháp củaTây phương, người ta ngâm chân nước nóng chỉ là để đưa máu xuống chân làm hạnhiệt. Còn theo Nguyên lý Âm Dương: đầu (âm) phải mát (âm), chân (dương) phảinóng ( dương), thì âm dương trên dưới mới là đúng vị thế, trong cùng một cơ thểmới là quân bình, bằng ngược lại sẽ bệnh. Một khi đã mất quân bình rồi thì taphải lập tức tái lập vị thế quân bình âm dương bằng phương pháp sau, tuy giản dịnhưng có thể trị đượcnhiều bệnh như nhức đầu, nóng lạnh, mất ngủ, hạ nhiệt, honhất là cảm nhiễm phong hàn, cảm cúm.
Lấy 2 cái chậu, đổ nướclạnh gần đầy thùng A, thùng B chỉ đổ phân nửa. Nấu nước sôi cho thêm vào nắm muốiđổ vào thùng B cho nước nóng lên chừng 40 độ C. Ngồi chỗ kín gió, nhúng 2 chânvào nước ấm, nếu nước nguội thì châm thêm nước sôi. Khoảng 20 phút sau (10 phútnếu là trẻ con), nhúng cả 2 chân vào thùng A (nước lạnh) trong 1 phút, để giữnhiệt (âm hút dương) rồi lấy 2 chân ra lau thật khô rồi xát mạnh vào lòng bànchân cho ấm.
Trùm mền cho ngườinóng. Khi ra mồ hôi thì lấy khăn lau khô, thay quần áo.
Ngày có thể ngâm chân 2lần, tốt nhất là trước khi đi ngủ.
2-Dậm Chân Tại Chỗ
Dựa trên nguyên lý âmdương: đầu (âm) cần mát (âm), chân (dương) cần nóng (dương). Ở đây ta dùng mộtvật tác động đến hai bàn chân để tạo sức nóng cho chúng, đưa chúng đến tình trạngnóng (dương), bằng sự ma sát liên tục. Phương pháp nầy mang lại nhiều lợi ích chonhững người ở thành thị sống xa thiên nhiên, hằng ngày chỉ đi giày đi dép, đixe cộ, ít có dịp đi chân không.
Cưa một thanh gỗ dài 35cm, mỗi đầu thanh gỗ có tiết diện hình vuông, mỗi cạnh là 3,5 cm.
Một mặt trên thanh gỗ,bào cong hình vòng cung theo vòm bàn chân. Đặt thanh gỗ trên nền nhà cạnh bànhoặc tủ, mặt bào cong hướng lên trên. Đứng thẳng lưng và đầu, hai bàn tay vịnhbàn, đặt lòng bàn chân lên mặt bào cong của thanh gỗ, dậm chân tại chỗ 20 phút,thỉnh thoảng dậm từ gót chân ra đến các ngón chân và ngược lại. Ngày 2 lần, buổisáng mới thức dậy và buổi tối trước khi đi ngủ. Phương pháp nầy trị được nhiềubệnh : đau tim, mất ngủ, nhức đầu tê mỏi, suy nhược.
3-Tiếp Cận Ion-Âm
Trên mặt đất có một lớpIon âm, khi đi vào cơ thể sẽ kích thích hệ thần kinh đối giao cảm, có tác dụnglà làm thay đổi mực độ acid-kiềm của máu , làm gia tăng hoạt tính của tế bàolành mạnh, làm sung mãn cho các tế bào. Ion âm được sinh ra rất nhiều gần bênthác nước thiên nhiên. Người đang thời kỳ dưỡng bệnh nên đến gần tháng nước nghỉmát, bệnh sẽ rất mau lành. Những người sống ở thành thị, chân luôn đi giày dép,hai bàn chân ít có dịp tiếp xúc với mặt đất, với cỏ cây sỏi đá nên không đượchưởng khí lực nầy. Chân (dương) không thể hút Ion Âm (âm) được, cơ thể không đượchưởng sinh khí của đất nên thường hay bị mệt mỏi chán chường trầm uất hay nónggiận. Vậy ta hãy dùng phương pháp sau đây để đưa nguồn sinh lực thiên nhiên vôtận nầy vào nhà, thậm chí đưa lên lầu cao hoặc trên nền gỗ.
Nối 1 đầu dây đồng (dâytrần đã bỏ vỏ cách ly) vào phần dưới của ống dẫn nước, đầu kia nối với một tấmkim loại inox, rộng bằng 2 bàn chân, (hay với 2 cái thìa lớn bằng inox). Hàng ngàydùng chân trần đạp lên tấm kim loại nầy (hay 2 thìa Inox), cho ion âm ở đấttheo ống dẫn nước đi qua gang bàn chân, rồi chan hòa vào cơ thể. Phương pháp nầylàm tăng sức đề kháng cơ thể trị đau đầu, mất ngủ, hay mệt mỏi, bệnh tim mạch.
Biên Soạn Nguyễn San Hà(15/3/2012)
Cách sống và cách ăn uống để ngừa bệnh
Các thầy thuốc đông y cổ xưa chữa bệnh rất đơn giản không phức tạp như ngày nay, bệnh nhân chẳng cần phải lo lắng gì cả. Cổ nhân đã xác định người khoẻ mạnh và người bệnh tật qua 2 câu thơ :
Ăn được, ngủ được là tiên
Không ăn, không ngủ, mất tiền thêm lo.
Cho nên khi mình có bệnh, thầy thuốc chỉ hỏi : có ăn được không, có ngủ được không, có đại tiện được không, tiểu tiện được không?
Không ăn được thầy hốt thuốc cho ăn được, không ngủ được thầy hốt thuốc cho ngủ được, không đại tiểu tiện được thầy hốt thuốc cho thông đại tiểu tiện, có chỗ nào đau thầy hốt thuốc cho giảm đau… uống vài thang mình lại cảm thấy khoẻ ngay ,như vậy có gì mà sợ.
Thời nay không phải như vậy, thầy thuốc gọi ra tên bệnh ,tên vi trùng, virus qua kết quả xét nghiệm và và hù doạ mình là bệnh này chỉ có thể sống được vài tháng, vài năm là phải chết, giống như mình xem bói thầy bói nói ngày đó giờ đó mình gặp tai nạn… chính những câu nói đó là mầm bệnh , một loại siêu virus tâm lý không nhìn thấy được qua xét nghiệm , nhưng nó có tác hại ghê gớm và người ta sẽ bị ám ảnh lo sợ và chết trước thời hạn ,chính con người bị bệnh do mắt thấy tai nghe hơn là lây nhiễm trực tiếp. Thí dụ mình cho một người ăn xin mắt mù tai điếc mũi câm ăn một miếng bánh mì nhặt từ bãi rác dơ bẩn , họăn ngấu nghiến qua cơn đói họ khen ngon.vì mắt không thấy bẩn sạch, tai không nghe người khác nói bẩn sạch, mũi không ngửi được mùi thơm thối, nhưng chính mình trông thấy dơ bẩn, nhiều vi trùng ruồi nhặng mình sẽ bị nôn oẹ ,ói mửa , nỗi khiếp sợ nó ám ảnh mình sẽ làm cho mình bị bệnh , còn người ăn vẫn ăn ngon ngủ khoẻ mà không bệnh không chết, trong khi họ đói khổ kiếm ăn khó khăn, họ cầu chết cho khỏi khổ mà không được.
Tôi muốn nói đến yếu tố đầu tiên của đông y gây ra bệnh tật chính là tinh thần.là một trong 3 yếu tố chính là Tinh-Khí-Thần để thầy thuốc đông y khám bệnh và chữa bệnh.
- Tinh là những thức ăn uống và thuốc men đưa vào cơ thể phải thanh khiết không có chất độc,
- Khí là phải biết cách hít thở tập luyện để giúp thức ăn chuyển hoá thành máu nuôi cơ thể và loại bỏ độc tố cặn bã ra ngoài,
Ăn được, ngủ được là tiên
Không ăn, không ngủ, mất tiền thêm lo.
Cho nên khi mình có bệnh, thầy thuốc chỉ hỏi : có ăn được không, có ngủ được không, có đại tiện được không, tiểu tiện được không?
Không ăn được thầy hốt thuốc cho ăn được, không ngủ được thầy hốt thuốc cho ngủ được, không đại tiểu tiện được thầy hốt thuốc cho thông đại tiểu tiện, có chỗ nào đau thầy hốt thuốc cho giảm đau… uống vài thang mình lại cảm thấy khoẻ ngay ,như vậy có gì mà sợ.
Thời nay không phải như vậy, thầy thuốc gọi ra tên bệnh ,tên vi trùng, virus qua kết quả xét nghiệm và và hù doạ mình là bệnh này chỉ có thể sống được vài tháng, vài năm là phải chết, giống như mình xem bói thầy bói nói ngày đó giờ đó mình gặp tai nạn… chính những câu nói đó là mầm bệnh , một loại siêu virus tâm lý không nhìn thấy được qua xét nghiệm , nhưng nó có tác hại ghê gớm và người ta sẽ bị ám ảnh lo sợ và chết trước thời hạn ,chính con người bị bệnh do mắt thấy tai nghe hơn là lây nhiễm trực tiếp. Thí dụ mình cho một người ăn xin mắt mù tai điếc mũi câm ăn một miếng bánh mì nhặt từ bãi rác dơ bẩn , họăn ngấu nghiến qua cơn đói họ khen ngon.vì mắt không thấy bẩn sạch, tai không nghe người khác nói bẩn sạch, mũi không ngửi được mùi thơm thối, nhưng chính mình trông thấy dơ bẩn, nhiều vi trùng ruồi nhặng mình sẽ bị nôn oẹ ,ói mửa , nỗi khiếp sợ nó ám ảnh mình sẽ làm cho mình bị bệnh , còn người ăn vẫn ăn ngon ngủ khoẻ mà không bệnh không chết, trong khi họ đói khổ kiếm ăn khó khăn, họ cầu chết cho khỏi khổ mà không được.
Tôi muốn nói đến yếu tố đầu tiên của đông y gây ra bệnh tật chính là tinh thần.là một trong 3 yếu tố chính là Tinh-Khí-Thần để thầy thuốc đông y khám bệnh và chữa bệnh.
- Tinh là những thức ăn uống và thuốc men đưa vào cơ thể phải thanh khiết không có chất độc,
- Khí là phải biết cách hít thở tập luyện để giúp thức ăn chuyển hoá thành máu nuôi cơ thể và loại bỏ độc tố cặn bã ra ngoài,
- Thần là vô uý không sợ bệnh, không sợ chết. Sống với tinh thần cởi mở, lạc quan, yêu đời, giúp người.
Đối với Đạo Phật, bệnh nặng đến là ác nghiệp đến hành hạ mình, nhưng biết sống vô uý (không lo sợ) thì bệnh cũng chẳng hại đến mình ,nếu tin vào tử vi thì sống chết đều có số mạng, nhưng tu nhân tích đức có thể cải số được khỏi bệnh người đời gọi là may mắn gặp thầy gặp thuốc. Thật ra là nhân duyên chứ không phải tự nhiên mà được may mắn như thế.
Theo tử vi tướng số và chỉ tay, tôi sẽ chết lúc 41 tuổi , tử vi nói theo những điều kiện do các sao hợp thành , nhưng còn đức năng thắng số là những yếu tố cho mình thay đổi số mạng, biết tử vi xấu thì phải làm những điều tốt để cải số, cho nên ngày giờ xảy ra năm 41 tuổi là đúng bị xe hơi đụng kéo tôi một khoảng 10 mét, tôi dùng hai bàn tay chống xuống mặt đường nên bị chà xát mất các đường chỉ tay , sau đó đường chỉ tay thay đổi mọc dài hơn . Tiếp tục làm điều tốt để cải nghiệp ,một người bạn xem tướng cho biết tôi sẽ chết năm 63 tuổi , cũng năm đó tôi bị xe đụng đâm thẳng vào bụng rồi bỏ chạy sống chết mặc bây, (hit and run) ,vỡ tan cái cell phone mà tôi không gẫy xương hông xương sườn , có một bàn tay vô hình nâng tôi đứng sang bên cạnh cho xe đó vượt qua thay vì tôi té xuống sẽ bị cán ngang người tôi thành thịt vụn . Hiện nay tôi vẫn tiếp tục cải nghiệp cho qua nạn 75 tuổi. Tôi vẫn ăn ngon, ngủ khỏe ,tôi có một vết sẹo xơ phổi do tập võ, khi khám sức khỏe đi Canada 1993 ,không chứng minh được vết sẹo nên phải uống thuốc sáu tháng , vết sẹo không lành sau khi uống thuốc ,tây y nghi là ung thư, tôi cũng bỏ qua chẳng lo, sống chết có số do nghiệp lành dữ của mình tạo thành, tôi đang chữa bệnh cho tôi bằng phương pháp cải nghiệp dữ thành nghiệp lành, nhiều người tôi quen biết chưa đi được Canada cũng đã chết oan khi chuyển qua chữa vết sẹo lao cũ bằng thuốc trị ung thư .
Cho nên giờ này tôi vẫn áp dụng câu đơn giản : Ăn được ngủ được là tiên . Đó là phương pháp để tránh xa bệnh tật .
Chỉ khi nào qúy vị có bệnh cần hỏi phương pháp cụ thể tôi sẵn sàng giải đáp .
Để ngừa bệnh cao áp, tiểu đường, mất ngủ, mắt kém, mệt mỏi, tôi thường mua Địa cốt bì nhờ tiệm thuốc xay thành bột, đóng gói thành từng gói nhỏ như gói trà túi lọc.
Bỏ 1/3 ly Câu kỷ tử khô , rửa 2-3 lần cho sạch và cho bớt ngọt + 1 gói trà túi lọc Địa cốt bì , rồi đổ đầy ly nước sôi ngâm 10 phút, uống nước ăn cái mỗi ngày , vì thế tôi mới có thể làm việc mỗi ngày 16 tiếng, ngủ 6 tiếng mà không thấy mệt mỏi bệnh tật gì ..
Chúc qúy vị luôn vui khỏe, yêu đời, ăn ngon ngủ khỏe không bệnh tật.
Thầy thuốc Đỗ Đức Ngọc
Đối với Đạo Phật, bệnh nặng đến là ác nghiệp đến hành hạ mình, nhưng biết sống vô uý (không lo sợ) thì bệnh cũng chẳng hại đến mình ,nếu tin vào tử vi thì sống chết đều có số mạng, nhưng tu nhân tích đức có thể cải số được khỏi bệnh người đời gọi là may mắn gặp thầy gặp thuốc. Thật ra là nhân duyên chứ không phải tự nhiên mà được may mắn như thế.
Theo tử vi tướng số và chỉ tay, tôi sẽ chết lúc 41 tuổi , tử vi nói theo những điều kiện do các sao hợp thành , nhưng còn đức năng thắng số là những yếu tố cho mình thay đổi số mạng, biết tử vi xấu thì phải làm những điều tốt để cải số, cho nên ngày giờ xảy ra năm 41 tuổi là đúng bị xe hơi đụng kéo tôi một khoảng 10 mét, tôi dùng hai bàn tay chống xuống mặt đường nên bị chà xát mất các đường chỉ tay , sau đó đường chỉ tay thay đổi mọc dài hơn . Tiếp tục làm điều tốt để cải nghiệp ,một người bạn xem tướng cho biết tôi sẽ chết năm 63 tuổi , cũng năm đó tôi bị xe đụng đâm thẳng vào bụng rồi bỏ chạy sống chết mặc bây, (hit and run) ,vỡ tan cái cell phone mà tôi không gẫy xương hông xương sườn , có một bàn tay vô hình nâng tôi đứng sang bên cạnh cho xe đó vượt qua thay vì tôi té xuống sẽ bị cán ngang người tôi thành thịt vụn . Hiện nay tôi vẫn tiếp tục cải nghiệp cho qua nạn 75 tuổi. Tôi vẫn ăn ngon, ngủ khỏe ,tôi có một vết sẹo xơ phổi do tập võ, khi khám sức khỏe đi Canada 1993 ,không chứng minh được vết sẹo nên phải uống thuốc sáu tháng , vết sẹo không lành sau khi uống thuốc ,tây y nghi là ung thư, tôi cũng bỏ qua chẳng lo, sống chết có số do nghiệp lành dữ của mình tạo thành, tôi đang chữa bệnh cho tôi bằng phương pháp cải nghiệp dữ thành nghiệp lành, nhiều người tôi quen biết chưa đi được Canada cũng đã chết oan khi chuyển qua chữa vết sẹo lao cũ bằng thuốc trị ung thư .
Cho nên giờ này tôi vẫn áp dụng câu đơn giản : Ăn được ngủ được là tiên . Đó là phương pháp để tránh xa bệnh tật .
Chỉ khi nào qúy vị có bệnh cần hỏi phương pháp cụ thể tôi sẵn sàng giải đáp .
Để ngừa bệnh cao áp, tiểu đường, mất ngủ, mắt kém, mệt mỏi, tôi thường mua Địa cốt bì nhờ tiệm thuốc xay thành bột, đóng gói thành từng gói nhỏ như gói trà túi lọc.
Bỏ 1/3 ly Câu kỷ tử khô , rửa 2-3 lần cho sạch và cho bớt ngọt + 1 gói trà túi lọc Địa cốt bì , rồi đổ đầy ly nước sôi ngâm 10 phút, uống nước ăn cái mỗi ngày , vì thế tôi mới có thể làm việc mỗi ngày 16 tiếng, ngủ 6 tiếng mà không thấy mệt mỏi bệnh tật gì ..
Chúc qúy vị luôn vui khỏe, yêu đời, ăn ngon ngủ khỏe không bệnh tật.
Thầy thuốc Đỗ Đức Ngọc
Thứ Tư, 13 tháng 6, 2012
Những điều chưa biết từ quả dừa
Dừa là loại cây ăn quả được trồng rất nhiều từ Nam Trung bộ trở vào miền cực Nam nước ta. Quả dừa có nhiều tác dụng trong cuộc sống. Nó còn là loại quả dùng làm thuốc chữa bệnh rất có giá trị...
Nhiều công dụng
Theo phân tích của các nhà khoa học, cùi dừa và nước dừa có các thành phần dinh dưỡng như glucose, fructose, saccharose, chất béo, chất protein, vitamin nhóm B, vitamin C và các chất potassium (K), magnesium (Mg)... Hàm lượng potassium và magnesium trong nước dừa rất phong phú, hợp thành của nó tương tự như dịch trong tế bào, có thể sử dụng làm nước uống bổ dưỡng rất ngon miệng, chữa được chứng mất nước và làm cân bằng chất điện giải (electrolysis). Nước dừa được dùng làm dịch truyền trong nhiều cuộc chiến tranh.
Các sách đông y có ghi: Dừa “chủ yếu là tiêu khát, chữa thổ huyết, phù thũng, trừ phong nhiệt” (phong nhiệt là phong tà kết hợp với nhiệt tà gây nên bệnh, thường xuất hiện các triệu chứng như phát sốt, nhức đầu, gai rét, sợ gió, ra mồ hôi, tắc mũi, ho, họng rát đau, khát nước, lưỡi đỏ, rêu lưỡi trắng, mỏng, hơi vàng, mạch phù sác). Còn sách Trung Quốc dược thực đồ giám có ghi: “Dừa có tác dụng “tư bổ, thanh thử, giải khát” và tiêu cam (bệnh trẻ con bụng ỏng da vàng), tẩy giun sán, kết hợp với mật để chữa chứng gầy yếu xanh xao ở trẻ nhỏ”. Theo nghiên cứu của đông y, dừa vị ngọt, tính bình, sinh tân, lợi niệu, sát trùng. Trái dừa có thể dùng chữa trị các chứng bệnh viêm nhiệt, háo khát, tân dịch, bị tổn thương, miệng nôn trôn tháo,
phù nề, tiểu tiện ít, bệnh về ký sinh trùng đường ruột, bị lở loét, viêm da... Ăn cùi dừa, uống nước dừa có thể làm cho mặt mày rạng rỡ, da dẻ mịn màng, người đẹp thêm ra. Có thể nói, quả dừa từ ruột đến vỏ đều là những vị thuốc Đông y quý giá.
Để chữa khản tiếng, bạn có thể lấy nước dừa non 1 cốc, rau má 8 g; giã rau má, vắt lấy nước cốt pha với nước dừa uống.
Nước dừa ngọt ấm, không độc, giúp tăng cường khí lực, tươi nhuận nhan sắc, trị cảm nắng, thủy thũng, thổ huyết, máu cam.
Trái dừa được xem là loại quả “kỳ diệu”, có gần như toàn bộ chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể. Protein dừa gồm các acid amin c ó chất lượng cao, nhiều vitamin trong nhóm B và các vitamin khác. Nước dừa cũng giàu chất khoáng; hàm lượng kali và magiê tương tự dịch tế bào của người nên thường được dùng cho bệnh nhân tiêu chảy. Tổ chức Y tế Thế giới khuyến khích cho trẻ em tiêu chảy uống nước dừa pha muối.
Nước dừa làm đẹp da, đen mượt tóc. Nhân dừa non (mềm như thạch) chứa nhiều enzym tốt cho tiêu hóa, dùng chữa các bệnh viêm loét dạ dày, viêm gan, đái tháo đường, lỵ, trĩ, viêm đại tràng.
Dừa được xem là món ăn trường xuân của người Philippines. Họ chế biến thứ đồ uống gọi là Nata dừa, gồm có nước dừa, đường, giấm, và “nước cái” (chứa vi khuẩn giúp lên men). Cựu tổng thống Philippin Fidel Romos cho rằng, nhờ ăn hằng ngày món này, ông thấy mình trẻ lại như ở tuổi 20. Nata dừa đã trở thành món tráng miệng cao cấp ở Nhật và được xem là có tác dụng ngừa ung thư.
Cách sử dụng
1. Nước dừa uống mỗi ngày 3 lần; thích dụng với người bị chứng viêm nhiệt, háo khát, tổn thương tân dịch (các chất dịch dinh dưỡng trong cơ thể), mồ hôi ra nhiều, bị phù thũng, nước tiểu ít và đỏ.
2. Nước dừa 1 ly, cho thêm ít đường, mấy hạt muối ăn, khuấy đều rồi uống, có tác dụng ích khí sinh tân; thích dụng với những người vừa bị xuất huyết nhiều hoặc miệng nôn trôn tháo, suy yếu, ẻo lả, mệt mỏi rã rời.
3. Dừa 1 quả, vừa uống nước, vừa ăn cùi. Mỗi ngày ăn, uống vào lúc sáng sớm khi bụng còn đói, sau ba giờ lại ăn tiếp, sẽ có tác dụng sát trùng đường ruột; thích dụng với những người bị bệnh sán lát gừng, sán dây.
4. Cùi dừa nửa đến 1 quả, hàng ngày ăn vào buổi sáng và tối, có tác dụng nhuận tràng; thích dụng với những người bị bệnh táo bón, bí đại tiện.
5. Cùi dừa nửa quả nạo thành miếng nhỏ, cho vào nấu cháo với ít gạo nếp, ngày ăn 2 lần, có tác dụng kiện tỳ khai vị; thích dụng với những người bị ốm lâu ngày mới khỏi, cơ thể còn suy nhược, ăn uống kém.
6. Dầu dừa (là loại dầu được ép từ cùi dừa): dùng bôi ngoài da, có thể chữa trị được các bệnh ghẻ lở, bệnh nấm, bệnh nẻ...
7. 30g vỏ quả dừa, sắc lấy nước uống, ngày 2 lần, có tác dụng hoạt huyết hết đau; thích dụng với những người bị trúng phong, bị đau tim, đau khớp.
8. Vỏ quả dừa đem đập dập vỏ, sắc lấy nước dùng để rửa ngoài vết thương, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, trừ thấp sát trùng; thích dụng với người bị bệnh mẩn ngứa, nấm ngoài da.
9. Kiết lỵ cấp tính: Rau má 50 g, nước dừa tươi một quả. Rửa sạch rau má, giã nhỏ, vắt lấy nước, pha với nước dừa uống. Mỗi ngày một quả.
10. Nôn mửa: Nước dừa 2 chén, rượu nho 1 chén, nước gừng 10 giọt, trộn đều uống.
11. Lợi tiểu giải độc: Nước dừa non có tác dụng lợi tiểu trong các bệnh tim mạch, thận.
12. Viêm thận phù nề: Nước dừa, nước rễ cỏ tranh, nước rễ cỏ lau. Mỗi thứ 30 g, trộn đều uống.
13. Tẩy sán lá: Có tác dụng an toàn và hiệu lực hơn hạt cau. Không cần thuốc tẩy. Buổi sáng chưa ăn lấy 1/2 quả dừa, uống nước và ăn cho hết cùi dừa. Sau 3 giờ, ăn uống bình thường (thức ăn lỏng).
14.Canh dừa khử độc rượu, bôi trơn khớp: Những người thường xuyên uống bia rượu hay cảm thấy đau nhức ở các khớp, hoạt động khó khăn hoặc khi hoạt động, các khớp có tiếng kêu. Để chữa khỏi, nên uống canh dừa. Lấy một quả dừa cắt ngang phần trên làm nắp: 20 g đậu đen vo sạch cho vào trong quả dừa rồi đậy nắp lại, đặt lên 1 cái đĩa. Đặt cả dừa và đĩa vào nồi, chưng trong 4 giờ. Sau đó, có thể cho ít muối tùy ý để uống canh dừa. Mỗi tháng chỉ cần uống 1-2 lần thì chứng đau khớp sẽ hết, các khớp sẽ hoạt động mềm mại trở lại.
15. Nước dừa non trị chứng cam (bụng ỏng, đít teo, suy dinh dưỡng ở trẻ): Nước dừa dùng nấu xôi, luộc gà… làm tăng vị thơm ngon và bổ dưỡng, thích hợp cho người gầy yếu. Người khỏe mạnh buổi sáng uống nước 1 quả dừa xiêm cũng rất tốt.
Lưu ý: Nước dừa lấy ra khỏi quả sẽ bị mất khí vị, cho nên cứ để nguyên quả mà uống. Tốt nhất là nên uống ngay tại gốc vừa chặt, tránh thả dừa xuống đất.
Mới đi nắng về, đang đói mệt không nên uống nước dừa, nhất là người đang có bệnh vì dễ bị những tác dụng phụ như sốt, ớn lạnh… Trước khi thi đấu thể thao, không nên uống nước dừa. Bình thường, mỗi ngày chỉ nên uống một quả. Uống nhiều sẽ gây đầy bụng, nhất là khi có kèm cơm dừa nạo, đá lạnh và uống vào chiều tối.
Theo Hoa quả chữa bệnh - Trung Quốc
Nhiều công dụng
Theo phân tích của các nhà khoa học, cùi dừa và nước dừa có các thành phần dinh dưỡng như glucose, fructose, saccharose, chất béo, chất protein, vitamin nhóm B, vitamin C và các chất potassium (K), magnesium (Mg)... Hàm lượng potassium và magnesium trong nước dừa rất phong phú, hợp thành của nó tương tự như dịch trong tế bào, có thể sử dụng làm nước uống bổ dưỡng rất ngon miệng, chữa được chứng mất nước và làm cân bằng chất điện giải (electrolysis). Nước dừa được dùng làm dịch truyền trong nhiều cuộc chiến tranh.
Các sách đông y có ghi: Dừa “chủ yếu là tiêu khát, chữa thổ huyết, phù thũng, trừ phong nhiệt” (phong nhiệt là phong tà kết hợp với nhiệt tà gây nên bệnh, thường xuất hiện các triệu chứng như phát sốt, nhức đầu, gai rét, sợ gió, ra mồ hôi, tắc mũi, ho, họng rát đau, khát nước, lưỡi đỏ, rêu lưỡi trắng, mỏng, hơi vàng, mạch phù sác). Còn sách Trung Quốc dược thực đồ giám có ghi: “Dừa có tác dụng “tư bổ, thanh thử, giải khát” và tiêu cam (bệnh trẻ con bụng ỏng da vàng), tẩy giun sán, kết hợp với mật để chữa chứng gầy yếu xanh xao ở trẻ nhỏ”. Theo nghiên cứu của đông y, dừa vị ngọt, tính bình, sinh tân, lợi niệu, sát trùng. Trái dừa có thể dùng chữa trị các chứng bệnh viêm nhiệt, háo khát, tân dịch, bị tổn thương, miệng nôn trôn tháo,
phù nề, tiểu tiện ít, bệnh về ký sinh trùng đường ruột, bị lở loét, viêm da... Ăn cùi dừa, uống nước dừa có thể làm cho mặt mày rạng rỡ, da dẻ mịn màng, người đẹp thêm ra. Có thể nói, quả dừa từ ruột đến vỏ đều là những vị thuốc Đông y quý giá.
Để chữa khản tiếng, bạn có thể lấy nước dừa non 1 cốc, rau má 8 g; giã rau má, vắt lấy nước cốt pha với nước dừa uống.
Nước dừa ngọt ấm, không độc, giúp tăng cường khí lực, tươi nhuận nhan sắc, trị cảm nắng, thủy thũng, thổ huyết, máu cam.
Trái dừa được xem là loại quả “kỳ diệu”, có gần như toàn bộ chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể. Protein dừa gồm các acid amin c ó chất lượng cao, nhiều vitamin trong nhóm B và các vitamin khác. Nước dừa cũng giàu chất khoáng; hàm lượng kali và magiê tương tự dịch tế bào của người nên thường được dùng cho bệnh nhân tiêu chảy. Tổ chức Y tế Thế giới khuyến khích cho trẻ em tiêu chảy uống nước dừa pha muối.
Nước dừa làm đẹp da, đen mượt tóc. Nhân dừa non (mềm như thạch) chứa nhiều enzym tốt cho tiêu hóa, dùng chữa các bệnh viêm loét dạ dày, viêm gan, đái tháo đường, lỵ, trĩ, viêm đại tràng.
Dừa được xem là món ăn trường xuân của người Philippines. Họ chế biến thứ đồ uống gọi là Nata dừa, gồm có nước dừa, đường, giấm, và “nước cái” (chứa vi khuẩn giúp lên men). Cựu tổng thống Philippin Fidel Romos cho rằng, nhờ ăn hằng ngày món này, ông thấy mình trẻ lại như ở tuổi 20. Nata dừa đã trở thành món tráng miệng cao cấp ở Nhật và được xem là có tác dụng ngừa ung thư.
Cách sử dụng
1. Nước dừa uống mỗi ngày 3 lần; thích dụng với người bị chứng viêm nhiệt, háo khát, tổn thương tân dịch (các chất dịch dinh dưỡng trong cơ thể), mồ hôi ra nhiều, bị phù thũng, nước tiểu ít và đỏ.
2. Nước dừa 1 ly, cho thêm ít đường, mấy hạt muối ăn, khuấy đều rồi uống, có tác dụng ích khí sinh tân; thích dụng với những người vừa bị xuất huyết nhiều hoặc miệng nôn trôn tháo, suy yếu, ẻo lả, mệt mỏi rã rời.
3. Dừa 1 quả, vừa uống nước, vừa ăn cùi. Mỗi ngày ăn, uống vào lúc sáng sớm khi bụng còn đói, sau ba giờ lại ăn tiếp, sẽ có tác dụng sát trùng đường ruột; thích dụng với những người bị bệnh sán lát gừng, sán dây.
4. Cùi dừa nửa đến 1 quả, hàng ngày ăn vào buổi sáng và tối, có tác dụng nhuận tràng; thích dụng với những người bị bệnh táo bón, bí đại tiện.
5. Cùi dừa nửa quả nạo thành miếng nhỏ, cho vào nấu cháo với ít gạo nếp, ngày ăn 2 lần, có tác dụng kiện tỳ khai vị; thích dụng với những người bị ốm lâu ngày mới khỏi, cơ thể còn suy nhược, ăn uống kém.
6. Dầu dừa (là loại dầu được ép từ cùi dừa): dùng bôi ngoài da, có thể chữa trị được các bệnh ghẻ lở, bệnh nấm, bệnh nẻ...
7. 30g vỏ quả dừa, sắc lấy nước uống, ngày 2 lần, có tác dụng hoạt huyết hết đau; thích dụng với những người bị trúng phong, bị đau tim, đau khớp.
8. Vỏ quả dừa đem đập dập vỏ, sắc lấy nước dùng để rửa ngoài vết thương, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, trừ thấp sát trùng; thích dụng với người bị bệnh mẩn ngứa, nấm ngoài da.
9. Kiết lỵ cấp tính: Rau má 50 g, nước dừa tươi một quả. Rửa sạch rau má, giã nhỏ, vắt lấy nước, pha với nước dừa uống. Mỗi ngày một quả.
10. Nôn mửa: Nước dừa 2 chén, rượu nho 1 chén, nước gừng 10 giọt, trộn đều uống.
11. Lợi tiểu giải độc: Nước dừa non có tác dụng lợi tiểu trong các bệnh tim mạch, thận.
12. Viêm thận phù nề: Nước dừa, nước rễ cỏ tranh, nước rễ cỏ lau. Mỗi thứ 30 g, trộn đều uống.
13. Tẩy sán lá: Có tác dụng an toàn và hiệu lực hơn hạt cau. Không cần thuốc tẩy. Buổi sáng chưa ăn lấy 1/2 quả dừa, uống nước và ăn cho hết cùi dừa. Sau 3 giờ, ăn uống bình thường (thức ăn lỏng).
14.Canh dừa khử độc rượu, bôi trơn khớp: Những người thường xuyên uống bia rượu hay cảm thấy đau nhức ở các khớp, hoạt động khó khăn hoặc khi hoạt động, các khớp có tiếng kêu. Để chữa khỏi, nên uống canh dừa. Lấy một quả dừa cắt ngang phần trên làm nắp: 20 g đậu đen vo sạch cho vào trong quả dừa rồi đậy nắp lại, đặt lên 1 cái đĩa. Đặt cả dừa và đĩa vào nồi, chưng trong 4 giờ. Sau đó, có thể cho ít muối tùy ý để uống canh dừa. Mỗi tháng chỉ cần uống 1-2 lần thì chứng đau khớp sẽ hết, các khớp sẽ hoạt động mềm mại trở lại.
15. Nước dừa non trị chứng cam (bụng ỏng, đít teo, suy dinh dưỡng ở trẻ): Nước dừa dùng nấu xôi, luộc gà… làm tăng vị thơm ngon và bổ dưỡng, thích hợp cho người gầy yếu. Người khỏe mạnh buổi sáng uống nước 1 quả dừa xiêm cũng rất tốt.
Lưu ý: Nước dừa lấy ra khỏi quả sẽ bị mất khí vị, cho nên cứ để nguyên quả mà uống. Tốt nhất là nên uống ngay tại gốc vừa chặt, tránh thả dừa xuống đất.
Mới đi nắng về, đang đói mệt không nên uống nước dừa, nhất là người đang có bệnh vì dễ bị những tác dụng phụ như sốt, ớn lạnh… Trước khi thi đấu thể thao, không nên uống nước dừa. Bình thường, mỗi ngày chỉ nên uống một quả. Uống nhiều sẽ gây đầy bụng, nhất là khi có kèm cơm dừa nạo, đá lạnh và uống vào chiều tối.
Theo Hoa quả chữa bệnh - Trung Quốc
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)