Thứ Ba, 19 tháng 6, 2012

Phương Pháp OHSAWA

Giáo Sư Georges Ohzawa tên thật là Sakurazawa Nyoichi (1893-1966) thuở nhỏ rất yếu đuối, bị ung thưbao tử và lao phổi trầm trọng, do lây bệnh từ thân mẫu. Vào thời đó, mẹ ông bịbệnh lao phổi là một bệnh nan y nên bà phải từ trần lúc tuổi đời chỉ mới 30. Ít lâu sau, ông may mắn được một thiền sư đem về chùa chữa trị và truyền dạy về yhọc. Khỏi bệnh ông chuyên tâm nghiên cứu về y học cổ truyền. Năm 20 tuổi ông bắtđầu hành y, đã chữa trị thành công cho rất nhiều người. Để mở rộng thêm kiến thức,năm 30 tuổi ông sang Pháp du học về Tây Y và Sinh Vật Học ở Viện Pasteur. Về nướcphản đối chính phủ gây chiến tranh xâm lược, ông bị tuyên án tử hình, may sauđó nhờ quân đội Mỹ đổ bộ lên nước Nhật kịp thời, ông đã được phóng thích. Nhìnthấy những bệnh tật của con người ngày một gia tăng, trong đó có nhiều bệnh nany mà Tây y tỏ ra bất lực, ông cố công nghiên cứu Vô Song Nguyên lý và Dịch KinhĐông phương, lấy âm dương làm nền tảng, lấy khang kiện làm cứu cánh, ông cùngphu nhân quyết định rời xa quê hương, xuất dương du thuyết, phổ biến triết lý âm dương ở các nước Âu châu, truyền bá phương pháp chữa bệnh mới do ông khaisáng mang tên Macrobiotics tức Phương Pháp Trường Sinh Ohsawa, dùng ẩm thực để chữa lành, hầu hết các bệnh, từ thông thường đến nan y một cách dễ dàng và nhân bản.
1- Quân Bình Âm Dương
Âm và Dương là 2 vật hay 2 trạng thái đối nghịch nhau. Âm thì ly tâm là bành trướng, là lạnh, tối,nhẹ, mềm là bất động, ở bên trong mà dương thì hướng tâm là co rút là nóng,sáng, nặng, cứng là chuyển động, ở bên ngoài. Hai vật cùng tính (cùng âm haycùng dương) thì đẩy nhau. Hai vật khác tính (âm đi với dương) thì hút nhau, lựchút tỷ lệ với hiệu số của hai phân cực âm dương. Không có gì trung hòa, âm hoặcdương, phải có một bên lấn hơn. Với thời gian và không gian, âm sinh ra dươngvà dương sinh ra âm.
Trong cơ thể, đầu (trêncao) thuộc âm; chân (dưới thấp) thuộc dương. Thần kinh Trực giao cảm ly tâm lực( thuộc âm), có tính làm giãn ra chủ về sự giãn nở, bành trướng các tế bào và cáctạng phủ. Thần kinh đối giao cảm hướng tâm (thuộc dương) kiểm soát mọi sự corút. Về âm dương ẩm thực, vật nào nhiều nước hơn, nhiều Kalium hơn sẽ âm hơn. Vậtnào khô hơn hoặc nhiều Natrium hơn sẽ dương hơn. Thực vật âm hơn động vật, tứclà rau âm hơn thịt.
Không gì hoàn toàn âm hay hoàn toàn dương. Vật A có thể là dương đối với B nhưng lại là Âm đối với C,tức âm dương là tương đối. Carrot dương đối với khoai lang nhưng âm đối với khoaimài (hoài sơn).Muốn khỏe mạnh phải dùng thực phẩm sao cho có sự quân bình về âmd ương tức là âm dương phải cân bằng nhau. Dùng thường đồ ăn quá âm hệ trực giao cảm chiếm ưu thế, sẽ sinh bệnh âm; ngược lại đồ ăn dương quá thì hệ đối giao cảm sẽ chiếm ưu thắng sẽ sinh bệnh dương. Thí dụ ăn nhiều đồ ăn âm tính thì bao tử sẽ yếu, tim sẽ đập mạnh,
vì đồ ăn âm kích thích tim (dương) kiềm hãm bao (tử âm). Tiếc thay trên đời này, đồ ăn âm vừa ngon ngọtvừa hấp dẫn thì lại quá nhiều, trong khi đồ ăn dương thì vô cùng ít ỏi, thế nênphần lớn bệnh của loài người là do ăn nhiều đồ ăn âm mà sinh ra. Vậy muốn lập lại thế quân bình âm dương để được khỏe mạnh, ta chỉ việc giảm bớt đồ ăn âm và thế vào đó bằng đồ ăn dương. Trong số hàng ngàn thực phẩm, Ohsawa đã chọn được mộtthứ thực phẩm,vừa có đủ phần âm lại dư giả về dương, có khả năng dương hóa cơthể nhanh, lại nhu thuận dịu dàng với lục phủ ngũ tạng, đó chính là gạo lứt. Gạolứt vừa có chất bột (glucide), vừa có đạm (protide), còn béo (lipide) ông đãđưa mè vào cuộc vì mè cung cấp chất béo, lại chứa nhiều sinh tố và khoáng tố.Mè là âm mà là âm tốt, cho thêm muối là dương, thế là âm dương hòa hợp, đichung với gạo lứt sẽ thành lực lượng hùng hậu khá dương để tái lập thế quânbình âm
Nguyên lý Trị Bệnh dươngcho cơ thể đang bị âm lấn lướt. Bệnh gì cũng không ra ngoài âm dương, không suythì thịnh, lấy đồ ăn âm tính hay dương tính mà trị, sao cho lập lại được thếquân bình thì bệnh sẽ lui, chẳng cần đến thuốc Tây, hoặc ngồi sắc thuốc Bắc chomất công vô ích. Thực hành nguyên lý nầy, Ohsawa tiên sinh khuyên chúng ta nênlấy “Gạo Lứt Muối Mè” làm chuẩn để chữa trị hầu hết mọi thứ bệnh.
Tiên sinh khuyên chúngta nên lưu ý đến một kẻ thù nguy hiểm đó là đường (sugar, sucre) tiềm tàngtrong đồ ăn nước uống. Trong bậc thang âm dương, đường ở vị trí âm mà là cực âm.Mỗi năm, đường đưa con người về “miền cực lạc” nhiều hơn số người “ra đi” vìhai quả bom nguyên tử được thả xuống Nhật 1945. Thật vậy, đường là nguy cơ sinhbệnh tiểu đường, mập phì, huyết áp cao, làm suy giảm hệ thống miễn nhiễm, khiếncơ thể khó chống lại vi trùng và bệnh tật. Đường acid hóa dòng máu khiến chấtvôi bị hao mòn, gây xốp xương, răng hư, rối loạn thần kinh, làm yếu tim mạch,viêm loét dạ dày và ruột, cuối cùng là dẫn đến ung thư. Việc giới hạn dùng đườnglà vô cùng quan trọng. Tuy nhiên, người khỏe mạnh, cần nhiều năng lượng để hoạtđộng có thể dùng đường dưới dạng trái cây. Nếu thích đường thì nên chọn đườngthiên nhiên chưa lọc, thường có màu vàng, nâu hay đen, hoặc mật ong thiên nhiên,còn đường hóa học hoặc đường trắng tuyệt đối không nên dùng.
2-Hợp Với Thiên Nhiên
Sống phải hòa hợp vớithiên nhiên tức là hợp với sự sống. Con người, loài vật và cây cỏ là do tế bàosinh ra và hợp thành. Tế bào nào cũng có sanh có tử cho nên giữa chúng có điểm tươngđồng, mà có tương đồng thì có khả năng tương hợp, tương thuận và tương thànhđúng câu: “Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” (cùng tiếng thì đáp lạinhau, cùng tính thì tìm đến nhau).Trái lại những gì không do sự sống sinh rathì là vật chết, cho dù vật đó hữu dụng tạm thời, vẫn là vật chết. Đó là cáimáy hay người máy (robot), cho dù vật đó nhỏ bé đến mấy, có tổng hợp tài tình đếnmấy, một khi chúng vào cơ thể ta, chúng đóng vai trò như những robot, sẽ khônghòa hợp và chẳng bao lâu sẽ gây hại cho cơ thể. Đó chính là hóa chất, được chếthành thuốc gọi là hóa dược được tổng hợp tại các dược hãng. Với bản chất khôngdo sự sống sinh ra nên nó có ít nhiều độc tính, ta nên tránh dùng càng nhiềucàng tốt.
Tất cả những thực phẩmcó tiềm ẩn hóa chất cũng nên tránh. Đó là những chất bảo quản thực phẩm, nhữnggia phụ. Chúng được cho vào trong đồ ăn làm sẵn (đồ hộp bao gói đồ khô), chấtlàm tươi lâu, chất tạo mùi thơm, hương thơm, nước hoa, phẩm màu làm cho đẹp mắt,làm giòn, gia vị tổng hợp. Vào trong cơ thể, chúng sẽ bào mòn cơ thể chúng ta,làm ô nhiễm môi trường bên trong cơ thể; đường hóa học (saccharin, cyclamate..)sinh quái thai, ung thư;bột ngọt (mì chính, vị tinh, glutamate de sodium) gâynhức đầu, làm tổn thương não, hư mắt, gây hen suyễn, khiến trẻ con tăng trưởngkhông bình thường; các loại acid chế nước chấm làm loét dạ dày, rối loạn tiêuhóa; phẩm màu nhân tạo gây ngộ độc toàn thân, ung thư, nhiều hóa chất công nghiệpdùng trong đồ ăn như thuốc tẩy trắng, làm trong, làm tăng đạm chất giả tạo(melamine) vô cùng độc hại (gây ung thư thận, gan) được dùng lén lút trong lãnhvực chế biến thực phẩm. Ngoài các phụ chất (additifs) trên, ta cũng nên để ý đếnnguồn gốc thực phẩm, có kèm hóa chất để thúc đẩy rau trái mọc nhanh to lớn đẹpmắt khác thường hay không, thú vật có được nuôi bằng thực phẩm có pha trộn hóachất để cơ thể chúng nạc nhiều hơn mỡ, lớn nhanh như thổi hay không ?
Ngoài gạo lứt là chính,có thể thay thế bằng lúa mì lứt, hạt bo bo, kê, hắc mạch (sarrazine) dùng chungvới muối mè và một số rau củ dương tính (carotte, bí đỏ, cresson, choux..)
1-Gạo Lứt là hạt gạocòn nguyên cám và mầm, không bón phân hóa học, kô xịt thuốc trừ sâu, được nấuthành cơm, cháo. Dùng nguyên hạt là tốt nhất, nhưng để đỡ chán, gạo lứt có
Thực Hành thể xay bộtlàm bánh tráng, bánh mì hủ tíu, bánh bèo bánh nậm. Tùy mức độ dương hóa cơ thểnhiều hay ít, phương thức “gạo lứt muối mè” chia thành 7 cấp độ.
-Phương số 7 : gạo lứtmuối mè 100% dương nhất khắc nghiệt nhất nhưng hữu hiệu nhất.
-Phương số 6 : gạo lứtmuối mè: 90% + 10% rau củ, kém dương hơn so với phương 7.
-Phương số 5 : gạo lứtmuối mè 80% + 20% rau củ, kém dương so với 6
-Phương só 4 gạo lứt muốimè 70% + 30% rau củ, kém dương so với 5
-Phương số 3 : gạo lứtmuối mè 60% + 40% rau củ, kém dương so với 4
-Phương số 2: gạo lứtmuối mè 50% + 50 % rau củ, kém dương so với 3
-Phương số 1 : gạo lứtmuối mè 40% + 60 % rau củ, kém dương so với 2
Ngoài 7 phương trên còncó ngoại phương mang tên A, B, C cũng dùng gạo lứt muối mè, nhưng được phépdùng thêm rau đậu trái cây, thịt trứng cá (C thoải mái nhất) nhưng vẫn phải dùngtrong giới hạn. Khi dùng phương có số nhỏ, thí dụ số 4, mà thấy kết quả chậm,thì dùng phương cao hơn như là 5, 6 hay 7, kết quả sẽ nhanh hơn.Khắc khổ và cănbản nhất là phương số 7 được dùng nhiều nhất để chữa bệnh trong mười ngày hoặclâu hơn tùy bệnh nặng nhẹ, dùng chung vớí muối mè (8 phần mè 1 phần muối); cóthể dùng tương, bơ mè, đậu đỏ đen.
Khi khát, lấy gạo lứtrang hoặc trà già ba năm, củ sen, củ sắn dây (cát căn) nấu nước uống.
2-Rau Củ đúng mùa tại địaphương đều dùng được, tốt nhất là rau mọc hoang hoặc trồng tự nhiên (kô bónphân hóa học, kô thuốc trừ sâu). Có thể luộc hấp xào hầm, nấu canh, trộn gỏi, chiênbột, nén muối. Hè nóng có thể ăn rau sống. Các thứ âm thịnh như cà, cà chua,măng giá nấm dùng hạn chế, thỉnh thoảng có thể dùng thịt trứng.
3- Đậu Hạt các loại đềugiàu chất đạm có thể dùng thay thịt cá, nấu riêng hay chung với cơm với rau củlàm bột làm bánh. Khi dùng đậu làm thức ăn, nên để nguyên vỏ vì vỏ chứa nhiều sinhtố và chất bổ, đậu đỏ dương hơn cả, đậu váng ít dương hơn. Đậu đen, đậu xanhhơi âm; còn đậu nành rất âm, nên những món ăn làm bằng đậu nành như sữa đậunành đậu phụ chao nên dùng ít, ngược lại đậu nành ủ lên men ngâm muối và để lâungày như tương ta (hạt lỏng), tương đặc (miso), tương nước (tamari) là nhữnggia vị bổ dưỡng có thể dùng hàng ngày.
4-Rong Biển như phổtai, rau câu chân vịt, rau câu chỉ vàng, mứt biển giàu chất đạm, nhiều bột đường,chất béo chất khoáng và sinh tố; đem chiên xào, trộn gỏi, nấu xúp, làm xu xoa (thạch,agar) hoặc rang giã thành bột làm gia vị hoặc ăn với cơm cháo. Rong biển tươngđối âm hơn rau củ trên đất liền có thể ăn hàng ngày, nên ăn vừa phải và kô nênăn vào buổi tối.
5-Thịt không cần thiết, vìthịt làm acid hóa dòng máu, tăng độ ammoniac trong ruột, vì phần lớn hiện naythú vật được nuôi bằng thực phẩm chứa nhiều hóa chất nên kô tốt; tuy nhiên nếu thíchthì chỉ dùng thịt thú hoang hoặc được nuôi bằng thực phẩm thiên nhiên và dùngcàng ít càng tốt (10% toàn bữa ăn, tuần 2 lần).
6-Cá có thể dùng hàngngày 5% toàn bữa ăn, nên chọn cá nhỏ thịt trắng.
7-Sữa Bò kô thích hợp vớingười, vì dùng dễ sinh cảm cúm, viêm xoang, viêm đại tràng.
8-Trứng nên chọn trứngcó trống dùng cả lòng đỏ và trắng, trứng cực dương khó tiêu nên 1 tuần chỉ nêndùng 2 trái.
Muối được lấy từ nướcbiển thiên nhiên, xa nơi bị ô nhiễm (tàu bè qua lại) chưa bị lọc để tránh mấtkhoáng tố vi lượng.
Mè theo Đông Y bổ não,bổ máu ích gan, cường thận, nhuận trường làm đen râu tóc, da mịn, tai mắt sáng,bền gân cốt, ngừa trị phong tà, tăng sức chịu đựng đói khát.
Dầu mè có tính sáttrùng, bôi lên vết phỏng chống phồng dộp hoặc xức ghẻ, thoa nơi thương tích rấttốt. Dầu mè đặc biệt bổ mắt có thể trị bệnh về mắt.
Dầu mè tốt làm từ mèrang sơ rồi đem ép nhưng không được lọc, không tẩy màu, mùi.
Không dùng bất cứ thứgì do kỹ nghệ sản xuất, kể cả cafe. Phải nhai thật kỹ mới nuốt .
Trị Vài Bệnh Thông Thường
Bại Xụi (poliomyélite)Phương 7 với nhiều muối mè, bầu, hạt bí, kê, sarrazine, bột mì lứt, củ sen,carrote, cresson, epinard, bí đỏ, bồ công anh.
Bao Tử Đau: Phương 7nhai thật kỹ, ăn bột gạo lứt rang với muối mè, tương.
Uống trà gạo lứt, trà 3năm.
Bao Tử Loét: phương 7 vớimuối mè, hay phương 6,5 với ít bắp xú (choux, có chất chống loét), carotte,hành tây xào chín. Nhai kỹ uống ít nước. Dùng bồ công anh (pissenlit) cam thảohoặc cây mắc cở sao vàng nấu nước uống thay trà. Khi cơn đau tới, nuốt 1 muỗng cafemuối mè.
Bướu Nhịn ăn một tuần rồiăn theo phương số 7 (hoặc số 6) với muối mè, uống ít nước. Bướu Cổ (goître)Phương 1 hoặc 2, ăn nhạt, nhiều rong biển, uống trà gạo lứt. Đắp nước gừng nóngvà dán cao khoai sọ.
Bướu Cổ Lồi Mắt(basedow) Phương 7 hoặc 6 ăn hơi mặn và khô.
Uống trà gạo lứt, tràba năm.
Cảm Cúm Sốt: Ăn crème gạolứt (rang vàng gạo lứt rồi tán bột, chiên bột với dầu mè, thêm nước sôi) với muối.Sau đó ăn Phương số 7. Ngâm chân nước nóng 20 phút, rồi nước lạnh 1 phút, laukhô.
Câm,Điếc Phương 7 vớimuối mè.
Cùi Phương 7 với nhiềumuối mè, ngoài đắp nước gừng nóng dán cao khoai sọ.
Đái Đường: Phương 7, đặcbiệt (100g bí đỏ với 50g đậu đỏ hạt nhỏ) nấu lấy nước uống.
Động Mạch Xơ Cứng(Arthériosclérose): Phương 7, ăn hơi lạt, rong biển, rau xanh (cải lá, bắp cải,rau má, cresson, củ cải trắng) nêm tương, luộc, hấp, có thể xào với một chút dầumè.
Uống trà gạo lứt, trà 3năm. Hàng ngày lấy vải nhúng nước gừng nóng chà sát khắp người.
Động Mạch Tắc Nghẹn(Athérosclérose) Phương 7 hay 6, ăn hơi mặn và khô, ăn rong biển, uống trà gạo,lứt trà ba năm.
Gan Viêm: Nhịn ăn 3ngày, rồi ăn kem gạo lứt (rang vàng gạo lứt rồi tán bột, chiên bột với dầu mè,thêm nước sôi) hay bột gạo lứt với muối mè, đừng ăn mặn quá, uống trà gạo lứt.Sau đó là phương 7, rau lá xanh (cresson, rau má, cải xanh, củ cải) . Đau nhiềuthì đắp nước gừng vài phút rồi dán cao khoai sọ. Sốt cao thì đắp đậu hũ. Nôn mửathì nuốt tí muối mè, nước luộc rong biển hay nước đất sét (argile, cho 1 thìacafe đất sét mua ở pharmacie vào nửa ly nước không đun sôi, quấy bằng thìa gỗ).
Giời Ăn (Zona). Ăn cháogạo lứt với muối mè. Nhai nhỏ đậu xanh sống rịt vào chỗ lở.
Sức dầu mè nguyên chấthay dầu cám.
Gầy Ốm Nhịn ăn trong 3ngày rồi dùng phương 7 hay 6 với muối mè độ 1 tháng, rồi dùng phương 5, 4, 3.Nhai thật kỹ.
Hen Suyễn: Phương 7, cóthể thêm củ sen chiên bột, uống trà gạo lứt, trà củ sen.
Huyết Áp Cao hay Thấp:chữa như “động mạch xơ cứng”. Huyết áp cao dùng trà tim sen.
Khớp Xương Sưng Phương7 , muối mè, đắp nước gừng nóng.
Kinh Nguyệt Không ĐềuPhương 7, 6 hoặc 5, uống ít nước, ngâm mông nước nóng 15 phút mỗi đêm trước khiđi ngủ.
Liệt Run Cứng (maladiede Parkinson) Có 2 thứ, âm run ít, dùng phương 7 với một ít muối mè, uống ít nước;dương run nhiều đôi khi vùng vẫy, ăn phương 5, 4, ăn nhạt, uống nước vừa phải,dùng trà bồ công anh cho cả 2 bệnh.
Liệt Dương Phương số 7trong một tháng, sau đó là phương 6, 5.
Mập Phì Phương 7 với60g củ cải radis sống với một ít muối mè trong 1 hoặc 2 tháng.
Mắt Bệnh:
Cận Thị Thuộc bệnh âm,dùng phương 7, 6, 5 với muối mè. Trà gạo lứt, trà 3 năm. Khi mỏi mắt, chà 2 bàntay cho nóng rồi úp vào mắt (7 lần).
Loạn Thị (Astigmatisme)thịnh dương ( kô thấy rõ đường dọc) dùng phương 6, ăn hơi nhạt, loại âm (kô thấyđường ngang) dùng phương 7 nhiều ngày thêm bí đỏ carotte củ sen xào dầu mè nêmtương, hạn chế dùng nước. Áp mắt như cận thị .
Loạn Màu Sắc thịnhdương (kô thấy màu đỏ), thịnh âm (kô thấy màu xanh.
Chữa như loạn thị, áptrà và nhỏ dầu mè như cataracte (mắt cườm, cườm khô)
Mắt Cườm, Mắt kéo mây,Đục thủy tinh thể, Mắt vảy cá (Cataracte), phương 7 hay 6.
Đắp nước trà nóng vàohai mắt nhắm kín, ngày 3 lần mỗi lần 15 phút. Mỗi tối trước khi đi ngủ nhỏ vàomỗi mắt 1-2 giọt dầu mè nguyên chất, uống trà lá cúc.
Dùng nước dừa xiêm tươi(coconut water) mới hái từ trên cây, không non không già, nhỏ mắt. Không đượcdùng nước dừa hộp, dừa ngâm nước hóa chất cho tươi lâu.
Mắt Đỏ, Mắt Hột Nhịn ănvài bữa, hoặc ăn bột gạo lứt cháo gạo lứt với muối mè và tương hơi mặn, uốngtrà gạo lứt trà 3 năm, sữa thảo mộc (nếp lứt, kê, ý dĩ, hạt sen, mè tất cả đãirửa để ráo rang vàng trộn chung xay mịn), áp trà, nhỏ dầu mè như cataracte hoặcnhỏ mắt bằng sữa con so.
Mắt Lé Thịnh âm (hailòng đen nhìn ra 2 bên ngoài) thịnh dương (cả hai nhìn vào trong) chữa như loạnthị, thịnh âm lẫn thịnh dương (mắt nhìn trong mắt nhìn ngoài) dùng phương 7.
Nhãn Áp Tăng (Glaucoma)như mắt cườm, phương 7, uống ít nước.
Uống nước dừa tươi(coconut water).
Viễn Thị Bệnh dương,dùng phương 2, 3, 4, 5 nhai thật kỹ, dùng ít muối, uống nước tùy thich.
Võng Mạc Bị Long(décollement de la rétine) Phương 7, chỉ uống trà gạo lứt vừa đủ thấm miệngtrong vài ngày, sau đó dùng phương 6 ăn hơi mặn và khô. Mỗi tối trước khi đi ngủnhỏ vào mỗi mắt 1-2 giọt dầu mè nguyên chất.
Mũi Ung Thối (Ozène)phương 7, ăn hơi mặn và khô, uống trà gạo lứt, rửa mũi bằng nước trà pha muối(hít vào rồi hỉ ra), áp nước gừng, dán cao khoai sọ.
Phổi Ứ Đàm: Phương 7 hoặc6, mỗi ngày ngậm 2 quả ô mai hay chanh muối lâu năm, uống trà gạo lứt trà củsen, áp nước gừng ở ngực (nam) lưng trên (nữ).
Phong thấp (rhumatisme)Chỉ ăn gạo rang hoặc cháo gạo rang với muối mè, uống ít nước.
Đắp nước gừng, dán caokhoai sọ.
Phỏng: xức dầu mènguyên chất. Lòng trắng trứng, đánh tan, bôi lên. Bôi dầu xăng super.
Sán Lãi: Sáng nhịn ăn,chỉ ăn một nắm gạo lứt sống hay hat bí đỏ sống thêm hành tỏi sống, nhớ nhai kỹ,vài ngày sau sán sẽ ra. Dùng phương 7, 6 thức ăn nấu hơi mặn, uống trà ngải cứu,nước rong biển.
Say sóng Trước khi lênxe, uống ít nước, không dùng rượu, không ăn uống đồ ngọt.
Ngậm một ít muối mè.Để1 quả xí muội muối vào rốn, lấy băng keo dán lại.
Gừng đập hơi giập, đắprốn, dán băng keo, miệng ngậm gừng.
Sạn Mật Bàng Quang Thận:Phương 7, muối mè, 4 ngày đầu 4 muỗng mỗi bữa ăn, các ngày sau,1 muỗng. Đau thìđắp nước gừng nóng dán cao khoai sọ. Tránh đồ ăn âm (trái cây, dấm, các chấtchua, đồ ngọt)
Sưng Màng Óc Phương 7 vớiít muối mè trong một tháng, sau dùng phương 6, 5 với bí đỏ và các thứ rau củ xào mặn.Cạo trọc đầu, ngày 5 lần, đắp nước gừng nóng nửa giờ rồi đắp cao khoai sọ 4 giờ.
Tai biến mạch máu não:Cách chữa như “động mạch sơ cứng”. Áp nước gừng nóng và đắp cao khoa sọ trên đầu(nên cạo sạch tóc). Xoa xát dầu mè gừng.
Thần Kinh Tọa Viêm:Phương 7 như Sơ cứng mảng. Áp nước gừng nóng, dán cao khoai sọ, ngâm nước cải bẹxanh với ít muối.
Thần Kinh Viêm(névrite) : phương7, nhai thật kỹ, uống ít nước, dùng cresson, củ sen, pissenlit,ngoại đắp nước gừng nóng.
Thống Phong (goutte)Phương 7 muối mè, tương đậu nành, uống ít nước.
Tim Đập Chậm(bradycardie) Cháo gạo lứt rang nửa tháng với 10g ô mai ướp muối lâu năm; sau đó dùng phương7 với chút ít muối mè..
Tim Đập Nhanh,(tachycardie) Tim đập không đều phương 7 hay 6,5 với muối mè.
Tim Nhói : Phương 7 vớimuối mè, nhai kỹ, uống ít nước, không ăn gì khác. Trước khi đi ngủ, ăn 1 muỗngmuối mè. Ngày 4 lần, đắp nước gừng nóng và dán cao khoai sọ.
Tim Yếu: Phương 7 vớimuối mè, uống ít nước. Bệnh nặng, trong 3 ngày liên tiếp, mỗi ngày dùng 1 quảtrứng gà sống mới đẻ có trống, thêm chút muối, nuốt trọng đừng nhai. Mỗi đêm trướckhi đi ngủ , ăn một muỗng rưỡi muối mè.
Trí Nhớ kém : Phương 6,ăn rau củ dương (carotte, bí đỏ, cresson, bắp cải, rau má, củ sen, rong biên,lá cải xanh), uống trà gạo lứt, trà ba năm.
Tâm Thần
Cuồng Loạn: (hystérie)Tâm thần và thể xác bị rối loạn, không hòa nhịp. Phương 7 với rau củ dương, tràgạo lứt, trà củ sen, sữa thảo mộc (nếp lứt, kê, ý dĩ, hạt sen, mè tất cả đãi rửađể ráo rang vàng trộn chung xay mịn) để bổ dưỡng
Hoang Tưởng (paranoia),tưởng tượng như đang có ai theo dõi để hại mình, phương số 7
Phân Liệt(schizophrénie) tưởng hồn mình đang ở ngoài thể xác. Chữa như hysteria.
Ung Thư, Phương 7, rongbiển, tương hành tỏi, uống trà gạo lứt trà ba năm. Ngày 3 lần đắp nước gừngnóng rồi sau đó dán cao khoa sọ lên khối u ở bên trong, Nấu cháo “hắc mạch sarrazine”(1 chén hắc mạch, 1 muỗng dầu mè, 1 muỗng café muối, 2 chén nước nấu thành cháo)ăn với muối mè tương đậu nành, uống ít nước.Lở loét thì xức dầu mè tốt , dầu cámhoạc bột dentie (cuống cà đem nén muối 3 năm, phơi khô đốt thành than, xay bột).Trịung thư và viêm bàng quang, ung thư lưỡi miệng, dùng rau củ dương, tránh ăn đồchiên nướng.
Ung Thư Bao Tử: Phương7 với muối mè, uống ít nước, ngày 2 lần uống nửa muỗng cafe dentie. Đắp nước gừngnóng dán cao khoa sọ.
Ung thư Cuống Họng:Cháo gạo lứt rang (hay kem gạo lứt rang) với muối mè. Nếu nuốt được thì dùngphương 7 với muối mè, nhai kỹ, uống trà già ba năm.
Ung Thư Phổi: Phương 7,rong biển, tương hành tỏi, uống trà gạo lứt trà củ sen, áp nước gừng ở ngực(nam) lưng trên (nữ).
Ung Thư Gan, Tụy Tạng:Phương 7, rong biển, tương hành tỏi, uống trà gạo lứt trà ba năm.
Nhịn ăn 3 ngày, rồi ănkem gạo lứt (rang vàng gạo lứt rồi tán bột, chiên bột với dầu mè, thêm nước sôi)hay bột gạo lứt với muối mè, đừng ăn mặn quá, uống trà gạo lứt. Sau đó làphương 7, rau lá xanh (cresson, rau má, cải xanh, củ cải).Đau nhiều thì đắp nướcgừng vài phút rồi dán cao khoai sọ. Sốt cao thì đắp đậu hũ. Nôn mửa thì nuốt tímuối mè, nước luộc rong biển hay nước đất sét (argile, cho 1 thìa cafe đất sétmua ở pharmacie vào nửa ly nước không đun sôi, quấy bằng thìa gỗ).
Viêm Xoang Mũi(sinusis) : Dùng phương 7 với muối mè, ăn củ sen chiên với dầu mè, uống trà củsen. áp nước gừng nóng vào vùng xoang, có thể đắp cao khoa sọ. Xông mũi bằngkhói ngải cứu.
Vô Sinh P 7 trong 2tháng, rồi 6, ,5,4. Trước khi đi ngủ ngâm mông nước muối nóng 15ph.
Xơ Cứng Mảng (scléroseen plaques) Phương 7 hay 6, ăn hơi lạt, carotte, củ sen, bí đỏ, cresson, cải bẹxanh, đậu xanh; hấp luộc xào với ít tương. Không tắm nước nóng, tắm hơi.
Lấy khăn nhúng nước gừngnóng, chà xát khắp người cho da đỏ, rồi xối nước đó lên.
Xuất Tinh Sớm Phương 7nhưng cử mè. Nhai thật nhỏ. Cây Trinh nữ (cây mắc cở) cùng với tim sen nấu uốngthay trà.
Giải Đáp Thắc Mắc
1-Phương pháp Ohsawa chỉdùng thực phẩm chứ không dùng thuốc thì làm sao mà khỏi bệnh được ?
Cơ thể con người cũngnhư của loài vật do Tạo Hóa sinh ra, vô cùng tinh vi, hoàn hảo và vi diệu. Để bảovệ cơ thể khỏi bị hư hại, bệnh tật, Tạo Hóa đã ban cho cơ thể khả năng tự chữa trịlấy bệnh, rất nhiều bệnh, với điều kiện là phải được cung cấp phương tiện tốithiểu để cơ thể tự chữa trị lấy. Trong số thực phẩm hiện hữu, nhiều vô kể,Ohsawa nhận thấy chỉ có” gạo lứt và muối mè” thêm trà gạo lứt rang, trà ba nămlà đủ điều kiện mà cơ thể cần, những thứ khác chỉ là để bổ túc thêm mà thôi.Nhu cầu sở dĩ ít ỏi, ít ra là trong thời gian bị bệnh, là muốn tránh cho cơ thểphải làm việc nhiều, những việc cơ thể thấy chưa cần thiết, để cơ thể chỉ tậptrung vào việc sửa chữa những hư hao của cơ thể, vì đó mới công việc chính.
Nhiều không phải là tốt.Nói nhiều thì dễ sinh mất lòng, có khi mang họa; ăn nhiều thì dễ mang độc tốvào người, tạo thêm nhiều công việc nặng nhọc cho bộ máy tiêu hóa, bài tiết vàcác cơ quan khác, làm mệt cơ thể, cơ thể dễ bị “chia trí” không dành hết “tâmtrí và sức lực” cho việc tu bổ. Thuốc hiện nay là hóa chất tuy có tính năng điềuchỉnh được trục trặc lúc đầu, nhưng bản chất không phải do Tạo Hóa sinh ra (tếbào), nên sẽ bị cơ thể bất dung nạp mà sinh điều bất lợi (phản ứng phụ), sớm trởthành gánh nặng cho cơ thể, làm cơ thể tốn nhiều thì giờ và công sức để loại trừ.Nếu cơ thể không loại trừ được chúng, mà chúng vẫn cứ “ở lỳ” (tích tụ) trong cơthể thì hậu quả sẽ ra sao? Gạo lứt muối mè thì khác, nó cung cấp nguyên liệu màcơ thể cần để hoạt động, cung cấp thực phẩm để bồi bổ cơ thể, cho nên cơ thể OK ngay, quan trọng là không hề có phản ứngphụ. Cho nên không dùng thuốc mà còn hơn là dùng thuốc, và cơ thể sẽ mau khỏi bệnh.
2-Đàn bà con gái taychân lông lá xồm xoàm làm sao cho hết ?
Vì ăn quá nhiều đồ ănhuyết nhục (dương) nên cơ thể thành quá dương sinh nhiều lông lá.
Dùng phương 7 vài batháng để âm dương được quân bình, thì tay chân sẽ sạch lông, sẽ trả về cho cơthể sự duyên dáng dịu dàng và xinh đẹp.
3- Muốn biến đổi thainhi gái thành thai nhi trai thì làm sao ?
Người đàn bà lúc cóthai sắp được 2 tháng đi tìm mua một lượng Hùng Hoàng (As2 S3) (dương) (ở tiệmthuốc Bắc) bỏ vào một cái túi lụa đỏ (dương) đeo luôn trong mình để dương hóacái thai, thai nhi sẽ hoá thành trai.
4-Dùng Nguyên lý ÂmDương để chữa trị chứng hiếm muộn
Có nhiều phương cách trịhiếm muộn, nhưng đây là trường hợp đặc biệt. Một cặp vợ chồng, cả hai đều khỏemạnh, “tinh binh” của chồng đều đầy đủ và rất tốt, yếu tố rhésus thuận lợi, thếmà người vợ cứ bị hư thai hoài. Bác sĩ Morishita sau khi hiểu được Dịch lý âmdương ghi trong sách của Ohsawa, ông nẩy ra ý kiến là cái phôi thai bị kháng thể(anticorps) trong huyết quản của người mẹ chống đối kháng thể người con, vìchúng cùng Âm hoặc cùng Dương nên ghét nhau và xô đuổi nhau. Nay muốn hóa giảisự chống đối thì phải có vật thế thân (như kiểu Lê Lai cứu chúa) để hướng dẫn sựchống đối vào một mục tiêu khác trầm trọng hơn.
Khi người mẹ có thai được2 tháng, ông lấy một mảnh da của người chồng ghép vào cho người vợ. Độ 2 tuầnsau thì miếng da bị tróc và bị kháng thể trong châu thân người vợ chống đối kịchliệt. Đến tháng năm rồi tháng tám, ông ta cũng ghép như thế, các miếng da vẫn bịtróc sau 2 tuần. Thế là thai nhi được bình yên và đứa bé chào đời hoàn toàn khỏemạnh. Sở dĩ thai nhi được bình yên vi kháng thể người mẹ đã tập trung toàn lựcquay mũi dùi để lo chống đối kịch liệt miếng da ghép của người chồng là một vậtchỉ riêng của người chồng mà nó chống đối thù ghét nhiều hơn cái thai đã có mộtnửa phần là phần máu huyết của người mẹ.
5-Dùng Nguyên lý ÂmDương Để Tăng Khả Năng Chống Bệnh Của Cơ Thể
1-Ngâm Chân Nước Nóng
Trong thủy liệu pháp củaTây phương, người ta ngâm chân nước nóng chỉ là để đưa máu xuống chân làm hạnhiệt. Còn theo Nguyên lý Âm Dương: đầu (âm) phải mát (âm), chân (dương) phảinóng ( dương), thì âm dương trên dưới mới là đúng vị thế, trong cùng một cơ thểmới là quân bình, bằng ngược lại sẽ bệnh. Một khi đã mất quân bình rồi thì taphải lập tức tái lập vị thế quân bình âm dương bằng phương pháp sau, tuy giản dịnhưng có thể trị đượcnhiều bệnh như nhức đầu, nóng lạnh, mất ngủ, hạ nhiệt, honhất là cảm nhiễm phong hàn, cảm cúm.
Lấy 2 cái chậu, đổ nướclạnh gần đầy thùng A, thùng B chỉ đổ phân nửa. Nấu nước sôi cho thêm vào nắm muốiđổ vào thùng B cho nước nóng lên chừng 40 độ C. Ngồi chỗ kín gió, nhúng 2 chânvào nước ấm, nếu nước nguội thì châm thêm nước sôi. Khoảng 20 phút sau (10 phútnếu là trẻ con), nhúng cả 2 chân vào thùng A (nước lạnh) trong 1 phút, để giữnhiệt (âm hút dương) rồi lấy 2 chân ra lau thật khô rồi xát mạnh vào lòng bànchân cho ấm.
Trùm mền cho ngườinóng. Khi ra mồ hôi thì lấy khăn lau khô, thay quần áo.
Ngày có thể ngâm chân 2lần, tốt nhất là trước khi đi ngủ.
2-Dậm Chân Tại Chỗ
Dựa trên nguyên lý âmdương: đầu (âm) cần mát (âm), chân (dương) cần nóng (dương). Ở đây ta dùng mộtvật tác động đến hai bàn chân để tạo sức nóng cho chúng, đưa chúng đến tình trạngnóng (dương), bằng sự ma sát liên tục. Phương pháp nầy mang lại nhiều lợi ích chonhững người ở thành thị sống xa thiên nhiên, hằng ngày chỉ đi giày đi dép, đixe cộ, ít có dịp đi chân không.
Cưa một thanh gỗ dài 35cm, mỗi đầu thanh gỗ có tiết diện hình vuông, mỗi cạnh là 3,5 cm.
Một mặt trên thanh gỗ,bào cong hình vòng cung theo vòm bàn chân. Đặt thanh gỗ trên nền nhà cạnh bànhoặc tủ, mặt bào cong hướng lên trên. Đứng thẳng lưng và đầu, hai bàn tay vịnhbàn, đặt lòng bàn chân lên mặt bào cong của thanh gỗ, dậm chân tại chỗ 20 phút,thỉnh thoảng dậm từ gót chân ra đến các ngón chân và ngược lại. Ngày 2 lần, buổisáng mới thức dậy và buổi tối trước khi đi ngủ. Phương pháp nầy trị được nhiềubệnh : đau tim, mất ngủ, nhức đầu tê mỏi, suy nhược.
3-Tiếp Cận Ion-Âm
Trên mặt đất có một lớpIon âm, khi đi vào cơ thể sẽ kích thích hệ thần kinh đối giao cảm, có tác dụnglà làm thay đổi mực độ acid-kiềm của máu , làm gia tăng hoạt tính của tế bàolành mạnh, làm sung mãn cho các tế bào. Ion âm được sinh ra rất nhiều gần bênthác nước thiên nhiên. Người đang thời kỳ dưỡng bệnh nên đến gần tháng nước nghỉmát, bệnh sẽ rất mau lành. Những người sống ở thành thị, chân luôn đi giày dép,hai bàn chân ít có dịp tiếp xúc với mặt đất, với cỏ cây sỏi đá nên không đượchưởng khí lực nầy. Chân (dương) không thể hút Ion Âm (âm) được, cơ thể không đượchưởng sinh khí của đất nên thường hay bị mệt mỏi chán chường trầm uất hay nónggiận. Vậy ta hãy dùng phương pháp sau đây để đưa nguồn sinh lực thiên nhiên vôtận nầy vào nhà, thậm chí đưa lên lầu cao hoặc trên nền gỗ.
Nối 1 đầu dây đồng (dâytrần đã bỏ vỏ cách ly) vào phần dưới của ống dẫn nước, đầu kia nối với một tấmkim loại inox, rộng bằng 2 bàn chân, (hay với 2 cái thìa lớn bằng inox). Hàng ngàydùng chân trần đạp lên tấm kim loại nầy (hay 2 thìa Inox), cho ion âm ở đấttheo ống dẫn nước đi qua gang bàn chân, rồi chan hòa vào cơ thể. Phương pháp nầylàm tăng sức đề kháng cơ thể trị đau đầu, mất ngủ, hay mệt mỏi, bệnh tim mạch.
Biên Soạn Nguyễn San Hà(15/3/2012)

Cách sống và cách ăn uống để ngừa bệnh

Các thầy thuốc đông y cổ xưa chữa bệnh rất đơn giản không phức tạp như ngày nay, bệnh nhân chẳng cần phải lo lắng gì cả. Cổ nhân đã xác định người khoẻ mạnh và người bệnh tật qua 2 câu thơ :

Ăn được, ngủ được là tiên
Không ăn, không ngủ, mất tiền thêm lo.
Cho nên khi mình có bệnh, thầy thuốc chỉ hỏi : có ăn được không, có ngủ được không, có đại tiện được không, tiểu tiện được không?

Không ăn được thầy hốt thuốc cho ăn được, không ngủ được thầy hốt thuốc cho ngủ được, không đại tiểu tiện được thầy hốt thuốc cho thông đại tiểu tiện, có chỗ nào đau thầy hốt thuốc cho giảm đau… uống vài thang mình lại cảm thấy khoẻ ngay ,như vậy có gì mà sợ.

Thời nay không phải như vậy, thầy thuốc gọi ra tên bệnh ,tên vi trùng, virus qua kết quả xét nghiệm và và hù doạ mình là bệnh này chỉ có thể sống được vài tháng, vài năm là phải chết, giống như mình xem bói thầy bói nói ngày đó giờ đó mình gặp tai nạn… chính những câu nói đó là mầm bệnh , một loại siêu virus tâm lý không nhìn thấy được qua xét nghiệm , nhưng nó có tác hại ghê gớm và người ta sẽ bị ám ảnh lo sợ và chết trước thời hạn ,chính con người bị bệnh do mắt thấy tai nghe hơn là lây nhiễm trực tiếp. Thí dụ mình cho một người ăn xin mắt mù tai điếc mũi câm ăn một miếng bánh mì nhặt từ bãi rác dơ bẩn , họăn ngấu nghiến qua cơn đói họ khen ngon.vì mắt không thấy bẩn sạch, tai không nghe người khác nói bẩn sạch, mũi không ngửi được mùi thơm thối, nhưng chính mình trông thấy dơ bẩn, nhiều vi trùng ruồi nhặng mình sẽ bị nôn oẹ ,ói mửa , nỗi khiếp sợ nó ám ảnh mình sẽ làm cho mình bị bệnh , còn người ăn vẫn ăn ngon ngủ khoẻ mà không bệnh không chết, trong khi họ đói khổ kiếm ăn khó khăn, họ cầu chết cho khỏi khổ mà không được.

Tôi muốn nói đến yếu tố đầu tiên của đông y gây ra bệnh tật chính là tinh thần.là một trong 3 yếu tố chính là Tinh-Khí-Thần để thầy thuốc đông y khám bệnh và chữa bệnh.

- Tinh là những thức ăn uống và thuốc men đưa vào cơ thể phải thanh khiết không có chất độc,

- Khí là phải biết cách hít thở tập luyện để giúp thức ăn chuyển hoá thành máu nuôi cơ thể và loại bỏ độc tố cặn bã ra ngoài,

- Thần là vô uý không sợ bệnh, không sợ chết. Sống với tinh thần cởi mở, lạc quan, yêu đời, giúp người.

Đối với Đạo Phật, bệnh nặng đến là ác nghiệp đến hành hạ mình, nhưng biết sống vô uý (không lo sợ) thì bệnh cũng chẳng hại đến mình ,nếu tin vào tử vi thì sống chết đều có số mạng, nhưng tu nhân tích đức có thể cải số được khỏi bệnh người đời gọi là may mắn gặp thầy gặp thuốc. Thật ra là nhân duyên chứ không phải tự nhiên mà được may mắn như thế.

Theo tử vi tướng số và chỉ tay, tôi sẽ chết lúc 41 tuổi , tử vi nói theo những điều kiện do các sao hợp thành , nhưng còn đức năng thắng số là những yếu tố cho mình thay đổi số mạng, biết tử vi xấu thì phải làm những điều tốt để cải số, cho nên ngày giờ xảy ra năm 41 tuổi là đúng bị xe hơi đụng kéo tôi một khoảng 10 mét, tôi dùng hai bàn tay chống xuống mặt đường nên bị chà xát mất các đường chỉ tay , sau đó đường chỉ tay thay đổi mọc dài hơn . Tiếp tục làm điều tốt để cải nghiệp ,một người bạn xem tướng cho biết tôi sẽ chết năm 63 tuổi , cũng năm đó tôi bị xe đụng đâm thẳng vào bụng rồi bỏ chạy sống chết mặc bây, (hit and run) ,vỡ tan cái cell phone mà tôi không gẫy xương hông xương sườn , có một bàn tay vô hình nâng tôi đứng sang bên cạnh cho xe đó vượt qua thay vì tôi té xuống sẽ bị cán ngang người tôi thành thịt vụn . Hiện nay tôi vẫn tiếp tục cải nghiệp cho qua nạn 75 tuổi. Tôi vẫn ăn ngon, ngủ khỏe ,tôi có một vết sẹo xơ phổi do tập võ, khi khám sức khỏe đi Canada 1993 ,không chứng minh được vết sẹo nên phải uống thuốc sáu tháng , vết sẹo không lành sau khi uống thuốc ,tây y nghi là ung thư, tôi cũng bỏ qua chẳng lo, sống chết có số do nghiệp lành dữ của mình tạo thành, tôi đang chữa bệnh cho tôi bằng phương pháp cải nghiệp dữ thành nghiệp lành, nhiều người tôi quen biết chưa đi được Canada cũng đã chết oan khi chuyển qua chữa vết sẹo lao cũ bằng thuốc trị ung thư .

Cho nên giờ này tôi vẫn áp dụng câu đơn giản : Ăn được ngủ được là tiên . Đó là phương pháp để tránh xa bệnh tật .

Chỉ khi nào qúy vị có bệnh cần hỏi phương pháp cụ thể tôi sẵn sàng giải đáp .

Để ngừa bệnh cao áp, tiểu đường, mất ngủ, mắt kém, mệt mỏi, tôi thường mua Địa cốt bì nhờ tiệm thuốc xay thành bột, đóng gói thành từng gói nhỏ như gói trà túi lọc.
Bỏ 1/3 ly Câu kỷ tử khô , rửa 2-3 lần cho sạch và cho bớt ngọt + 1 gói trà túi lọc Địa cốt bì , rồi đổ đầy ly nước sôi ngâm 10 phút, uống nước ăn cái mỗi ngày , vì thế tôi mới có thể làm việc mỗi ngày 16 tiếng, ngủ 6 tiếng mà không thấy mệt mỏi bệnh tật gì ..

Chúc qúy vị luôn vui khỏe, yêu đời, ăn ngon ngủ khỏe không bệnh tật.

Thầy thuốc Đỗ Đức Ngọc

Thứ Tư, 13 tháng 6, 2012

Những điều chưa biết từ quả dừa

Dừa là loại cây ăn quả được trồng rất nhiều từ Nam Trung bộ trở vào miền cực Nam nước ta. Quả dừa có nhiều tác dụng trong cuộc sống. Nó còn là loại quả dùng làm thuốc chữa bệnh rất có giá trị...

Nhiều công dụng

Theo phân tích của các nhà khoa học, cùi dừa và nước dừa có các thành phần dinh dưỡng như glucose, fructose, saccharose, chất béo, chất protein, vitamin nhóm B, vitamin C và các chất potassium (K), magnesium (Mg)... Hàm lượng potassium và magnesium trong nước dừa rất phong phú, hợp thành của nó tương tự như dịch trong tế bào, có thể sử dụng làm nước uống bổ dưỡng rất ngon miệng, chữa được chứng mất nước và làm cân bằng chất điện giải (electrolysis). Nước dừa được dùng làm dịch truyền trong nhiều cuộc chiến tranh.

Các sách đông y có ghi: Dừa “chủ yếu là tiêu khát, chữa thổ huyết, phù thũng, trừ phong nhiệt” (phong nhiệt là phong tà kết hợp với nhiệt tà gây nên bệnh, thường xuất hiện các triệu chứng như phát sốt, nhức đầu, gai rét, sợ gió, ra mồ hôi, tắc mũi, ho, họng rát đau, khát nước, lưỡi đỏ, rêu lưỡi trắng, mỏng, hơi vàng, mạch phù sác). Còn sách Trung Quốc dược thực đồ giám có ghi: “Dừa có tác dụng “tư bổ, thanh thử, giải khát” và tiêu cam (bệnh trẻ con bụng ỏng da vàng), tẩy giun sán, kết hợp với mật để chữa chứng gầy yếu xanh xao ở trẻ nhỏ”. Theo nghiên cứu của đông y, dừa vị ngọt, tính bình, sinh tân, lợi niệu, sát trùng. Trái dừa có thể dùng chữa trị các chứng bệnh viêm nhiệt, háo khát, tân dịch, bị tổn thương, miệng nôn trôn tháo,
phù nề, tiểu tiện ít, bệnh về ký sinh trùng đường ruột, bị lở loét, viêm da... Ăn cùi dừa, uống nước dừa có thể làm cho mặt mày rạng rỡ, da dẻ mịn màng, người đẹp thêm ra. Có thể nói, quả dừa từ ruột đến vỏ đều là những vị thuốc Đông y quý giá.

Để chữa khản tiếng, bạn có thể lấy nước dừa non 1 cốc, rau má 8 g; giã rau má, vắt lấy nước cốt pha với nước dừa uống.
Nước dừa ngọt ấm, không độc, giúp tăng cường khí lực, tươi nhuận nhan sắc, trị cảm nắng, thủy thũng, thổ huyết, máu cam.

Trái dừa được xem là loại quả “kỳ diệu”, có gần như toàn bộ chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể. Protein dừa gồm các acid amin c ó chất lượng cao, nhiều vitamin trong nhóm B và các vitamin khác. Nước dừa cũng giàu chất khoáng; hàm lượng kali và magiê tương tự dịch tế bào của người nên thường được dùng cho bệnh nhân tiêu chảy. Tổ chức Y tế Thế giới khuyến khích cho trẻ em tiêu chảy uống nước dừa pha muối.

Nước dừa làm đẹp da, đen mượt tóc. Nhân dừa non (mềm như thạch) chứa nhiều enzym tốt cho tiêu hóa, dùng chữa các bệnh viêm loét dạ dày, viêm gan, đái tháo đường, lỵ, trĩ, viêm đại tràng.

Dừa được xem là món ăn trường xuân của người Philippines. Họ chế biến thứ đồ uống gọi là Nata dừa, gồm có nước dừa, đường, giấm, và “nước cái” (chứa vi khuẩn giúp lên men). Cựu tổng thống Philippin Fidel Romos cho rằng, nhờ ăn hằng ngày món này, ông thấy mình trẻ lại như ở tuổi 20. Nata dừa đã trở thành món tráng miệng cao cấp ở Nhật và được xem là có tác dụng ngừa ung thư.

Cách sử dụng


1. Nước dừa uống mỗi ngày 3 lần; thích dụng với người bị chứng viêm nhiệt, háo khát, tổn thương tân dịch (các chất dịch dinh dưỡng trong cơ thể), mồ hôi ra nhiều, bị phù thũng, nước tiểu ít và đỏ.

2. Nước dừa 1 ly, cho thêm ít đường, mấy hạt muối ăn, khuấy đều rồi uống, có tác dụng ích khí sinh tân; thích dụng với những người vừa bị xuất huyết nhiều hoặc miệng nôn trôn tháo, suy yếu, ẻo lả, mệt mỏi rã rời.

3. Dừa 1 quả, vừa uống nước, vừa ăn cùi. Mỗi ngày ăn, uống vào lúc sáng sớm khi bụng còn đói, sau ba giờ lại ăn tiếp, sẽ có tác dụng sát trùng đường ruột; thích dụng với những người bị bệnh sán lát gừng, sán dây.

4. Cùi dừa nửa đến 1 quả, hàng ngày ăn vào buổi sáng và tối, có tác dụng nhuận tràng; thích dụng với những người bị bệnh táo bón, bí đại tiện.

5. Cùi dừa nửa quả nạo thành miếng nhỏ, cho vào nấu cháo với ít gạo nếp, ngày ăn 2 lần, có tác dụng kiện tỳ khai vị; thích dụng với những người bị ốm lâu ngày mới khỏi, cơ thể còn suy nhược, ăn uống kém.

6. Dầu dừa (là loại dầu được ép từ cùi dừa): dùng bôi ngoài da, có thể chữa trị được các bệnh ghẻ lở, bệnh nấm, bệnh nẻ...

7. 30g vỏ quả dừa, sắc lấy nước uống, ngày 2 lần, có tác dụng hoạt huyết hết đau; thích dụng với những người bị trúng phong, bị đau tim, đau khớp.

8. Vỏ quả dừa đem đập dập vỏ, sắc lấy nước dùng để rửa ngoài vết thương, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, trừ thấp sát trùng; thích dụng với người bị bệnh mẩn ngứa, nấm ngoài da.

9. Kiết lỵ cấp tính: Rau má 50 g, nước dừa tươi một quả. Rửa sạch rau má, giã nhỏ, vắt lấy nước, pha với nước dừa uống. Mỗi ngày một quả.

10. Nôn mửa: Nước dừa 2 chén, rượu nho 1 chén, nước gừng 10 giọt, trộn đều uống.

11. Lợi tiểu giải độc: Nước dừa non có tác dụng lợi tiểu trong các bệnh tim mạch, thận.

12. Viêm thận phù nề: Nước dừa, nước rễ cỏ tranh, nước rễ cỏ lau. Mỗi thứ 30 g, trộn đều uống.

13. Tẩy sán lá: Có tác dụng an toàn và hiệu lực hơn hạt cau. Không cần thuốc tẩy. Buổi sáng chưa ăn lấy 1/2 quả dừa, uống nước và ăn cho hết cùi dừa. Sau 3 giờ, ăn uống bình thường (thức ăn lỏng).

14.Canh dừa khử độc rượu, bôi trơn khớp: Những người thường xuyên uống bia rượu hay cảm thấy đau nhức ở các khớp, hoạt động khó khăn hoặc khi hoạt động, các khớp có tiếng kêu. Để chữa khỏi, nên uống canh dừa. Lấy một quả dừa cắt ngang phần trên làm nắp: 20 g đậu đen vo sạch cho vào trong quả dừa rồi đậy nắp lại, đặt lên 1 cái đĩa. Đặt cả dừa và đĩa vào nồi, chưng trong 4 giờ. Sau đó, có thể cho ít muối tùy ý để uống canh dừa. Mỗi tháng chỉ cần uống 1-2 lần thì chứng đau khớp sẽ hết, các khớp sẽ hoạt động mềm mại trở lại.

15. Nước dừa non trị chứng cam (bụng ỏng, đít teo, suy dinh dưỡng ở trẻ): Nước dừa dùng nấu xôi, luộc gà… làm tăng vị thơm ngon và bổ dưỡng, thích hợp cho người gầy yếu. Người khỏe mạnh buổi sáng uống nước 1 quả dừa xiêm cũng rất tốt.

Lưu ý: Nước dừa lấy ra khỏi quả sẽ bị mất khí vị, cho nên cứ để nguyên quả mà uống. Tốt nhất là nên uống ngay tại gốc vừa chặt, tránh thả dừa xuống đất.

Mới đi nắng về, đang đói mệt không nên uống nước dừa, nhất là người đang có bệnh vì dễ bị những tác dụng phụ như sốt, ớn lạnh… Trước khi thi đấu thể thao, không nên uống nước dừa. Bình thường, mỗi ngày chỉ nên uống một quả. Uống nhiều sẽ gây đầy bụng, nhất là khi có kèm cơm dừa nạo, đá lạnh và uống vào chiều tối.


Theo Hoa quả chữa bệnh - Trung Quốc

Thứ Bảy, 9 tháng 6, 2012

Hai Mắt là Ngọc…

Ðôi mắt đã được gọi bằng nhiều tên rất biểu tượng như là đôi mắt huyền, mắt nhung, mắt biếc, mắt buồn tênh, mắt nai tơ, mắt tình nhân, mắt thù hận, mắt bạc tình, mắt dao cau, mắt sắc như dao, mắt bơ vơ, mắt xanh, mắt lá dăm, mắt toét....

Ciceron có nói: “ Khuôn mặt là chân dung của tâm hồn mà đôi mắt là để diễn tả”
Cùng nhận xét này, Mạnh Tử góp ý “ Bụng ngay thẳng thì con ngươi trông sáng tỏ. Bụng đầy tà khúc thì con ngươi mờ đục, tối tăm”.
Rừng thơ có cả nhiều ngàn câu nói đến đôi mắt.


Xin ghi lại
“Mắt Biếc” của Bích Khê diễn tả nhiều khả năng đáng yêu của mắt:
“Ôi! cặp mắt của người trong tơ ngoc
Sáng như gươm và chấp chóa kim cương
Mỗi cái ngó là một vì sao mọc!
Mỗi liếc yêu lá phảng phất nùi hương.
Hai mắt ấy chói hòa quang sáng ngợp
Dẫn hồn ta vào thế giới thiêng liêng.
Hớp nhiều trăng cho niềm trinh rất ngớp
Say nhạc hường nổi bồng giữa đào nguyên”
và của Trịnh Công Sơn với “ Những con mắt trần gian” :
“Những con mắt tình nhân, Nuôi ta biết nồng nàn
Những con mắt thù hận, Cho ta đời lạnh câm
Những con mắt cỏ non, Xanh cây trái địa đàng
Những con mắt bạc tình, Cháy tan ngày thần tiên...”

Một cách thực tế, Addison nhận xét: “Trong tất cả các giác quan, thị giác toàn hảo và thích thú nhất”.
Người mình vẫn so sánh: “Hai mắt là ngọc, hai tay là vàng”.
Thực vậy, mắt là vật sở hữu quý giá nhất của con người mà cho tới nay chưa có cách nào để thay thế toàn bộ được. Người ta có thể thay tim, thay thận, thay gan nhưng mắt chỉ mới thay được giác mạc, thủy tinh thể mà thôi.
Mắt là cơ quan để thu hình ảnh và nhìn sự vật, như một chiếc máy ảnh, nhưng với một cấu trúc tinh vi và những khả năng hoàn hảo gấp bội.



Ðôi mắt
a-Nhãn cầu là bộ phận phần chính của mắt nằm trong ổ mắt và được mi mắt bảo vệ ở phía trước. Ổ mắt do các xương gò má, xương trán, xương sống mũi họp thành. Ðây là một khối hình cầu mà kích thước do di truyền quyết định. Khi mới sinh ra, trẻ nhìn xa rõ hơn vì nhãn cầu nhỏ. Tới giai đoạn tăng trưởng, trẻ nào có nhãn cầu to do di truyền sẽ nhìn gần rõ ràng hơn. Tuổi tăng trưởng lại trùng vào thời gian bắt đầu đi học, nên các em này thường hay bị cận thị. Vì vậy, cận thị thị được “cho là” do đọc sách nhiều, ngồi gần màn hình tivi, đọc sách thiếu ánh sáng...
Phía ngoài của mắt là 6 bắp thịt nhỏ, dài để di động nhãn cầu nhìn về nhiều phía.
b-Mi mắt là một lớp da với nhiều cơ và mô liên kết lót bằng kết mạc. Mi mắt nhắm lại khi giác mạc bị kích thích, đe dọa hiểm nguy. Viền quanh mi mắt là hai hàng lông mi để ngăn vật lạ bay vào mắt và chớp chớp khi bẽn lẽn tình yêu. Một hàng lông mày nằm phía trên mắt ngăn mồi hội, chất lỏng chấy vào mắt.
Nằm dưới mi mắt trên là những tuyến, tiết ra nước mằn mặn để mắt khỏi khô. Mắt thông với miệng bằng một cái ống nhỏ nằm ở góc trong mi mắt. Cạnh mi có nhiều tuyến tiết ra chất nhờn, mồ hôi...
Mi mắt chớp mở mỗi vài giây, có tác dụng như cặp gạt nước kính xe hơi, để loại bỏ bụi bặm bám trên giác mạc. Ðêm ngủ, mi mắt khép kín để giác mạc khỏi bị khô.
Lâu lâu nhiều người hay nháy mi mắt và e ngại đó là triệu chứng của bệnh tật. Thực ra, đây chỉ là sự co giựt của cơ trên mi mắt và thường thường xẩy ra khi cơ thể mệt mỏi, căng thẳng. Nháy mắt kéo dài trong vài giây, không nguy hại, chỉ cần thoa nhẹ lên mi một chút là hết. Ðôi khi nháy mắt liên tục cũng thấy trong bệnh đa xơ cứng (multiple sclerosis), co giựt cơ mặt (facial tic).
c- Giác mạc (cornea), phần trước của nhãn cầu, không vẩn đục, không mạch máu và rất nhậy cảm với với sự đau đớn. Phủ lên giác mạc là kết mạc (conjunctiva) trong suốt, có rất ít mạch máu.
d-Thủy tinh thể (lens) là bộ phận quan trọng tiếp nhận và hội tụ ánh sáng hình ảnh lên võng mạc (retina). Ðây là một cấu trúc hai mặt lồi, trong suốt, gồm có nước và chất đạm, nằm sau đồng tử và có thể thay đổi đô cong để mắt có thể thấy rõ sự vật.
Tinh thể dẹp xuống khi tập trung vào vật ở xa và vật nhìn nhỏ. Tinh thể dầy lên để tập trung vào vật ở gần, vật nhìn thấy to. Ðó là sự điều tiết của mắt. Khả năng này hoàn toàn tự động, con người không điều khiển được.
đ-Ánh sáng lọt qua đồng tử (pupil), một lỗ nhỏ nẳm giữa mống mắt.
e-Mống mắt (iris)là cái màng che trước thủy tinh thể. Một cơ vòng bao quanh bờ mống mắt điều khiển đồng tử thu nhỏ khi ánh sáng mạnh hoặc mở rộng khi ánh sáng yếu. Ðồng tử cũng mở rộng khi ta có cảm xúc kinh ngạc, sợ hãi hoặc hớn hở, vui mừng.
Tùy theo mống mắt có nhiều hay ít chất mầu mà có người có mắt đen, mắt xanh, mắt nâu...
g-Võng mạc (retina) là lớp tế bào nhậy cảm với ánh sáng, lót phía trong mắt. Ðây là cấu trúc căn bản của cặp mắt, có công dụng như tấm phim của máy ảnh để thu nhận và ghi lại cả ngàn hình ảnh, tĩnh cũng như động, suốt ngày này qua tháng khác mà không cần thay phim như trong máy ảnh..
Trên võng mạc có những tế bào hình nón, hình que chuyển ánh sáng ra những tín hiệu điện năng, được dây thần kinh thị giác chuyển lên não bộ. Tế bào não phân tích, tổng hợp các tín hiệu và tạo ra hình ảnh của sự vật.
Mắt còn chứa hai dung dịch lỏng rất quan trọng:
h-Thể mi (ciliary body) với nhiều cơ bắp để thay đổi độ cong của tinh thể đồng thời cũng tiết ra một chất lỏng như nước gọi là thủy dịch nằm giữa tinh thể và giác mạc. Thủy dịch có đủ các thành phần cấu tạo của máu, ngoại trừ tế bào máu.
Dung dịch thứ hai, dịch pha lê, trong suốt, nẳm giữa võng mạc và tinh thể.
Chăm sóc mắt
Nhiều người hơi lơ là trong việc giữ gìn “đôi mắt ngọc” của mình. Ðây là một thiếu sót lớn, vì một tổn thương dù nhỏ của mắt cũng có thể dần dần đưa tới khiếm khuyết thị giác.
Sau đây là một số điều nên lưu ý:
1. Ðừng bao giờ dụi mắt với những ngón tay, dù là ngón tay ngọc ngà người đẹp, huống chi lại rụi mắt với bàn tay dính đất, một cái khăn nhiễm trùng, một miếng giấy dơ bẩn...
2. Khi chẳng may có một chất kích thích nào đó, như nước sà bông, nước mắm, dầu xe hơi, mỡ...bắn vào mắt, nên lập tức tạt nước lạnh vào mắt. Tổn thương cho mắt sẽ giảm thiểu rất nhiều nếu ta làm hành động rất giản dị, sẵn có nhưng quan trọng này.
3. Mang kính bảo vệ mắt khi cắt cỏ, mài dũa kim loại, đi xe gắn máy...để tránh vật nhỏ bay vào mắt. Công nhân làm công việc có rủi ro cho mắt, cần mang lính bảo vệ mắt do chủ nhân cung cấp.
4. Không dùng thuốc nhỏ mắt của người khác, vì mỗi người có mỗi bệnh khác nhau. Ngoài ra, có nhiều loại thuốc nhỏ mắt cấm dùng trong vài bệnh nhiễm của mắt.
Nhỏ thuốc vào mắt như sau: đứng trước một tấm gương, dùng đầu ngón tay kéo nhẹ mi mắt dưới xuống, bàn tay kia bóp thuốc vào góc con mắt, buông ngón tay giữ mi, chớp mắt vài lần, thuốc sẽ lan đều khắp mắt.
5. Nhiều người, đặc biệt là quý vị cao niên, hay bị khô mắt, gây ra cảm giác rất khó chịu, lâu ngày giác mạc có thể bị trầy. Nguyên do thông thường là tuyến nước mắt tiết ra ít nước mắt hoặc ống dẫn nước mắt bị tắc nghẹt.
Nên đi khám bác sĩ để tìm nguyên nhân rồi trị liệu. Trong khi chờ đợi, có thể nhỏ các dung dịch nước mắt nhân tạo để giảm thiểu khó chịu này.
6. Nên cẩn thận với các tia cực tím từ ánh nắng mặt trời. Tiếp xúc trực tiếp và lâu ngày, các tia này có thể gây tổn thương cho giác mặc, thủy tinh thể và cũng là nguy cơ đưa tới cao áp suất trong mắt.
Thực ra, không cần phải mang kính râm mỗi lần ra ngoài nắng. Nhưng nếu làm việc hoặc đi dưới ánh nắng trong thời gian khá lâu thì nên mang kính râm đề chặn các tia tử ngoại và khỏi chói mắt. Lựa kính có độ lọc cao đối với các tia tử ngoại.
7. Nên đi bác sĩ khám mắt theo định kỳ. Nếu không có bệnh mắt, nên đi khám mỗi 5 năm, cho tới khi 50 tuổi. Sau tuổi này, nên khám thường xuyên hơn để tìm ra dấu hiệu của cao áp nhãn và các bệnh khác. Nếu có rối loạn về khúc xạ ánh sáng, nên đi khám mỗi 2 năm hoặc thường xuyên hơn, tùy theo chỉ định của bác sĩ.
Bác sĩ chỉnh mắt (optometrist) có thể khám mắt, đo thị lực, chỉ định độ nặng nhẹ của kính và, tùy theo luật lệ từng nơi, có thể điều trị mấy bệnh nhẹ của mắt.
Bác sĩ chuyên ngành nhãn khoa (ophtalmologist) đều khám, chữa tất cả các bệnh của mắt, cho toa kính mắt và giải phẫu mắt..
8. Ánh sáng khi làm việc, đọc chữ cần vừa phải, thích hợp không sáng quá hoặc tối quá để khỏi gây trở ngại cho sự nhìn. Các nhà chuyên môn về mắt đều đồng ý là cường độ ánh sáng hoặc ngồi gần màn hình tivi không gây tổn thương cho mắt.
9.Nên cẩn thận với mỹ phẩm làm đẹp mắt, vì nhiều người có thể dị ứng với các sản phẩm này. Mua một ít dùng thử,nếu an toàn thì tiếp tục.
Tránh để mỹ phẩm rớt vào mắt gây kích thích. Bôi mỹ phẩm tô đậm lông mi (mascara) vào 2/3 phần ngoài cùa lông, tránh mỹ phẩm rơi váo mắt. Kẻ bút chì xa mi mắt một chút, tránh đầu nhọn đụng vào giác mạc.
10.Cẩn thận khi xịt keo tóc, đừng để hóa chất bắn vào mắt.
11. Nhiều bác sĩ nhãn khoa đề nghị gắn lông mày giả loại lấy ra mỗi ngày được, để các tuyến nhờn mi mắt tiếp tục hoạt động bình thường. Khi uốn cong lông mi, tránh kéo mi mắt quá căng.
12. Nhiều người than phiền mỏi mắt sau mấy giờ đọc sách, coi máy vi tính hoặc làm công việc tỉ mỉ cần sự tập trung của mắt. Họ e ngại là mắt suy nhược, bị bệnh mắt hoặc cần mang kính.
Thực ra đây chỉ vì mắt phải làm việc quá khả năng chịu đựng, nên các bắp thịt mệt mỏi. Lâu lâu nên ngưng công việc, nhắm mắt vài phút, hoặc ngó lên trần nhà để nhãn cầu, cơ mắt thưgiãn.
Ngoài ra cũng nên lưu ý là nếu sức khỏe tổng quát không tốt, thiếu dinh dưỡng, mất ngủ, căng thẳng tâm thần ..cũng làm mắt mau mệt mỏi. Kính mắt chỉ để điều chỉnh khiếm khuyết về khúc xạ ánh sáng của nhãn cầu chứ không làm mắt mạnh hơn hay yếu đi.
13. Mắt đỏ cũng là mối ưu tư của nhiều người. Bình thường, trên giác mạc có một số mạch máu nhỏ xíu phủ lên. Khi nhiễm vi khuẩn, dưới tác hại của khói thuốc, hóa chất trong môi trường, uống nhiều rượu, làm việc bằng mắt quá lâu hoặc khi “nộ khí sung thiên”, tức giận... đều làm cho máu tụ lại nhiều, mắt sẽ đỏ lên...
Khi đỏ mắt do nhiễm bệnh hoặc gây ra do hóa chất cần đi bác sĩ để điều trị. Còn các trường hợp khác, chỉ cần dùng nước lạnh tạt vô mắt hoặc đắp khăn nước lạnh dăm phút lên mắt là có thể làm giảm đỏ mắt.
14. Duy trì chế độ ăn uống hợp lý, đa dạng, cân bằng có đầy đủ các chất dinh dưỡng, đặc biệt các sinh tố A, C, E., các khoáng chất kẽm, selenium...
Và đặc biệt là giữ tâm thân an lạc, giảm thiểu lo âu, buồn bực, ham muốn, giận hờn, ghen tức, đố kỵ...
“Trời sinh con mắt là gương
Người ghét ít ngó, người thương ngó hoài - ca dao.
Vì “ Ðôi mắt là cửa sổ của tâm hồn”, nhìn vào thấy hết...
Bác sĩ Nguyễn Ý Ðức, Texas-Hoa Kỳ

Thứ Hai, 4 tháng 6, 2012

Bạn biết gì huyệt Sinh Lý?

Thật sự về Đông Y , chúng ta thừa hưởng nhiều di sản quý báu của tiền nhân để lại.
Có nhiều thầy thuốc Đông Y người Trung quốc sang đây để chữa bệnh cho những người Minh hương cư ngụ tại đất Việt từ xưa . Có thầy thuốc Đông Y người Việt , sang Trung quốc học hỏi , rồi đem về truyền nghề lại cho dân Việt .
Đồng thời nước Việt có rất nhiều cây thuốc mà Đông Y Sỉ rất thích xử dụng.
Chúng ta có nhiều sách vở viết về Đông Y , nhưng đa số đều dùng từ ngữ Hán-Nôm mà người ngoài đều không hiểu tường tận ra làm sao.
Sau đây chúng tôi sai y lại danh từ Đông Y sang Việt ngữ ( một số thôi ) , ngỏ hầu chúng ta biết một tí ti về danh từ Đông Y ra sao.

Kinh Tâm ( là đường kinh hướng về trái tim ) , gồm có 9 huyệt :
KINH TÂM - có 9 huyệt
1 - CỰC TUYỀN : Cực = Nơi tận cùng. Tuyền = con suối (Hố nách)
2 - THANH LINH : Thanh = xanh. Linh = hiệu nghiệm
3 - THIẾU HẢI : Thiếu = chưa đủ, chưa lớn. Hải = hội tụ của các cửa sông.
4 - LINH ĐẠO : Hiệu nghiệm = LINH; nóng hay lạnh trong xương cốt, chính huyệt nầy > khi tác động sẽ giải tỏa (ĐẠO = dường dẫn)
5 - THÔNG LÝ : Liền với = THÔNG; bên trong, Tiểu trường = LÝ
6 - ÂM KHÍCH : Âm = mặt bên trong - thuộc âm. Khích = kích thích
7 - THẦN MÔN : Thần = Hồn = Tâm = Vía= Phách... Môn = cửa ra vô.
8 - THIẾU PHỦ : còn bé = THIẾU; nơi ở, nhà lớn = PHỦ.
9 - THIẾU XUNG : Huyệt cuối cùng của Thủ Thiếu Âm Kinh. Xung = nơi quan yếu.
(Ở ngón tay út, phía tay quay, cách gốc móng tay 0,1 thốn. Trên đường tiếp giáp da gan tay - mu tay)


Kinh Phế ( là đường Kinh hướng về Phổi ) , gồm có 11 huyệt
KINH PHẾ - có 11 huyệt
1 - TRUNG PHỦ : Ở giữa;= TRUNG; Nơi hội tụ, cái nhà lớn = PHỦ.
2 - VÂN MÔN : Hơi nước, mây = VÂN; Cửa ra vào = MÔN - cửa ra vào của khí trời.
3 - THIÊN PHỦ : Khí tự nhiên, khí trời = THIÊN; nhà lớn = PHỦ. Nơi chứa khí trời.
4 - HIỆP BẠCH : Đến gần = HIỆP; BẠCH = Trắng; nơi gần chỗ của cơ nhị đầu cánh tay, chỗ thịt màu trắng.
5 - XÍCH TRẠCH : Đơn vị đo = XÍCH; Cái ao = TRẠCH.Nơi trũng cách lằn chỉ cổ tay 1 xích.
6 - KHỘNG TỐI : Cái mũi = KHỔNG; tới - lui = TỐI. Dẫn đến mũi, thông phế khí.
7 - LIỆT KHUYẾT : Tách ra = LIỆT (Liệt vị, trong bóng đá); Nơi lõm vào, chỗ trũng = KHUYẾT. Chỗ lõm trên mỏm xương quay.
8 - THÁI UYÊN : Quá, nhiều = THÁI; rất sâu, chỗ lõm = UYÊN (uyên bác = hiểu sâu).
9 - KINH CỪ : Đường lưu hành của khí = KINH; sự đau, khó chịu = CỪ (cừ rừ).
10 - NGƯ TẾ : Con cá = NGƯ; bày lên, bày ra nơi cao = TẾ (trong tế và lễ = dâng cúng).
11 - THIẾU THƯƠNG : Còn nhỏ, còn non = THIẾU; Âm - tiếng có trường độ cao - (cung thương là tiếng mẹ) = THƯƠNG. Nơi cuối của Kinh khí (Phế khí).

Nhưng tựu trung có 2 Kinh vô cùng quan trọng là Kinh Nội Quan và Kinh Ngoại Quan .
Nội quan là Nội = bên trong , Quan = là thành quách quan ải .
Kinh nầy kích thích chất kích thích tố ( ta gọi là hormone ).
Động đến kinh nầy sẽ kích thích cơ thể tiết ra nhiều hormone hơn bình thường.
Tây Y rất quan trọng về chất kích thích tố nầy . Họ , Tây Y muốn tạo cho nhiều kích thích tố ( hormone ) thì họ dẩn chúng ta đến sự xử dụng Vitamins…Như Vitamin A, B,C , D, E….và những chất minerals .
Thì Đông Y cũng vậy , thầy thuốc Đông Y hướng chúng ta ăn những món thực phẩm cần cho cơ thể…như dùng gà ác ( gà đen ) hoặc uống rể cây mà Đông Y sỉ biết dược liệu có thể tạo ra chất hormone vậy .
Đó là Kinh Nội Quan là vậy.
Sau đó có Kinh Ngoại Quan ( là bên ngoài thành quách , quan ải ) là chú trọng đến Kinh Huyệt bên ngoài mặt …
Đông Y sỉ rất sợ bệnh nhân vướng một trong Tứ độc ( 4 độc ) , gồm có :
1.- Không nói được
2.- Không thấy được
3.- Không cử động được
4.- Không nghe được .
Vì cướng vào Tứ độc thì Dông Y sỉ cứu chữa bệnh nhân rất cực khổ vô cùng.
Tây Y và Đông Y đều chung quan niệm khi mới chớm bệnh thì nên đem bệnh nhân đến thầy thuốc lập tức , đừng để bệnh nhân quá thời hạn cứu chữa.
Đông Y không có danh từ Sinh Lý , vì chúng tôi muốn gọi thêm cho dể hiểu mà thôi .
Sinh Lý nơi đây là nói đến sự sinh lý , hoạt động liên quan đến tình dục giữa Nam và Nữ vậy .
Đối với những người tu hành thì huyệt Sinh Lý cần phải dẹp bỏ , không thể kích thích huyệt sinh lý nầy được .
Như chúng tôi trình bày trước đó , huyệt Nội Quan là huyệt rất quan trọng.
Khi mà địch nhập quan là kể như thành trì quan ải đó “ xong rồi “.
Đông Y Sỉ khi học nghề thuốc và hành nghề cứu nhân độ thế thì huyệt nầy bắt buộc Y sỉ phải nằm lòng.
Nội quan là huyệt có phạm vi sử dụng rất rộng rãi. nó là huyệt Lạc nối với kinh Tam tiêu, còn thông qua giao hội với mạch âm duy liên lạc với lục kinh ở vùng ngực. bụng. đặc biệt có quan hệ mật thiết với kinh Nhâm, Xung, Can, Phế.
Theo "Giáp Ất kinh" nó cũng là một trong "Bát mạch giao hội huyệt". ( Nên nhớ ý nghĩa của chữ Hán là Kinh Giáp Ất là kinh quan trọng nhật . Như Giáp , Ât`, Bính Định , Mậu Kỷ , Canh Tân , Nhâm Quý ..Giáp Ất đứng đầu bảng . Đông Y Sỉ phài học thuộc nằm lòng Giáp Ất Kinh bí quyết nầy )
Bởi vậy, nó có tác dụng điều chỉnh hữu hiệu các rối loạn bệnh lý ở ngực, sườn, phổi, họng, thực quản, dạ dày tạo nên những công dụng đặc trưng của nó.
1.- Đối với bệnh lý Hô hấp . Nó trị được bệnh thuộc về hô hấp , như hen suyển , khó thở , nghẹt thở .
2.- Đối với hệ thống tim mạch , Nó trị được bệnh áp huyết cao , loạn nhịp tim , xây xẩm mặt mày .
3.- Đối với hệ thống tiêu hóa . Nó trị được hệ thống dạ dày , đường ruột , cầm được tiêu chảy .
4.- Đối với hệ thần kinh . Nó trấn áp được hệ thần kinh , làm cho bệnh nhân trở lại điều hòa .
Điều đặc biệt là nó trấn áp được chứng xuất tinh sớm của những người “ vừa đi đến chợ thì đã hết tiền “…
Dẩn giãi thêm :
Tại sao gọi là “nội quan”? “nội” có nghĩa là bên trong, “quan” có nghĩa là cửa ải, huyệt này là nơi cửa ải quan trọng phía trong nơi kinh khí vào ra, cho nên gọi là nội quan (trái với huyệt ngoại quan).


Nội quan là một huyệt vị rất thông dụng trong châm cứu, nằm trên đường kinh thủ quyết âm tâm bào, có công dụng ích tâm an thần, hòa vị giáng nghịch, khoan hung lý khí, trấn tĩnh chỉ thống, thường được dùng để chữa các chứng bệnh như đau cẳng tay, viêm khớp cổ tay, viêm cơ tim, thiểu năng tuần hoàn động mạch vành tim, suy nhược thần kinh, liệt bại chi trên, viêm loét dạ dày tá tràng... và xuất tinh sớm (đông y gọi là tảo tiết).
Vậy cách xác định vị trí của huyệt và phương thức tác động như thế nào? Nội quan nằm ở mặt trước cẳng tay, giữa hai gân cơ gan tay lớn và gan tay bé (gấp bàn tay vào cẳng tay và nghiêng bàn tay vào phía trong cho nổi rõ khe cơ), trên nếp gấp khớp cổ tay 2 thốn, mỗi bên một huyệt.


Khi tác động, dùng ngón tay cái day bấm lần lượt từng bên, mỗi bên trong 2 phút với một lực tương đối mạnh sao cho đạt cảm giác căng tức, tê nặng lan xuống bàn tay là được.
Mỗi ngày day bấm 2 lần, tốt nhất là vào buổi sáng khi ngủ dậy và buổi tối trước khi đi ngủ.
Khi sinh hoạt vợ chồng, người vợ dùng hai ngón tay cái của mình đặt vào hai huyệt nội quan của người chồng và day bấm liên tục với một lực vừa phải.
Mỗi khi người chồng có cảm giác như đang sắp xuất tinh thì người vợ lập tức bấm vào hai huyệt với một lực khá mạnh.
Đương nhiên điều này đòi hỏi giữa hai người phải có sự phối hợp nhịp nhàng và kịp thời.
Nếu hiệu quả đạt được chưa thật sự mĩ mãn thì hằng ngày có thể kết hợp day bấm thêm huyệt hội âm.
Huyệt vị này nằm ở giữa bìu và hậu môn, là nơi hội tụ của các nếp da chạy từ hậu môn, phần sinh dục ngoài và hai bên háng tới, có công dụng bổ thận cố tinh, thanh lợi thấp nhiệt.
Phương thức tác động: dùng ngón tay giữa day bấm huyệt với một lực vừa phải trong 2 phút.
Trong lúc sinh hoạt vợ chồng, khi có cảm giác sắp xuất tinh, người chồng tự mình dùng ngón tay trỏ hoặc ngón tay giữa bấm huyệt vị này một lực thật mạnh thì hiệu quả sẽ chắc chắn hơn.

Dược liệu trị bệnh tiểu đường ( Diabetes ) hiệu nghiệm bất ngờ

Chúng ta sống trong thế kỷ điện tử , rộn rịp không ngừng nghỉ được một giây.
Nhiều bệnh lạ xuất hiện , nhiều thuốc hay sáng chế ra được.
Nhưng chúng ta vướng một trong 2 căn bệnh mà ngày xưa và ngày nay khó lòng trị dứt.
Đó là bệnh cao máu ( hypertension) và bệnh tiểu đường ( diabetes).
Hiện nay thuốc tây trị bệnh cao máu thì thuốc của Nhật tung ra và được cơ quan FDA Hoaky chấp thuận dể dàng . Đó là loại thuốc mang tên Benicar HCT ( olmesartan medoxomil.Hydrochlorothiazide ) mới nhất. Thông thường những người bị bệnh cao máu họ uống 2 loại thuốc mà thuốc làm khó chịu nhất là thuốc lợi tiểu . Nghĩa là tăng lượng nước tiểu nhiều hơn thường lệ. Cho nên ban đêm là một cực hình khi phải đi tiểu tiện đối với người lớn tuổi.
Nay với thuốc trên từ Nhật bán khá chạy tại Hoaky thì miễn được loại thuốc lợi tiểu nói trên , nghĩa là mỗi ngày chỉ cần 1 viên Benicar HCT là đủ rồi.
Thuốc nầy do hãng Dược phẫm của Nhật mang tên Daichi-Sankyo . Hãng nầy nổi tiếng chế tạo ra thuốc dán nhức mõi mà dân Á Châu ưa chuộng là Salonpas.
Trở lại bệnh tiểu đường…
Bệnh nầy nếu càng để lâu không ngăn ngừa kiêng khem thì vô cùng nguy hiểm.
Biến chứng chót là bệnh nhân bị mù hẳn và chết trong sự đau đớn vô cùng…
Thuốc Ta , thuốc Bắc , thuốc Tây hầu như không trị hết bệnh nầy.
Tại Hoaky dân chúng sợ nhất bệnh nầy. Hàng ngày trên Tivi nghe khuyến mãi nhiều loại thuốc trị bệnh tiểu đường,.
Còn trường học Trung học Hoaky ( nhất là California ) thì chánh phủ không cho học trò tiêu thụ uống nước ngọt trong trường học nữa.
Những máy bán nước ngọt như Coca Cola , 7Up….đều bị dẹp bỏ mà thay thế bằng những máy bán nước lọc , được đặt tại góc sân chơi của học trò.
Nhưng có một loại được thảo mà vô cùng hiệu nghiệm trị bệnh tiểu đường đó là hạt Methi hay hạt Fenugreek , dân Việt gọi làhạt của cỏ cà ri.





Dân Ấn thường xuyên trộn bột nầy trong cơm, ta gọi là cơm nị vậy.
Họ làm bánh luôn.



Bạn nên xử dụng bột hay hat Methi nầy cho sự trị liệu bệnh tiểu đường. Cho dù không cò bệnh mà dùng cũng vô hại vì người Ấn ho5 trộn với cơm hay trộn với bột cà ri mà làm cà ri.
Cỏ cà ri cí thể ăn sống như rau xà-lách soon vậy.
Bột Mehti có bán sẳn tại các tiệm thuốc Vitamin khắp nơi , muốn rẻ bạn đến chợ siêu thị Á Đông hay tiệm bán gia vị của người Ấn thì rất rẻ nhiều lần hơn.



(Theo Forum vietsciences)

Thứ Năm, 31 tháng 5, 2012

Ngoại tình là bản năng của giống cái

Cha đẻ của học thuyết tiến hóa - Darwin cho rằng trong thế giới động vật, con đực thường tham lam tình dục nên cần có nhiều con cái, còn con cái giữ gìn hơn nên chỉ cần một con đực. Nghiên cứu cả loài vật lẫn loài người ngày nay đặt lại cách nhìn trọng nam đó cho thấy hiện tượng “không chung thủy” ở con cái là sự chọn lọc tình dục (sélection sexuelle) có lợi cho sự tiến hóa.

Kết luận về sự chọn lọc tình dục từ thế giới động vật này từng giúp người ta xác nhận bản năng ấy có ích lợi cho sự lưu truyền nòi giống, thế nhưng, mọi sự bị đảo lộn khi vào những năm đầu thập niên 80 thế kỷ XX, nhà Linh trưởng học ở Mỹ, bà Blatter Hardy công bố kết quả nghiên cứu mới: Không chỉ những con đực mới đánh nhau để tranh giành con cái mà vẫn thường xảy ra cuộc đụng độ giữa các con cái tranh nhau con đực.

Con cái cần “quý hồ tinh”

Charles Darwin đã viết như sau: “Con cái ít ham muốn làm tình hơn con đực. Nó rụt rè muốn được tán tỉnh, đeo đuổi, và người ta thấy nó tìm cách chạy trốn hồi lâu”, và cứ thế cho đến khi nó chọn được “con đực tốt nhất”, và nhờ vậy nó đã truyền lại những tính cách ưu việt cho con cái của nó; trừ phi nó phải phục tùng quy luật của kẻ mạnh nhất, do con đực vượt trội nhất đàn đã loại bỏ các con đực khác ra rìa và không còn để cho nó có được sự lựa chọn nào khác. Đối với cha đẻ thuyết tiến hóa Darwin, luận thuyết về chọn lọc tình dục là lý luận thích đáng hơn cả đối với chính bản thân sự tiến hóa của loài người. Năm 1879 ông đã đặt tên cho một tác phẩm của mình là “Quan hệ nòi giống của con người và sự chọn lọc gắn với tình dục”. Để viết cuốn sách này ông không chỉ dựa vào các quan sát của bản thân mà sử dụng cả nhiều chứng cứ đến từ mọi vùng của Đế chế Anh lúc bấy giờ, đang ở đỉnh cao phát triển của nó. Chúng đều mang một nhãn quan trọng nam, trọng đực: các nhà nghiên cứu đều là đàn ông, họ ở vào cái thời đại Victoria (1837 - 1901), một thời đại thịnh trị dưới quyền uy của một nữ hoàng, nhưng lại là cái thời mà người phụ nữ “phải là một kiệt tác của sự khiêm nhường.”

Đến giữa thế kỷ XX, các công trình nghiên cứu về di truyền học lại củng cố thêm giả thuyết của Darwin. Các thí nghiệm trên giống ruồi giấm (drosophile, giống ruồi nhỏ mầu hơi đỏ, thích đậu vào giấm và các trái cây lên men, thường được dùng trong di truyền học để nghiên cứu nhiễm sắc thể và các đột biến) lại đưa đến kết luận rằng những con đực hoàn thiện sự đại diện di truyền học của mình bằng cách làm tình với càng nhiều đối tác càng tốt, trong khi đó các con cái không có lợi gì trong chuyện đó cả. Ngoại suy từ loài vật đến con người, nhà sinh vật học Angus John Bateman kết luận rằng gần như luôn luôn có “một sự tham lam không phân biệt ở con đực và một sự thụ động nhưng có sự phân biệt ở các con cái.”

Và ngay trong một giống, loài đã trở thành một vợ một chồng (như con người), ta vẫn được thấy sự khác biệt giới tính đó tồn tại như một quy tắc. Theo ông Bateman, tinh trùng của con đực được sản sinh ra cơ man và con đực càng phóng chúng đi nhiều bao nhiêu thì nó càng có nhiều con. Ngược lại, con cái sản sinh ra trứng ít hơn và đầu tư nhiều năng lượng cho mỗi trứng. Và một kết luận hợp lý, theo ông ta: tất cả những gì mà con cái cần là một con đực tốt giống để giúp nó thụ thai và sinh sản, và mang lại những cơ may tốt nhất cho đàn con.

Cái nguyên lý trên của Bateman đã trở thành một thứ lẽ hiển nhiên trong sinh học ứng xử, nhưng giờ đây đã và đang bị phản bác mạnh mẽ. Người đã đi tiên phong trong việc đặt lại vấn đề là Sarah Blaffer Hardy, nhà linh trưởng học và nhân loại học Mỹ, một trong những người đầu tiên đã phá bỏ các cấm kỵ về bản chất tình dục phụ nữ. Theo bà, “lý luận về sự chọn lọc tình dục vẫn là một trong những thành tựu quý giá của sinh học tiến hóa luận; nhưng cấp thiết phải xem xét lại việc nó được ứng dụng cho các con cái”. Ngay từ những năm 1980, bà ta đã cho xuất bản một công trình mang tựa đề “Đàn bà trước giờ không bao giờ tiến hóa” (Femme qui n'évoluait jamais), với một luận đề “đập tan ấn tượng bất di bất dịch về những con cái thụ động”, như lời tạp chí Sciences et Avenir. Nhà nữ nghiên cứu đã miêu tả trong tác phẩm của mình những mời chào thèm muốn của các con langur cái sống “cấm cung”, về phía những con đực khác ngoài con đực của nó (langur là một giống vượn to có đuôi rất dài). Nhà nữ khoa học đã miêu tả những con cái đã mang bầu nhưng vẫn làm tình ra sao với con đực chiếm ưu thế mới trong bầy, cứ mỗi lần có sự thay đổi quyền lực. Và bà ta cuối cùng mặc nhiên nhận rằng sở dĩ các con vượn cái đó đã hành sử như vậy là vì chúng muốn làm rối loạn các dấu vết về quan hệ cho con có thể để lại và như thế sẽ tránh được việc giết chết các con khỉ sơ sinh, như vẫn thường thấy trong cộng đồng loài vật này. Còn trong trường hợp con đực đứng đầu mới đã làm tình với con cái (đã có bầu), nó sẽ lưỡng lự trong việc tàn sát, vì ngộ nhỡ giết chết con của chính mình.


Quan niệm phản bác dần dần thắng thế

Phải nói rằng vào thời đó - Đầu những năm 80 của thế kỷ XX - đưa ra các miêu tả và những kết luận như trên quả là việc làm táo bạo, dũng cảm nữa, khi mà - như lời tự bạch của Blaffer Hardy với tạp chí khoa học trên - “ai đó nói đến những từ cực khoái hay âm hạch - dù chỉ là của các con tinh tinh đười ươi - thì cũng nên trên 50 tuổi, có bộ mặt nghiêm khắc và khoác áo choàng trắng của phòng thí nghiệm!”. Ý tưởng về hiện tượng không chung thủy của các con vật cái mà bà ta đưa ra lúc bấy giờ, coi nó có giá trị thích ứng, đã được đón nhận với một sự hoài nghi lớn; và sự phản đối lớn đến mức bà ta lo ngại sự nghiệp nghiên cứu ở đại học đang hứa hẹn của mình có cơ bị chấm hết. Trong một thời gian khá dài bà như bị cho ra rìa, nhưng rồi dần dà các đồng nghiệp của bà, nhất là các đồng nghiệp nữ, ngày một miêu tả đông đảo hơn các dạng hành vi ứng xử tình dục của các con cái quan hệ với nhiều con đực và tích cực trong sinh hoạt tình dục.

Được nói đến nhiều là hiện tượng không chung thủy, chạy đi tìm đực - được gọi bằng cụm từ “lang thang tình dục” - Ở các loài khỉ, từ giống đại tinh tinh (chimpanzé) đến khỉ nhiệt đới (macaque), vượn lớn châu Phi (babouin) và nhiều giống khác nữa. Ở hầu hết các giống khỉ trên đều có tập tục là con cái sống riêng theo kiểu “hậu cung”, nên việc thoát đi lang thang “ăn vụng” thường xảy ra. Và ở các giống như bonobos, còn thấy phổ biến các hiện tượng thủ dâm và đồng tính luyến ái. Sarah Blaffer Hardy đã viết như sau trong một tác phẩm của bà: “Chúng ta chia xẻ những xung động không chung thủy” với phần lớn các “chị em họ” linh trưởng và loại vượn người, chúng kém kín đáo hơn chúng ta, thường phô trương chỗ phồng đo đỏ của chúng.” Vào các thời kỳ đó, cũng theo nhà nữ nghiên cứu này của Đại học California - Davis, “các con cái babouins và langurs không ngần ngại - khi con đực trội thế nhất đàn quay lưng đi - chạy theo làm tình với các con đực trẻ.” Và nhà sinh học kiêm xã hội học nữ đã xác tín: “những gì mà ta quan sát thấy ở con khỉ cái cho chúng ta biết được nhiều điều về sinh hoạt tình dục của phụ nữ cùng sự tiến hóa của nó”. Theo bà, không chỉ các con cái ở loài khỉ là giống vật duy nhất có lối ứng xử tình dục như vậy, mà chuyện đó phổ biến ở nhiều giống loài, như được minh chứng qua cả một loạt công trình nghiên cứu và xuất bản trong những năm sau này, chúng “đang ra sức làm tan biến các ngộ nhận mang tính chất trọng nam sâu sắc về bản chất thật của những con cái, thuộc loài động vật có vú hay các loài khác. Đến độ rồi ra có thể sẽ phải xem xét và viết lại các sách giáo khoa.” Có rất nhiều điều ngược lại hẳn những gì mà ta tưởng – thậm chí đinh ninh – bấy lâu nay. Chẳng hạn như ta chỉ nghĩ rằng chỉ có những con đực mới đánh nhau để tranh giành con cái. Kỳ thực vẫn có cả những cuộc chiến giữa các con cái kình địch tranh nhau con đực, chứ không hề tranh nhau vì cái ăn, như người ta có thể lầm tưởng.

Trong nhiều cộng đồng các con linh dương ở Tây châu Phi, người ta thấy những con đực tụ tập lại trong khu vực phô diễn trong mùa động đực, tất cả đều với vẻ tò mò thích thú, còn các con cái thì chọn bạn tình bằng cách...đánh nhau, để tranh lấy sự ưu ái của những con đực ưu tú nhất về mặt sinh dục. Và thường thì đấy là những con đực già, to khỏe hơn, có bộ mặt đen đủi hơn. Các nhà nghiên cứu cũng quan sát thấy những con cái đến cắt ngang một cách thô bạo một cuộc giao hợp của một con cái khác và nhảy vào thay chỗ con vừa bị nó cho ra rìa. Trước đây người ta vẫn nghĩ rằng chuyện đó chỉ xảy ra với những con đực. Vấn đề là còn phải hiểu gốc gác chuyện đó.

Nói chung, khi các con đực gia tăng các quan hệ tình dục với nhiều con cái, thì điều đó - như ta đã biết - cũng sẽ làm gia tăng các cơ may có nhiều đứa con, tức truyền lại được gène của mình, với điều kiện là đàn con sống sót. Còn đối với các con cái, sự không chung thủy đúng hơn được gắn kết một kiểu “đánh bắt gène” (pêche aux gènes): - Trước hết, lối đi lang thang quan hệ tình dục có thể làm tránh được một quan hệ huyết tộc nào đó và hóa ra lại là có tính cách lành mạnh đối với bầy đàn nhất là đối với các loài mà các con cái sống theo kiểu “hậu cung”. Một nghiên cứu mới đây trên các con dế (criquet; tên khoa học La Tinh: gryllus bimaculatus) do các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Leeds tiến hành cho thấy - do một cơ chế mà hiện vẫn chưa biết rõ, các con cái của loài này có thể sử dụng một cách có chọn lọc tinh trùng. Giao cấu được với nhiều con đực, nó có thể chọn lọc được các tinh trùng tốt nhất. Các nhà nghiên cứu gọi đó là một thứ phân biệt, tách bạch tích cực. Hoogland, nhà nghiên cứu thuộc đại học Maryland cũng chứng minh được rằng những con cái của giống cầy ở Bắc Mỹ (chiens de prairie) thường làm tình với nhiều con đực, không chỉ làm gia tăng cơ may được mang thai, mà còn đẻ ra một bầy con có sức khỏe tốt hơn là đám con của những con cái chỉ bằng lòng với một con đực. Những công trình nghiên cứu tương tự với loài kỳ đà sống trên cát (lézard des sables; tên khoa học Lacerta agilis) hay loài rắn lục có mõm tròn hơi đen (vipère péliade; tên khoa học: Vipera berus) cũng cho những kết quả tương tự. Cũng theo ý hướng khảo nghiệm trên với các con bọ cạp, hai nhà sinh vật học thuộc Đại học Nevada, Jeanne và David Zeh, cùng đạt được những kết quả khẳng định chính “những con cái nhẹ dạ (volage) lại được hưởng lợi về mặt di truyền.”


Sự lang chạ của con cái giúp truyền giống tốt hơn?

Đặc biệt thú vị là nghiên cứu của Nick Davies, nhà sinh thái học ứng xử thuộc Đại học Cambridge (Anh) với những con mái của loài chim bông lau (fauvette) “nhẹ dạ và tính toán” ứng xử “mánh khóe” với các con trống. Nhà nghiên cứu này đã phát hiện ra rằng các con chim bông lau trống vẫn nhớ những lần làm tình với con mái. Chúng dùng “thông tin” đó như một dấu chỉ để quyết định “có nên giúp con mái nuôi đàn con mới nở hay không. Ông ta quan sát thấy: “Số lần mớm thức ăn mà một con trống mang lại cho các con chim con của nó có liên quan đến những dịp nó giao cấu với con mẹ trong kỳ mang thai cuối cùng”. Các nghiên cứu AND cho thấy thường thì con trống nhận ra đúng con mình nhưng không phải bao giờ cũng đúng. Nói một cách khác, những con chim mái – mẹ giao cấu với nhiều con trống, củng cố sự thành công sinh thực của mình bằng cách sắp đặt bằng mánh khóe “thông tin” cho những con trống bố theo đó để sử dụng.

Ngoại suy từ loài vật đến loài người, các nhà nghiên cứu đã tiến hành những nghiên cứu công phu và khá kỳ thú. Steve Beckerman thuộc Đại học Penn State (Mỹ) và Paul Valentine thuộc Đại học Londres (Anh), dựa trên các công trình khảo cứu tiến hành từ hai mươi năm nay do các nhà dân tộc học ưu tú, đã cho biết: tại nhiều xã hội thị tộc ở Nam Mỹ - điển hình nhất là ở thị tộc người da đỏ Ache, tại Paraguay - phụ nữ có vai trò ưu thế, và họ tự do đi lại với nhiều tình nhân, được coi như những “cha thứ yếu” và là thành phần của mạng lưới gia đình (thường rất đông trẻ. Họ làm được chuyện trên với sự hỗ trợ của một thần thoại sinh học rất phổ biến ở châu Mỹ La Tinh, theo đó bào thai được cấu thành bởi tinh trùng của nhiều người đàn ông. Hiện tượng quan hệ tình dục trên lại có tác dụng tích cực về mặt xã hội: nó giúp trẻ em có được nhiều lương thực hơn, từ quà cáp của các “cha phụ”. Theo thống kê của nhà nhân loại học Kim Hill, 63% trẻ em ở thị tốc Ache có một hay hai “cha phụ”. (Các nhà nghiên cứu cũng so sánh với tình hình ngược lại tại Colombie, một xã hội cổ truyền trong đó đàn ông chiếm địa vị ưu thế, những trẻ em có quan hệ cha con không rõ ràng thường bị bạc đãi như loại người ti tiện và thường chết sớm). Huyền thoại một bào thai từ tinh trùng của nhiều đàn ông cũng được thấy ở châu Phi và châu Đại Dương. Hình thành một mô hình cung cấp lương thực cho gia đình do các đàn ông tình nhân của người mẹ, rất gần với mô hình nuôi đàn con của các con mái bông lau đến kỳ lạ. Với con người, mô hình cung dưỡng trẻ kiểu trên ngày càng lan rộng khắp hành tinh, ở mọi cộng đồng sinh sống trong sự nghèo khó. Cũng có người vội cho rằng tình hình trên là hậu quả và mặt trái của phong trào đòi bình quyền cho nữ giới hay của việc phổ cập sử dụng ngừa tránh thai; kỳ thực, như lời Sarah Blaffer Hardy, “các mô hình giao cấu đa phụ đáp ứng cho những điều kiện nhân khẩu học và kinh tế đặc biệt, xa xưa hơn nhiều so với phong trào nữ quyền và sử dụng viên tránh thai”.

Càng về thời gian sau này, việc làm test AND được sử dụng ngày một phổ biến, qua đó phát hiện ra tình trạng trẻ con sinh ra do ngoại tình ở nhiều nước (từ 1 đến 10% ở Mỹ và Thụy Điển, 5,9% ở Anh...). Có một câu chuyện thú vị: thử kiểm tra gène của dòng họ được di chứng lại qua nhiều trăm năm, nhà di truyền học Bryan Sykes (thuộc Đại học Oxford) đã phát hiện ra rằng một nửa số người của dòng họ Sykes không mang gène riêng biệt của dòng họ. Và qua đó ông thấy được kết quả của sự không chung thủy trong đời sống gia đình của những bà vợ: trên 700 năm, ở mỗi thế hệ, 1.3% những đứa trẻ sinh ra trong tộc họ Sykes thực ra có một người cha thuộc dòng họ khác! Tiện đây, cũng xin bật mí một thông báo rất gần đây về kết quả nghiên cứu đầu tiên do nhà tâm lý học Steven W. Gangestad và nhà sinh vật học Christine Garver, thuộc đại học New Mexico (Mỹ), tiến hành với các khảo nghiệm khá công phu (đăng trên Proceedings of Royal Society, 2002): ở một thời điểm nhất định của chu kỳ kinh nguyệt, ở người vợ có sự ham muốn gấp đôi với những người đàn ông khác, họ “không còn cảm thấy bị thu hút bởi đối tác quen thuộc...”. Kết luận sơ bộ này cũng ứng hợp với ghi nhận ở một số nghiên cứu có từ trước đây: - đầu tiên là ý kiến của một số nhà xã hội học cho rằng “vào thời kỳ thụ thai, phụ nữ có xu hướng để hở hang da thịt hơn thường lệ. Tóm lại, ăn bận “sexy” hơn - Hai là một công trình của nhà nhân loại học Mỹ Carol Wortman, khảo sát các phụ nữ thuộc bộ lạc du mục bochiman (bushmen) ở sa mạc Kalahari, tại Nam Phi châu: dục tình của họ gia tăng vào thời kỳ rụng trứng và cả chồng lẫn tình nhân đều... hưởng lợi!

Khép lại câu chuyện “nhạy cảm” hôm nay, thay lời kết luận xin có điều lưu ý, và cả cảnh báo: từ chuyện loài vật đến chuyện con người, ta có thể tìm thấy lắm điều tương đồng, gần gũi nhưng sự ngoại suy cần có giới hạn, vì nên nhớ con người là sinh vật văn minh. Trên phương diện sinh hoạt tình dục và hôn phối, chế độ một vợ một chồng và ứng xử tình dục chung thủy là sự lựa chọn tối ưu thể hiện thành tựu lớn lao và căn bản của loài người trên con đường tiến hóa với tư cách một sinh vật. Và đó cũng là yêu cầu sống còn của nó hiện nay, đứng trước nguy cơ hủy diệt mà hiểm họa của căn bệnh thế kỷ AIDS đang đe dọa.

Cười và sức khoẻ

Năm 1979 nhà báo Norman Cousins cho ra đời quyển La volonté de guérir (Ý chí chữa lành bệnh) . Ông bị đau cột sống (spondylarthrite ankylosante) đã kêu gọi sự chú ý của thế giới y học bằng cách nói lên phương cách ông tự chữa trị để thoát khỏi chứng bệnh ghê sợ của mình: xem phim cười của Marx Brothers (1)

Tại sao cười lại trị được bệnh?

1) Cười là môn thể thao nội tạng:
Tim đập nhanh như khi ta chạy 100 mét, phổi thải ra một khối lớn không khí. Máu di chuyển nhanh làm thải đi nhanh các chất độc từ lâu tích trữ. Sự tiêu hóa hoạt động nhờ co thắt vùng bụng. Căng thẳng thần kinh giảm. Cơ thể được thư giãn là nhờ các endorphine, một loại morphine thiên nhiên được tiết ra bởi não khi chúng ta cười thỏa thích. Sau đó nhịp tim chậm lại, mạch máu dãn nở và huyết áp giảm. Nói tóm lại cười làm giảm huyết áp cao, lảm tiêu hóa tốt và cho ta giấc ngủ ngon.

2) Giải thích khoa học

Cười có hiệu quả tốt cho hệ thống miễn dịch. Người ta đã biết từ lâu lợi ích của cười trong quá trình chữa lành bệnh. Ngày nay có mấy chục nghiên cứu về những trạng thái của nụ cười và tâm trạng vui tươi và gần đây nhất người ta vừa mới khám phá tác dụng của cười trên nhiều loại tế bào của hệ thống miễn dịch.

Mục tiêu của nghiên cứu này là đo hiệu quả của một cái cười thỏa thích trên nhiều tham số neuroimmunologiques khác nhau như trị số và sinh hoạt của các thực bào thiên nhiên, các bạch huyết cầu (leucocyte), tế bào T. B. l'interféron gamma, bạch huyêét bào (lymphocytes). bạch cầu hạt (granulocytes) và các bạch cầu đơn (monocytes), nghĩa là tất cả các tế bào dùng đễ chiến đấu với các bệnh tật.
Thí nghiệm:

Người ta cho 52 người gồm các sinh viên y khoa và nhũng người tình nguyện xem video phim hài hước trong một giờ. Họ được rút máu để phân tích trước khi xem phim 10 phút, sau khi xem một ít, sau khi xem phim 30 phút và sau 12 giờ.

Kết quả có vẻ khả quan: các thực bào dồn tới nhiều hơn, sự gia tăng đáng kể các immunoglobulines G, A và M, các tế bào T và hầu hết các tham số đem phân tích khác.

Kết luận: Cười là một phương pháp để kích thích hệ thống miễn dịch hoạt động tăng

Các hội cười của Dr Madan Kataria

Từ năm 1995 đã có những hội cười do Dr Madan Kataria thiết lập , dùng cái cười để bồi bổ cho sức khoẻ và hòa điệu trong đời sống. Ông dạy phép cười yoga đệ chỉ cách cười mà không cần lý do, chỉ cần nhìn nhau rối làm trò cho nhau để cười và lảm những bài tập để kích thích khả năng cười, thư giãn, tự giải phóng những ức chế và phát triển thái độ hăng hái đối với cuộc đời. Từ ngày đó đến nay, có hơn 1000 hội cười rải rác khắp nơi trên thế giới. Chính những người giảng dạy kỹ thuất cười cũng đã mở ra các hội cười miễn phí.

Nào chúng ta hãy cười!

Buổi học được diẽn ra từng nhóm, lý tưởng nhất là buổi sáng.

Trước tiên là học kỹ thuật cười, học cách giãn ra và thở theo yoga.

Đầu tiên là bài học khởi động, làm thành vòng tròn, vừa vỗ tay vừa la ô ô ô rồi a a a liên tục

Rồi tập thở thật sâu để thư giãn cơ thể và trí óc và đem nhiều oxy cho các cơ quan.

Các bài học cười là những trò chơi để gây cười và làm cho lây lan khắp mọi người. Thí dụ một người ném trái banh tưởng tượng lên trời cho bạn mình, người này sẽ cười ngay tức thì sau khi bạn mình chụp trái banh tưởng tượng đó. Cái cười lây nhiễm, vậy là mọi người sẽ cùng cười vang lên, ngon lành.

Một bài học khác là le lưỡi, mắt mở, rối gầm lên như con sư tử để cười bằng bụng.

Áp dụng để chữa trị

Trị bệnh bằng cười là phương pháp tự chữa bệnh lấy, bất kể già trẻ, hay tình trạng sức khoẻ. Từ hai chục năm gần đây các chương trình chữa trị bằng cách cười đã được đưa vào các bệnh viện, ngoài ra cũng giúp các trẻ em và những gia đình vượt qua chứng trầm cảm do bệnh hoạn. Nhiều chương trình cũng hướng tới những người chuyên trách về sức khoẻ để họ có thể đương đầu với các đòi hỏi nghề nghiệp.

Cười và tính khôi hài là cách chữa trị thần kinh (psychothérapie) để trị các rối loạn như stress chẳng hạn.

Theo Dr John Morreall, người đã tổ chức nhiều séminaire nói về quyền lực của sự hài hước trong lúc làm việc. Một tinh thần vui vẻ làm tốt sự quan hệ đồng nghiệp và làm giảm nguy cơ kiệt sức vì nghể nghiệp.

Chú ý:

Trước khi tham gia hội cười, các bạn phải hỏi ý kiến bác sĩ nếu các bạn nằm trong những trường hợp sau đây: các cơ của cơ quan bị giãn, thí dụ như bàng quang, bệnh bệnh tăng nhãn áp (glaucome), thoát vị bẹn, huyết áp cao, trĩ hoạt tính, rối loạn tim, sau khi giải phẫu miền bụng và trong khi mang thai không bình thường (dễ bị sẩy)

Thứ Sáu, 25 tháng 5, 2012

Điều gì xảy ra trong não khi ngồi thiền?

Nghiên cứu não bộ thầy tu đang ngồi thiền, các nhà khoa học Mỹ phát hiện thùy thái dương hoạt động mạnh hơn, còn thùy đỉnh lại hầu như không hoạt động so với bình thường. Điều này dẫn đến sự xóa bỏ cảm nhận về không gian và thời gian, giúp người hành thiền rời bỏ bản ngã.
Bác sĩ Andrew Newberg và cộng sự tại Đại học Pennsylvania (Mỹ) đã dùng kỹ thuật chụp cắt lớp phóng xạ positron (PET:positron emission tomography) để nghiên cứu các phản ứng trong não bộ của các nhà sư Tây Tạng khi họ ngồi thiền khoảng một tiếng đồng hồ.
Newberg nói: "Tôi cho rằng, chúng ta đang ở giai đoạn thuận lợi nhất để khám phá tôn giáo và các vấn đề tâm linh theo những cách mà trước đó người ta không tưởng tượng ra được". Nói như vậy, Newberg muốn đề cao kỹ thuật chụp cắt lớp PET - một kỹ thuật đã giúp việc nghiên cứu não bộ tiến những bước đáng kể trong thời gian gần đây.
Mất cảm nhận về không gian và thời gian
Khi các nhà sư đã chìm sâu vào trạng thái thiền, họ được tiêm vào mạch máu một lượng nhỏ chất phóng xạ màu. Các hạt positron màu này giúp người ta quan sát sự di chuyển của máu lên những khu vực nhất định trong não nhờ một máy đếm phóng xạ; qua đó, đánh giá được sự hoạt động mạnh - yếu của những khu vực này.

Sau đó, Newberg đã so sánh các bức ảnh chụp não bộ nhà sư khi ngồi thiền với các bức chụp lúc bình thường. Ông rút ra kết luận: Khi thiền, phần não bộ ở thùy thái dương nhà sư hoạt động mạnh hơn. (Vùng não này luôn hoạt động mạnh khi người ta tập trung sự chú ý vào một việc gì đó).
Ngoài ra, Newberg còn quan sát được sự giảm hoạt động ở vùng thùy đỉnh sau não. Thông thường, thùy này chịu trách nhiệm về việc định hướng trong không gian. Có lẽ đây là bằng chứng củng cố giả thuyết cho rằng, hành thiền giúp người ta xa rời cảm nhận về không gian.
Theo Newberg, khi thiền, người ta thường xuyên cảm thấy không có không gian và thời gian. Điều này cũng khá trùng lặp với những lời kể thường nghe về các trải nghiệm tâm linh.
Cũng theo Newberg, khi người ta đã có trải nghiệm về những cảnh giới lạ, họ có thể hiểu được thực tại rộng lớn hơn và rõ ràng hơn người khác. Ông nói: "Khi những cảm nhận của họ về về thế giới tâm linh đã trở nên mạnh mẽ và rõ ràng, thì thậm chí họ còn nhận biết thế giới này chính xác hơn tư duy khoa học của chúng ta".

Thần dược Đông Trùng Hạ Thảo


Đông trùng hạ thảo là gì?

Đó là một dạng cộng sinh giữa một loài nấm túi có tên khoa học là Cordyceps sinensis (Berk.) Sacc. với sâu non (ấu trùng) của một loài côn trùng thuộc chi Hepialus. Thường gặp nhất là sâu non của loài Hepialus armoricanus. Ngoài ra còn 40 loài khác thuộc chi Hepialus cũng có thể bị Cordyceps sinensis ký sinh. Vào mùa đông nấm bắt đầu ký sinh vào sâu non và làm chết sâu non vì ăn hết chất dinh dưỡng của chúng. Mùa hè ấm áp nấm bắt đầu mọc ra khỏi sâu như một ngọn cỏ và vươn lên khỏi mặt đất. Đầu của ngọn nấm là một thể đệm (stroma) hình trụ thuôn nhọn. Chỉ phát hiện được ĐTHT vào mùa hè ở một số cao nguyên cao hơn mặt biển từ 3500 đến 5000m. Đó là các vùng Tây Tạng, Tứ Xuyên, Thanh Hi, Cam Túc, Vân Nam...
Thành phần
Các phân tích hoá học cho thấy trong sinh khối (biomass) của ĐTHT có 17 acid amin khác nhau, có D-mannitol, có lipid, có nhiều nguyên tố vi lượng (Al, Si, K, Na...). Quan trọng hơn là trong sinh khối ĐTHT có nhiều chất hoạt động sinh học mà các nhà khoa học đang phát hiện dần dần ra nhờ các tiến bộ của ngành hoá học các hợp chất tự nhiên. Nhiều hoạt chất này có giá trị dược liệu thần kỳ. Trong đó phi kể đến cordiceptic acid, cordycepin, adenosine, hydroxyethyl-adenosine. Đáng chú ý hơn c là nhóm hoạt chất HEAA ( Hydroxy-Ethyl-Adenosine- Analogs). ĐTHT còn có chứa nhiều loại vitamin (trong 100g ĐTHT có 0,12 g vitamin B12; 29,19 mg vitamin A; 116,03 mg vitamin C, ngoài ra còn có vitamin B2 (riboflavin), vitamin E, vitamin K...)
Chi nấm Cordyceps có tới 350 loài khác nhau, chỉ riêng ở Trung Quốc đã tìm thấy 60 loài. Tuy nhiên cho đến nay người ta mới chỉ nghiên cứu nhiều nhất được về 2 loài Cordyceps sinensis (Berk.) Sacc. và Cordyceps militaris (L. ex Fr.) Link. Loài thứ hai được gọi là Nhộng trùng thảo
Sưu tập giống của chúng tôi hiện đã có tới 3000 chủng, nhưng mỗi lần có thêm được một chủng vi sinh vật mới là một lần chúng tôi thêm một hy vọng có thể đóng góp cho đất nước một sản phẩm mới.
Ai sang Trung Quốc cũng muốn mua làm quà một ít Đông trùng hạ thảo vì danh tiếng của loại dược liệu này quá lớn và đem tặng ai cũng quý.
Tại một Viện nghiên cứu Công nghệ sinh học (CNSH) Trung Quốc đã giới thiệu cho Đoàn chúng tôi việc phân lập thành công nấm Cordyceps sinensis trong Đông trùng hạ thảo và chứng minh được mọi dược liệu đều nằm trong phần hạ thảo chứ không hề có gì trong phần Đông trùng. Vậy là họ đã có trong tay một của quý. Những lần sang Trung Quốc gần đây tôi đã thấy những viên nang Đông trùng hạ thảo (ĐTHT) trong các vỉ thuốc rất đẹp và với giá rẻ hơn rất nhiều so với mẫu Đông trùng hạ thảo tự nhiên mà chúng ta vẫn thấy bán ở phố Lãn Ông.
Năm qua tôi được tham dự một Hội nghị quốc tế về Công nghệ sinh học họp ở Thái Lan và tôi rất ngạc nhiên khi thấy không chỉ có các báo cáo rất sâu về ĐTHT của các nhà khoa học Trung Quốc mà còn có các báo cáo sâu hơn nữa về ĐTHT của các nhà khoa học Mỹ.
Đông trùng hạ thảo là một thần dược
Vì sao chúng được coi như một trong những loại thần dược nổi tiếng khắp thế giới?.
Sách y học cổ truyền của Trung Quốc từ xa xưa đã coi ĐTHT là vị thuốc có tác dụng “Bổ phế ích can, bổ tinh điền tuỷ, chỉ huyết hoá đàm” , “Bổ phế ích thận, hộ dưỡng tạng phủ”, “Tư âm tráng dương, khư bệnh kiện thân”; là loại thuốc “Tư bổ dược thiện”, có thể chữa được “Bách hư bách tổn”. Mặt khác các nghiên cứu cổ truyền cũng như các thực nghiệm hiện đại đều xác định ĐTHT hầu như không có tác dụng phụ đối với cơ thể người và động vật. Liều uống ĐTHT an toàn đối với chuột thí nghiệm là trên 45g/1kg thể trọng.

Cordyceps militaris (Nhộng trùng thảo)


Cordyceps capitata

Cordyceps ditmarii

Cordyceps gracilis Cordyceps sphecocephala

Ứng dụng của Đông trùng dạ thảo:
Các nghiên cứu y học và dược học đã chứng minh được các tác dụng sau đây của ĐTHT:
1-Chống lại tác dụng xấu của các tân dược đối với thận, thí dụ đối với độc tính của Cephalosporin A.
2-Bảo vệ thận trong trường hợp gặp tổn thương do thiếu máu.
3-Chống lại sự suy thoái của thận, xúc tiến việc tái sinh và phục hồi các tế bào tiểu quản ở thận
4-Làm hạ huyết áp ở người cao huyết áp
5-Chống lại hiện tượng thiếu máu ở cơ tim
6- Giữ ổn định nhịp đập của tim
7-Tăng cường tính miễn dịch không đặc hiệu
8- Điều tiết tính miễn dịch đặc hiệu
9-Tăng cường năng lực thực bào của các tế bào miễn dịch
10-Tăng cường tác dụng của nội tiết tố tuyến thượng thận và làm trương nở các nhánh khí quản.
11-Tăng cường dịch tiết trong khí quản và trừ đờm
12-Làm chậm quá trình lão hoá của cơ thể
13- Hạn chế bệnh tật của tuổi già
14-Nâng cao năng lực chống ung thư của cơ thể
15- Chống lại tình trạng thiếu oxygen của cơ thể
16- Tăng cường tác dụng lưu thông máu trong cơ thể
17- hạn chế tác hại của tia gamma đối với cơ thể
18- Tăng cường tác dụng an thần, trấn tĩnh thần kinh
19-Tăng cường việc điều tiết nồng độ đường trong máu
20-Làm giảm cholesterol trong máu và chống xơ vữa động mạch.
21-Xúc tiến tác dụng của các nội tiết tố (hormone).
22- Tăng cường chức năng tiêu hoá và hấp thu các chất dinh dưỡng
23- Ức chế vi sinh vật có hại, kể cả vi khuẩn lao
24- Kháng viêm và tiêu viêm
25- Có tác dụng cường dương và chống liệt dương
Vì ĐTHT thu nhặt từ thiên nhiên chỉ có hạn, môi trường tự nhiên thích hợp cho sự phát triển của ĐTHT lại toàn là các vùng núi non và cao nguyên hiểm trở, xa xôi, cho nên việc chứng minh các hoạt chất đều tập trung trong nấm Cordyceps sinensis và việc thành công trong việc nuôi cấy ở quy mô công nghiệp (với nồi lên men) hoặc ở quy mô thủ công nghiệp (nuôi trên môi trường xốp trong các lọ miệng rộng có nút bông)